Viên Linh
Tạp chí Hiện Ðại do Nguyên Sa (1932-18.4.1998) đứng tên chủ trương biên tập số 1 ra mắt tháng 4, 1960, tòa soạn lúc đầu đặt tại nhà in Nam Sơn, số 36 Nguyễn An Ninh, Sài Gòn.
Tờ báo ra đúng lúc vì tạp chí Sáng Tạo ngưng xuất bản từ tháng 9, 1959, thủ đô miền Nam đang thiếu vắng một diễn đàn văn học thích hợp với cuộc sống càng ngày càng có nhiều giao tiếp ảnh hưởng từ các trào lưu Âu Mỹ nhất là đối với các nhà văn trẻ. Thời Tiền Chiến 1932-1945, văn nghệ Việt Nam chịu ảnh hưởng Âu Tây, nhất là thời trang Paris, thì từ chia cắt 1954 tới 1960, văn nghệ miền Nam mở ra thế giới, nhất là Anh Mỹ, với ảnh hưởng nhạc Rock nhạc Jazz phục sức Hyppy và tóc tai Beattles, văn chương dịch thuật tương quan nội ngoại chưa từng rầm rộ đến thế. Hàng năm các tạp chí miền Nam không bỏ qua việc tường thuật sinh hoạt và kết quả các giải văn học từ Pháp, lớn hay nhỏ, Goncourt, Renaudot, Hàn Lâm Viện, Fémina, Médicis và Nobel văn chương từ Thụy Ðiển, giải Sách Quốc Gia từ Mỹ. Các nhà văn miền Nam lần lượt lên đường phó hội Văn Bút Quốc Tế như Tchya Ðái Ðức Tuấn tác giả Thần Hổ cùng Phạm Trọng Nhân đi Tokyo, Vũ Hoàng Chương đi Âu Châu, Nguyên Sa Văn Quang đi Hán Thành,…

Hình một vài bìa báo Hiện Ðại do Nguyên Sa chủ trương tại Sài Gòn, 1960. (Hình: Viên Linh)
Cho nên các tạp chí văn học miền Nam đã đương nhiên và trực tiếp đóng góp xây dựng một nền văn học quốc gia, nâng cao giá trị các tác phẩm, nâng cao đời sống những người cầm bút. Chỉ bằng sự có mặt của mình trong tập thể, các tạp chí đã có tiếng nói văn hóa riêng, trước cả sự có mặt của các tác phẩm của từng tác giả. Trước những sinh hoạt như thế không cần nói người quan sát cũng sẽ hiểu rằng đối tượng của sinh hoạt ấy là một khối người, một khối độc giả vô cùng lớn lao, không phải chỉ trong các tiệm sách, không phải chỉ trước những sạp báo ở góc các ngã ba ngã tư thành phố, các thành phố, mà còn trong các học đường, từ trung học tới các đại học, xin đừng quên rằng thời Tiền Chiến sinh viên Sài Gòn phải du học ở Hà Nội, mà chỉ nửa thế kỷ sau, khoảng 1960 trở đi, các thành phố lớn ở miền Nam đa số đã có đại học riêng của thành phố mình, như ở Ðà Lạt, Cần Thơ, Vĩnh Long, Tây Ninh, và hình như Qui Nhơn cũng đã đặt xong nền móng.
Ðược vài năm, tiếc thay, tình hình chính trị ngày càng co thắt lại, một số luật báo chí khe khắt ra đời, sinh hoạt sách vở ngày một khó khăn. Tờ Văn Hóa Ngày Nay của Nhất Linh xuất bản năm 1958 đóng cửa sau số 11 là một sự kiện nặng nề: tại sao tờ báo của một nhà văn tên tuổi như thế lại phải ngưng xuất bản? Tờ báo thừa kế là tờ Tân Phong của Trương Bảo Sơn, Nguyễn Thị Vinh, được gọi là báo “Tự lực văn đoàn nối dài,” dĩ nhiên không thể khá hơn. Tờ Bách Khoa xuất bản từ 1957 song như cái tên, không chuyên về văn học, các biên tập viên phụ trách phần văn nghệ của báo này cũng chỉ vừa xuất hiện với tờ báo, chưa gây nổi một phong trào, một làn sóng mới về sáng tác tuy những bài phỏng vấn các tác giả của Nguiễn Ngu Í rất phong phú, đa diện. Miền Nam lúc ấy đang chờ đợi một diễn đàn tiến bộ hơn là những tạp chí đang hiện diện, hoặc quá nghiêng về Phật Giáo như Từ Quang tạp chí của ông Mai Thọ Truyền, hoặc quá “nặng” Trách Nhiệm như tờ tạp chí Công Giáo của ông Thanh Lãng, cả hai tờ cùng được phép xuất bản trong năm 1960. Tờ nữa cũng từ 1960 là Văn Hữu của ông Ðinh Sinh Pài, một cái tên không thuần Việt Nam, mặc dù trực thuộc Văn Hóa Vụ và do Nguyễn Mạnh Côn và Võ Phiến trông coi. * (*Các báo xuất bản lần đầu trong năm có: Trách Nhiệm, Công Giáo, 2.1960. Từ Quang, Phật Giáo, 4.1960. Văn Hữu (Văn Hóa Vụ), 4.1960. Hiện Ðại (Nguyên Sa Trần Bích Lan), 4.1960. Thế Kỷ 20 (Nguyễn Cao Hách-Nguyễn Khắc Hoạch), 7.1960. Sáng Tạo (Mai Thảo Nguyễn Ðăng Quý), tục bản, 7.1960. Tạp chí Văn Nghệ của Lý Hoàng Phong không được kể vào bài này vì số 1 ra đời chậm hai tháng: 2.1961).
Chủ đề của Hiện Ðại số ra mắt, “Truy niệm những nhà văn nhà thơ đã từ trần,” với đoạn văn mở đầu “Những người không chết” gây được cảm tình với giới đọc và viết. Hành động truy niệm của một diễn đàn mới như thế đáng được ghi nhận tuy rằng những người được truy niệm không phải là những đại diện điển hình cho quảng đại quần chúng, mà rời rạc, tùy tiện: Hoàng Ðạo, Albert Camus, Vũ Trọng Phụng, Thạch Lam, Thâm Tâm, và Phan Huy Vịnh.
Nhưng sự mong đợi các độc giả yêu văn học đặt nơi Hiện Ðại đã sớm nguội lạnh: tờ báo không có sinh khí. Ngay trang đầu của số 1, thay vì viết những lời phi lộ thông thường, Nguyên Sa đã viết bài “Mở Cửa” cũng có nghĩa là phi lộ, nhưng rất khác thường như sau:
“Văn nghệ trong những ngày tháng vừa qua nằm trong một tình trọng buồn. Cuộc sinh hoạt ấy như chợt chìm xuống một vũng sâu có bóng tối dày và nặng. Sự kiện văn nghệ lớn rộng, sống động hơn cả cuộc sống ăn-ngủ-thở biến đi, tan đi. Như biển chợt cạn. Như núi ngả mình nằm xuống đồng ruộng bùn lầy. Hoa lá xanh tốt tàn héo, chim vụt bay.
“Nỗi buồn ấy hiển hiện trước mắt. ‘Tờ báo của cuộc đời văn nghệ 57, 58, 59 đi mất. Những người văn nghệ còn ở đấy nhưng buồn cũng đã ở đấy.’ Ở trên mắt trên môi, trên đường nét khuôn mặt, trong cử động chân tay. Ở giữa bọt trắng cốc bia, trong những cuộc vui ban đêm, trong những công việc mưu sinh tạp nhạp. Người ngồi trước cốc bia, người chạy trong cuộc vui ban đêm, người lao mình vào cuộc mưu sinh đều buồn. Bọt bia, đàn đêm, việc mưu sinh thắt lại thành một vòng vây trùng điệp, tụ lại thành một không khí chết chóc, dựng lên thành một trường thành im lặng sừng sững, nặng những buồn chán, chua xót.”

Bia mộ nhà thơ Nguyên Sa (1932-1998) tại nghĩa trang đường Bolsa, Westminster, Cali. (Hình: Ngọc Hoài Phương)
Chắc chắn trang báo trên (trang 1 tờ Hiện Ðại) và đoạn văn trên không phải là một tuyên ngôn như bài phi lộ thường thấy, cũng không phải lời chào mừng bạn đọc trong cuộc trùng phùng đầu tiên của tờ báo mới xuất hiện: mà đó là một bài điếu văn, Nguyên Sa dùng trang báo đó không phải để nói chuyện với độc giả của tờ báo, mà để khóc một tờ báo mới ngưng xuất bản; cả đoạn văn trên để khóc tờ Sáng Tạo: “Tờ báo của cuộc đời văn nghệ 57, 58, 59 đi mất.” Thật chưa từng thấy một sự việc nào như thế.
Tôi có thói quen lưu giữ “lời phi lộ” của các tờ báo số 1. Bất cứ số 1 nào của một diễn đàn vừa xuất hiện cũng có lời chào mừng bạn đọc, thư chủ nhiệm chủ bút, lời hứa hay quan điểm của ban chủ trương, trang báo đầu tiên ấy là bản tuyên ngôn của một cơ quan, một nhóm người, là tinh thần của một diễn đàn, một tập thể. Trang báo ấy có khi quan trọng hơn cái bìa. Tờ báo dù có chết đi người ta vẫn có thể nhờ trang đầu tiên của số báo đầu tiên mà biết được tờ báo ấy xuất hiện lúc nào, ở đâu, có mục đích gì, có tham vọng nào, do ai đứng ra gánh vác trách nhiệm, và rồi ra có thay đổi hay không và có phản bội lại hay không những phát biểu khi ra mắt.
Bài phi lộ của Nguyên Sa gồm đầy đủ những gì phản lại thơ Nguyên Sa. Nếu người đọc hân hoan yêu đời khi đọc “Paris Có Gì Lạ Không Em” thì ngược lại, thấy âm u buồn nản khi đọc bài “Mở Cửa.” Ông bị ám ảnh bởi sự vắng mặt của tờ báo bạn [có lẽ ông tưởng là báo của mình – vì ông có bài ngay từ số 1, 2 và thường xuyên cho tới khi tờ báo ngưng, số 31]. Nguyên Sa sẽ bẽ bàng hơn nữa khi chỉ ba tháng sau, tờ Sáng Tạo tục bản rầm rộ, mở cuộc hội thảo bàn tròn 8 người – chỉ riêng có 8 người của Bộ Biên Tập lần đầu tiên công bố tên tuổi, trong đó không có Nguyên Sa. Ngạc nhiên hơn nữa bài “Mở Cửa” dài đến 6 trang, sau trang 1 in lại ở trên, liên tiếp 4 trang sau Nguyên Sa bênh vực từng người trong nhóm Sáng Tạo, đại ý họ im lặng nhưng họ vẫn hoàn thành các tác phẩm, chứ không phải họ đang “ăn chơi trác táng:” Duy Thanh đang làm gì, Doãn Quốc Sỹ đang làm gì, và tới trang thứ 5, Nguyên Sa mới nói rằng không khí văn nghệ đang buồn chán vì sự vắng bóng của Sáng Tạo, và: “Vì thế, Hiện Ðại mở cửa.” Tức là Hiện Ðại ra đời để văn nghệ hết buồn chán vì sự vắng bóng của một tờ báo khác. Chắc Nguyên Sa không định viết như thế, ông làm chủ thơ của mình song không làm chủ văn mình, nhất là văn làm báo. Không ai ngạc nhiên khi Hiện Ðại từ số 4 (tháng 7, 1960 trở đi) không bao giờ còn nhắc đến Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền hay Sáng Tạo nữa. Nhưng cả hai tờ tạp chí ấy đều đã đóng cửa trước số 10, Sáng Tạo tối hẳn từ số 7, Hiện Ðại trở thành quá khứ từ sau số 9.
Tôi thường cười khi nghĩ tới những ngày gặp Nguyên Sa trên căn gác gỗ của tòa soạn tạp chí Trình Bày của Thế Nguyên. Sau khi Trình Bày xuất bản tập truyện ngắn “Một Chỗ Nào Khác” của tôi (1967), tôi thường ghé tờ báo ở đường Lý Thái Tổ, nơi ông chủ nhiệm có vóc dáng đặc Bắc Kỳ lại có máu đen đỏ, bắt đầu ngay từ khoảng gần trưa. Vào văn phòng đã nghe tiếng trò chuyện, hỏi đáp vọng từ trên gác qua khung cửa cầu thang gỗ vọng xuống, khách bút mực tưởng các văn hữu đang thảo luận văn chương, nghe kỹ mới thấy những tây đầm bồi cẩu sất, những ca-rô đen đỏ suốt thượng suốt hạ. Sòng bài luôn luôn đông, năm chứ không phải bốn tay chơi, thường khi còn có chầu rìa. Ðang chơi bỗng Nguyên Sa cuốn xấp tiền trên chiếu lại, miệng nói, “Các bạn thấy nhé, tiền tôi để vào cái mũ này nhé, tôi không có bỏ túi nhé. Một giờ sau tôi quay lại nhé.” Vừa nói anh vừa chụp cái mũ vải lên đầu, đứng lên, đi xuống thang. Không ai nói gì hết, tôi đến lần đầu thì không hiểu, cũng không muốn hỏi, để chờ xem sao đã. Nghe tiếng chiếc miniVespa nổ máy, chạy đi. Không nhớ là ai đã giải thích cho tôi hiểu, giản dị và bình thường thôi. Ông ấy đúng giờ lắm, đang chơi thua được không cần biết, 12 giờ là cất tiền vào trong cái mũ, chụp cái mũ lên đầu, về nhà ăn trưa với vợ, không sai một phút. Ổng sẽ trở lại đúng giờ. Và quả thế, sòng bài vẫn diễn ra thảnh thơi đều đặn như thế. Ðó là sòng xì-phé thân hữu ngoại hạng mà tôi đã đóng góp phần mình. Nguyên Sa lên cầu thang trở lại khoảng hơn một tiếng sau, quãng đường giữa tòa soạn Trình Bày đường Lý Thái Tổ và trường Văn Học đường Phan Thanh Giản cách nhau chỉ khoảng hai cây số. Vẫn áo sơ-mi luôn luôn bỏ ngoài quần, đi dép, Nguyên Sa ngồi xuống chỗ cũ của mình, bóp cái mũ màu dưa cải bằng hai tay, đặt ngửa xuống chiếu. Tiền đâu vẫn y nguyên đấy nhé. Mình chơi một tiếng nữa thôi nhé. Mớ tiền được lấy ra đặt xuống chiếu, canh bài lại tiếp tục. Nhà thơ của các tình nhân là người cả tin, Nguyên Sa tin người và nghĩ rằng người cũng tin mình. Năm 1983 ông viết bài “Ðọc Thủy Mộ Quan” trên tạp chí Ðời, sau đăng lại trên Người Việt và Khởi Hành năm 2002: “Có một thế hệ những thi sĩ của thập niên sáu mươi đã mang lại cho chúng ta những bài thơ sáu tám chói sáng. Tôi nhớ rõ lục bát Cung Trầm Tưởng không phải là lục bát Bùi Giáng, lục bát Nguyễn Ðức Sơn là lục bát Nguyễn Ðức Sơn và lục bát Viên Linh là lục bát Viên Linh. Võ công của những người làm thơ này không thể giống nhau được. Tôi có quen biết những thi sĩ danh tiếng này nhưng không thân thiết với một người nào. Tôi vẫn nghĩ xa cách đến lãnh đạm thì hơn là gần gũi trong phe nhóm. Những trái núi cô đơn hơn là những đụn cát xếp hàng.” Những gì ông viết trong bài “Mở Cửa” trên Hiện Ðại hẳn cũng ở trong dòng suy nghĩ tương tự, song một bên là tờ báo và một nhóm người làm tờ báo đó, còn mặt kia là từng người thơ riêng biệt, những trái núi cô đơn khác hẳn.
Bài Hát Cửu Long
Nguyên Sa
Có gì đâu em: có một đoàn người
Có một đoàn người góp sức góp vai
Cùng rủ nhau về góp một thành hai
Những bước chân góp đi làm đến!
Họ không dại khờ: góp trăng làm nến!
Chỉ những miệng cười góp lạ thành quen
Góp những giọng hò làm trống ngũ liên
Góp những bàn tay dựng thành đại hội
Cánh tay chắp cánh tay cho dài thêm nửa với
Gạo quanh nồi góp lại bữa cơm chung
Họ cùng đi cùng góp tháng, góp năm…
Ðể sảng ngày mai làm sông làm biển.
Có gì đâu em, có một đoàn người
Bên bờ Cửu Long gõ nhịp
Cả dòng sông gõ nhịp vịn bờ sông
Họ rủ nhau về sương gió vui chung
Dù có phút nước mắt chạy quanh
Hay miệng cười hớn hở.
(Thơ Nguyên Sa, tập một, Ðời xuất bản)
Tạp chí Hiện Ðại rời trụ sở tới cao ốc Mai Loan, 16 Trương Công Ðịnh Sài Gòn sau khi tòa soạn có thêm Phạm Thái Thủy trông coi trị sự và Thanh Nam trông coi bài vở. Tờ báo đã thực hiện được hai chủ đề xuất sắc, Sài Gòn Ban Ðêm và Những Khuôn Mặt Ðàn Bà Trong Văn Chương. Số 3 tháng 6, 1960, có những bài “Lolila, Iseult thời Bác Sĩ Kinsley” của Mặc Ðỗ, “Nhan sắc Oanh Oanh” của Lý Quốc Sỉnh, “Mai, một nhân vật khả ái của Khái Hưng” của Nguyễn Duy Diễn, “Anna Karénine kẻ tình nhân cô độc” của Sĩ Mộc, “Emma Bovary” của Trịnh Viết Thành,… Số 4 tháng 7, 1960 chủ đề “Sài Gòn Ban Ðêm” có những bài “Quà Ðêm trên rạch Tàu Hủ” của Bình-nguyên Lộc, “Vũ Quán” của Hoàng Anh Tuấn, “Sầu Riêng” của Mặc Ðỗ, “Dưới Chân Saigon” của Nguyễn Duy Diễn, “Màu Sắc Saigon” của Tạ Tỵ và “Ðêm Dài Thành Phố Cũ” của Thanh Nam.



























































































