Viên Linh
Có một đề tài tự nhiên không ai bảo ai, mà các nhà thơ không nhiều thì ít không làm cả bài thì cũng làm dăm câu về mình, đó là những bài thơ sinh nhật của các thi sĩ. Câu thơ thảng thốt bật lên 40 năm trước vào dịp thời đại đổi thay, là một câu của Vũ Hoàng Chương: Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ. – nằm trong một bản nhạc của Phạm Duy nhan đề “Quê hương ruồng bỏ? Giống nòi khinh?”

Tranh minh họa nền của họa sĩ Nguyễn Đồng, từ trái, Vũ Hoàng Chương, Phạm Duy, Lưu Trọng Lư. (Hình: Viên Linh cung cấp)
Vũ Hoàng Chương
Nhổ neo rồi thuyền ơi! Xin mặc sóng,
Xô về đông hay giạt tới phương đoài,
Xa mặt đất giữa vô cùng cao rộng,
Lòng cô đơn cay đắng họa dần vơi.
Lũ chúng ta, lạc loài, dăm bẩy đứa,
Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh,
Bể vô tận sá gì phương hướng nữa,
Thuyền ơi thuyền! Theo gió hãy lênh đênh.
Lũ chúng ta, đầu thai lầm thế kỷ,
Một đôi người u uất nỗi chơ vơ,
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị,
Thuyền ơi thuyền! Xin ghé bến hoang sơ.
(Phương Xa)
Người đời nhắc đến những câu ấy sau 30 Tháng Tư, 1975, nhân báo Thời Tập đăng lên bản ký âm của Phạm Duy khi nhạc sĩ phổ hai câu của bài thơ, trên thực tế thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã làm bài thơ ấy rất lâu từ trước, đã hỏi câu ấy rất lâu từ trước, đã thấy mình phí phạm cuộc đời rất lâu từ trước, chứ không phải đợi đến biến cố 1975 mới thảng thốt tự hỏi mình câu hỏi đó. Vả chăng, bài thơ đó nói về “lũ chúng ta” chứ không phải nói về một cái tôi, và than thở cả lũ chúng ta đã đầu thai lầm thế kỷ, chứ không phải tâm sự riêng của một người; dù sao, bài thơ ấy đáng kể là bài nổi tiếng nhất về sự ra đời không đúng lúc của một lớp thanh niên “đầu thai” lầm thời đại!
Nhiều thi sĩ khác viết về ngày ra đời của mình, hay viết nhân ngày sinh nhật của mình rất riêng tư, mà lại rất phổ thông vì đã nhân ngày đó nói tới lớp bạn bè của mình, những kẻ cùng trang lứa với mình.
Thâm Tâm
Sinh ta, cha ném bút rồi
Rừng Nho tàn rụng, cho đời sang Xuân
Nuôi ta, mẹ héo từng năm
Vắt bầu sữa cạn tê chân máu gầy
Dạy ta, ba bẩy ông thầy
Gươm dài sách rộng, biển đầy núi vơi […]
Bọn ta một lớp lìa nhà
Cháo hàng cơm chợ, ngồi ca lúa đồng.
… Rầm trời chớp giật mưa mau,
Lửa đèn chấp chới, khói tàu mù u
Bốn phương đây bạn đó thù
Hiệu còi xoáy lộng bản đồ năm châu.
– A, cơn thảo muội bắt đầu,
Tuổi xanh theo gió ngậm câu dặm dài…
(Tráng Ca)
“Rừng Nho tàn rụng” là chuyện khởi sự năm 1915, là khoa thi Hương cuối cùng cho nền Hán học nước ta, “cha ném bút rồi” là dù có đậu đạt gì đi nữa thì chữ Hán đã bị dẹp, cái học trước đó không còn dùng được nữa. Mỗi khi đọc bài thơ này của Thâm Tâm tôi lại nhớ đến ông nội của mình, cụ Tú Nguyễn Hữu Khắc làng Đồng Văn, thi đậu năm 1915, nghe nói cụ cuốn cái bằng vào trong cái chiếu manh, bị gậy rời Trường Thi Nam Định về quê nhà, chẳng bao giờ còn ngó đến mảnh bằng ấy. Cùng với cụ Cử Ái Niên bạn đồng khóa, hai cụ gặp nhau trà thuốc thơ phú, tôi mồ côi cha sống với ông nội từ năm 6 tuổi, không biết học được những gì từ hai cụ ngoài cái tính khắc nghiệt với những giọng cười thoang thoảng bên tai.
Có một đoạn thơ sinh nhật nữa khá buồn cười, một đoạn trong bài Giang Hồ của Lưu Trọng Lư. Từ bỏ giang hồ tứ chiếng bè bạn thơ văn, thi sĩ trở về với gia đình, nguyện sống tròn bổn phận nhưng rồi một hôm, lòng lữ thứ bị khơi dạy để uống một chén rượu đắng.
Lưu Trọng Lư
Đêm ấy rượu nàng ta không uống,
Từ sau thề không uống rượu ai.
Đòi phen ngồi ngóng chân trời,
Chẳng bao giờ nghĩ đến đời phiêu lưu.
Ngoan ngoãn như con cừu non dại,
Cỏ quanh vườn cắn mãi còn ngon.
Sau lưng nghe tiếng cười dòn,
Vội vàng ngoảnh lại… thằng con vẫn cười.
Nó đưa ta một chai rượu bé,
Bảo rằng: “Đây, rượu mẹ dâng cha.”
Giật mình ta mới nhớ ra:
Là ngày sinh nhật vợ ta đó mà!
Ta uống chẳng hóa ra lỗi hẹn,
Mà từ nan đâu vẹn đạo chồng!
Than ôi! Trời giá đêm Đông,
Máu du tử thực bên lòng hết sôi?
(Giang Hồ)
Sau 1954, bài thơ sinh nhật hay nhất tôi được đọc là một bài lục bát trong loạt lục bát hiện đại Việt Nam nửa thế kỷ nay vẫn còn đó. Bài này đăng lần đầu trên tạp chí Sáng Tạo, tôi đọc trong một sáp báo trên đường Chi Lăng Phú Nhuận, trong áo tơi và dưới cơn mưa, sau in lại trong “Cung Trầm Tưởng, một hành trình thơ (1948-2008), có sửa đi hai chữ, chữ “mai” ở câu 4 thay cho chữ mưa lúc đầu và chữ “đường” ở câu 12 thay cho chữ buồn lúc đầu.
Cung Trầm Tưởng
Mưa rơi. Đêm lạnh. Sài Gòn
Mưa hay trời khóc đêm tròn tuổi tôi?
Mưa hay trời cũng thế thôi
Đời nay biển lạnh, mai bồi đất hoang.
Hồn tu kín xứ đa mang
Chóng hao tâm thể, sớm vàng lượng Xuân.
Niềm tin tay trắng cơ bần
Cuối hoàng hôn lịm bóng thần tượng xưa.
Đêm nay trời khóc trời mưa
Gió lùa ầm đục, trời đưa thu về
Trời hay thu khóc ủ ê?
Cổ cao áo kín đi về đường tôi.
(Đêm Sinh Nhật)
Bài sinh nhật đầu tiên dưới đây in trong thi phẩm Hóa Thân do nhà Văn Nghệ xuất bản năm 1964, khi tác giả 26 tuổi:
Viên Linh
Sớm nay trả lại ưu phiền
Đời ta đã nhẹ trăm miền hợp tan
Xuân hồng chỉ đỏ ngồi đan
Lưới thưa giăng một trần gian đứng chờ
Đừng khô sợi chỉ đừng khô
Trăm năm sống vội ngựa thồ xe bon
Ngón này chỉ nọ đan luôn
Lưới ơi mau rộng thân buồn sắp rơi.
Sớm nay trả lại ơn đời
Thâu canh bụi phủ thân người lãng du
Giọt mòn gieo mái thiên thu
Chân mưa dạ héo hon bù lúc vui
Sớm nay rộng đất xa trời
Trăm tay tượng đá nghe dời chỗ xưa
Lưới ơi chỉ hỡi đừng thưa
Bên kia dương thế hồn chưa chịu về.
(Đầu Thai)
Người xưa làm thơ về mình thường gọi là thơ tự thuật, có gắn liền với thời thế. Một trong những bài tiêu biểu là từ thế kỷ XV còn để lại những vọng âm cho tới đời nay, đó là một bài cảm hoài mà kỳ tới mục này sẽ bàn đến: “Thế sự du du nại lão hà, Vô cùng thiên địa nhập hàm ca…” “- Sự đời mài miệt biết sao đây, thôi thì ca hát với men say…”



























































































