Nhớ chuyện Tô Vũ đọc thơ Bùi Giáng chăn dê


Viên Linh


Tuần trước trong bài “Nhớ chuyện Tô Vũ đọc thơ Ngô Chi Lan” người viết có nhắc đến “ông Nghiên Công [không phải Nghiêm, kỳ trước viết sai] đất Quảng Nam và thơ văn liên hệ tới loài dê… và chuyện chăn dê lùa bò của Bùi Giáng.” Nghiên Công là tác giả bài Hồ Phụ Tống Tô Võ (vợ hầu nhân tiễn Tô Vũ).




Bìa tạp chí Phổ Thông tháng 6 và 7, 1953 xuất bản tại Hà Nội,
ngoài có rao: Nỗi Lòng Tô Vũ của Bùi Giáng, trang 144.


Theo Tự Điển Thành Ngữ Điển Tích, mục Trịnh Lệ viết: Bên Trung Hoa có Tô Vũ lấy vượn-người thì bên ta có tích Trịnh Lệ lấy vợ đười ươi. Số là Trịnh Lệ đi dọ thám sâu vào động Lạc-Hướng châu Mân, bị thương nặng nhờ một con đười ươi cứu sống, rồi kết nghĩa vợ chồng được 12 năm… Sau lại phải xa nhau, ông Nghiên Công tỉnh Quảng Nam đặt ra bài để lời đười ươi tiễn Trịnh Lệ.” Bài thơ rất dài, chỉ xin trích một vài câu:


Lời sơn hải ai mô lỗi hẹn
Đoái má hồng mà thẹn với gương nga
Rượu một chung đưa giữa tiệc quan hà
Lòng cố quốc đã trông ra Nam phố.


Chàng từ thiếp ba lưu động khẩu
Thiếp đưa chàng thủy đáo nhân gian.


Chuyện chăn dê có thật, chuyện hầu nhân không rõ thực hư, song cái chính khi ta nhắc đến chuyện xưa là thơ văn quanh nó, như thơ của Ngô Chi Lan thế kỷ XV và thơ của Bùi Giáng hơn nửa thế kỷ nay. Những bài thơ trên bức tứ bình Nguyễn Dữ kể lại trong Truyền Kỳ Mạn Lục, qua bản dịch của Trúc Khê Ngô Văn Triện, xét ra là thơ văn của Nguyễn Dữ và Ngô Văn Triện nhiều hơn, người kể và dịch giả đã nhân chuyện người xưa mà trước tác ra thơ văn mình, còn không ai thấy bút tự của tác giả. Trong “Thi Văn Việt Nam” của Hoàng Xuân Hãn và Nghiêm Toản (bản đầu in tại Hà Nội 1951, sau in lại trong Tổng Tập, 1998), ông viết bốn bài Tứ Thời của Ngô Chi Lan in trong Văn Đàn Bảo Giám bằng chữ La Tinh không biết do ai dịch. Người viết bài này so sánh các nguồn tài liệu có trong tay, nghĩ rằng người dịch chính là người đã sao lục thơ văn cổ làm ra Văn Đàn Bảo Giám in năm 1926, đó là Trần Trung Viên. Ngay trên đầu sách, đề Trần Trung Viên sao lục, bên dưới còn tới 5 người khác làm các việc tiếp theo, đều là các danh gia, như Dương Bá Trạc, Tản Đà, Hư Chu, Nam Ký, Trần Tuấn Khải. Bộ sách dịch ra chữ quốc ngữ có non 10,000 bài, Trần Trung Viên sao lục và biên tập (như ông viết trong bài Tựa) xong năm 1926, nhưng lại không nói rõ ông làm công việc ấy mất bao nhiêu năm? Non 10,000 bài: không thể trong một vài năm được. Căn cứ một câu trong bài tựa, tôi nghĩ ông làm trong khoảng 10 năm. Nhưng chuyện đó hãy để lại, chúng ta còn chuyện thơ văn Ngô Chi Lan. Dưới đây là bốn bài Tứ Thời của bà in trong Văn Đàn Bảo Giám (Hoàng Xuân Hãn dùng lại bốn bài này trong sách Thi Văn Việt Nam của ông):


Ngô Chi Lan

Vịnh Xuân
Khí trời ấm áp đượm hơi dương
Thấp thoáng lâu đài vẻ ác vàng
Rèm liễu líu lo oanh hót gió
Giậu hoa phấp phới bướm châm hương.


Vịnh Hạ
Gió bay bông lựu đỏ tơi bời
Tựa gốc cây đu đứng nhởn chơi
Oanh nọ tiếc xuân còn vỗ cánh
Én kia nhớ cảnh cũng gào hơi.


Vịnh Thu
Gió vàng hiu hắt cảnh tiêu sơ
Lẻ tẻ bên trời bóng nhạn thưa
Giếng ngọc sen tàn bông hết thắm
Rừng phong lá rụng tiếng như mưa.


Vịnh Đông
Lò sưởi bên mình ngọn lửa hồng
Giải buồn chén rượu lúc sầu đông
Tuyết đưa hơi lạnh xông rèm cửa
Gió phẩy mưa băng giải mặt sông.


Hầu hết các sách, từ giáo khoa tới phê bình, đều ca ngợi cách dùng chữ của nữ sĩ, nhất là trong thời đại của bà, thế kỷ XV. Chữ thật mới, sắc xảo, mạnh và đầy âm vang. Bà dùng động từ nhiều hơn tĩnh từ, thơ thuật sự nhiều hơn là thơ tả cảnh, dù là cảnh bốn mùa.

Chỉ nhân chuyện Tô Vũ Chăn Dê mà nói tới Ngô Chi Lan, nay trở về với chuyện chăn dê của Bùi Giáng. Tôi có hỏi một người bạn Quảng Nam, nhà thơ Tường Phương Nguyễn Văn Chương, người củng tỉnh cùng từng dạy học các trường tư thục tại Sài gòn thời nửa sau thập niên 50 với Bùi Giáng, là Bùi Giáng có chăn dê thật không, anh bảo thật. Anh cho biết đó là khoảng 1951-1952. Tôi tin anh nhớ đúng, vì tôi có bài thơ Nỗi Lòng Tô Vũ của Bùi Giáng đăng trên tạp chí Phổ Thông do Mặc Đỗ trông coi phần văn học của Hội Cựu Sinh Viên Trường Luật Hà Nội số tháng 6-7, 1953. (Xem ảnh in kèm bài này).


Bùi Giáng

Nỗi Lòng Tô Vũ
Kỷ niệm một đoạn đời 15 năm chăn dê ở
núi đồi Trung-Việt: Nam, Ngãi, Bình, Phú.


Đồi tăm tắp chạy về ôm chân núi,
San sát đồi phủ phục quấn núi xanh.
Chiều xuống rồi, tơ lòng rộn ràng rối,
Trời, núi, đồi, ngây ngất nhảy dê nhanh.


Thôi từ nay, tha hồ em mặc sức
Nhảy múa tung sườn núi, vút giòng khe.
Thôi từ nay, tha hồ em mặc sức
Vang vang lên, đồi núi vọng “be be.”


Mấy bận nào, Trà-Linh, qua Đá Dừng, Hòn Dựng
Dùi-Chiêng về Phường-Rạch, ngược Khe-Rinh
Bao lần anh cùng chúng em lận đận
Bôn ba băng rú rậm, luống rùng mình.


Nhưng từ nay, Giáp-Nam anh đóng trại
Cố định rồi, em khỏi ngại ngày đêm
Dưới nắng mưa tha phương du mục mãi
Cay đắng từng, bùi ngọt đậm đà thêm.


Chiều hôm nay, bên chó vàng chễm chện
Anh lặng nghe em “bé hé” bên sườn đồi
Khoanh mấy vòng, tay anh thoăn thoắt bện
Vòng cho em từng chiếc sắp xong rồi.
Chiều vàng xuống, em đà no nê chắc?
Huýt tù và, em xúm xít lại, anh đeo cho
Mỗi chúng em, mỗi vòng mây, mỗi sắc,
Lại mau đây! To nhỏ cổ, anh so.
Này em Đen, chiếc vòng vàng tươi thắm
Này em Vàng, chiếc trắng há mù đâu.
Này em Trắng, chiếc hồng càng thắm lắm.
Này đây em Hoa Cà hỡi! chiếc nâu.
Ngẩng đầu lên, dê ơi, anh thong thả.
Đeo vòng vào, em nghển cổ cong xinh.
Ngẩng đầu lên, nhìn lòng anh vàng đá
Gửi gắm vào vòng mây nhuộm, trao duyên.


Ngẩng đầu lên, nhìn anh mờ mắt lệ…
Từ lần đầu vòng ngọc tuổi hai mươi
Trao người em trăm năm lời ước thệ,
Đây lần đầu cảm động nhất mà thôi.*
Vòng em xong, vòng anh dành riêng chiếc.
Dành riêng mình, dê hỡi, hiểu vì sao?
Vì lòng anh luống âm thầm tha thiết
Gắn đời mình trọn kiếp với Dê Sao.
Nhìn anh đây, các em Vàng, Đen, Trắng.
Tía Hoa Cà, lổ đổ, thấu lòng chưa?
Từ từ đưa chiếc vòng lên thủng thẳng,
Anh từ từ đưa xuống cổ đong đưa.
Và giờ đây một lời thề đã thốt,
Nghìn thu sau, đồi núi chứng cho ta.
Cao lời ca bê hê em cùng thốt
Hòa cùng lời anh nghẹn nỗi thiết tha.


Và giờ đây, hoàng hôn mờ trĩu nặng.
Bốn bề tràn lan bóng mịt mùng sa.
Xếp hàng ngay, nhanh lên, hàng ngũ thẳng
Rập ràng về “bế hế” rập ràng ca.
(1951-52)


Đây là một bài thơ tràn trề hạnh phúc của thi sĩ. Bài thơ có bốn chú thích, hai câu đầu nói về các miền núi Trung Việt, trong đó vùng Giáp Nam “tuy cũng thuộc miền đồi núi nhưng không hoang độc cách biệt như mấy vùng kể bên trên.” “Dê Hoa Cà đẹp vô cùng, có sắc lông lổ đổ tía hồng. Nhất là những buổi chiều dưới ánh nắng vàng xa xa hình bóng dê nổi bật trên sườn núi xanh lơ. Dê Hoa Cà còn gọi là Dê Sao (vì lổ đổ sáng như sao).” Chú thích cuối cùng của bài thơ, Bùi Giáng viết: “Ý nói cái lần đầu, thuở hai mươi tuổi, trao chiếc vòng ngọc cho vị hôn thê, mà không cảm động bằng lần đeo vòng cho dê vậy.” Viết về dê như tác giả Nỗi Lòng Tô Vũ, Bùi Giáng là vô địch, không một ai có thể làm một bài thơ nữa về dê như ông. Và đây cũng là bài thơ dài nhất của tác giả Mưa Nguồn, tập thơ đầu tay của ông in năm 1962, chín năm sau bài thơ náy. Còn Bùi Giáng chăn bò ra sao?


Anh lùa bò đi qua bờ ruộng
Ruộng bờ qua cây luống cày qua
Xuân xanh lắm lúc như là
Mười mê một tỉnh sơn hà gió trăng.
Anh lùa bò bờ quen bờ thuộc
Thuộc bờ quen luống chuốc ưu tư
Năm đi tháng lại bù trừ
Ngày đi vĩnh viễn anh ừ cho anh.

(Anh lùa bò, Mùa Thu Trong Thi Ca)


Nỗi Lòng Tô Vũ có phải là nỗi lòng Bùi Giáng chăng. Tô Vũ chăn dê 19 năm sống với người vợ hầu nhân, Bùi Giáng chăn dê 15 năm nghĩ gì về hầu nhân?


Đi về trong cõi người ta
Trước là thi sĩ sau là đười ươi.
(Bùi Giáng, trích bài Gấu ôi trong tập Mùa Thu Trong Thi Ca).


(Viết ngày ông Táo trước Tết Ất Mùi, 2015)

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT