Những gam màu hiện thực trong thơ Nguyễn Quốc Thái

Du Tử Lê

Nói tới sinh hoạt VHNT miền Nam, 20 năm, tôi cho là sẽ thiếu sót, nếu không nhấn mạnh tới tinh thần chống chiến tranh, kêu đòi hòa bình, dưới hình thức này hay, hình thức khác của một số tác giả. Lý giải cho sự kiện có phần thời thế và tế nhị này, theo tôi thì, trong chừng mực nào đó, chính quyền miền Nam đã để yên cho thành phần chống đối ấy. Cụ thể là sự nới lỏng những sợi thừng kiểm duyệt. Những người có trách nhiệm, cũng bỏ qua những tác phẩm không qua kiểm duyệt và, vẫn để số tác phẩm đó bày bán công khai ở các tiệm sách. (1)



Nhà thơ Nguyễn Quốc Thái. (Hình: hngphsa.blogspot.com)

Ở mặt đối nghịch, miền Nam cũng có những nhà văn, nhà thơ gọi chung là nhà văn quân đội, quyết liệt theo đuổi lý tưởng tự do, chống cộng sản; và cũng không ít những cây bút tuy không nằm trong quân đội, nhưng cùng chung lập trường chống cộng sản. Ðề cập tới khuynh hướng này, dư luận thường nhắc tới những tên tuổi điển hình như các nhà văn Võ Phiến, Nguyễn Mạnh Côn, Duyên Anh, Chu Tử…

Ngoài ra, những nhà văn còn lại, ít hay nhiều cũng từng phản ảnh quan điểm chống chiến tranh của họ, qua tác phẩm. Thuật ngữ thời đó, gọi chung những sáng tác phẩm loại này là “văn chương phản chiến.”

Một trong những nhà thơ có nhiều sáng tác bị liệt kê vào loại “văn chương phản chiến” là nhà thơ Nguyễn Quốc Thái.

Tôi không biết họ Nguyễn chính thức tham dự vào sinh hoạt văn chương miền Nam từ thời gian nào. Chỉ biết, thơ của ông bắt đầu xuất hiện trên Hành Trình của Giáo Sư Nguyễn Văn Trung, rồi tạp chí Quần Chúng của nhà văn Cao Thế Dung khoảng giữa thập niên 1960s. Nhất là từ khi ông được mời vào vai trò thư ký tòa soạn tạp chí Trình Bày, một tạp chí được coi là “thiên tả,” đầu thập niên 1970s, do cố nhà văn Thế Nguyên chủ trương. (2)

Tên tuổi của nhà thơ Nguyễn Quốc Thái tương đối xa lạ với quần chúng, thuở đó. Nhưng thơ của ông lại được một số văn nghệ sĩ trong văn giới chú ý. Ðồng thời, ông cũng có ít nhất hai bài thơ được 2 tác giả ngoại quốc chọn dịch sang Anh và Pháp ngữ. Về tiếng Anh, thơ của ông cũng như của một số tác giả miền Nam khác đã được Giáo Sư Neil L. Jamieson chuyển dịch và phê bình trong cuốn “Understanding Vietnam”, do cơ sở University of California Press, liên hợp với các Ðại Học Berkeley, Los Angeles and London, xuất bản lần thứ nhất năm 1993. Ông cũng là một trong hai nhà thơ miền Nam, có thơ được ký giả Jean-Claude Pomonti chọn dịch và phê bình trong cuốn “La Rage D’Être Vietnamien” do nhà Seuil de Paris, xuất bản năm 1974.

Trong “La Rage d’Être Vietnamien”, ký giả Jean-Claude Pomonti chọn bài thơ tựa đề “Dấu hỏi và quê hương” của họ Nguyễn.

Ðó là một bài thơ Nguyễn Quốc Thái ghi lại những cảm nghiệm của ông về miền Nam trong chiến tranh, đăng tải trên tạp chí “Hành Trình” số 3 & 4, năm 1964

Ngay từ khổ thơ đầu, những câu hỏi sinh/tử (không cần câu trả lời vì đáp số đã tiềm ẩn, có sẵn ở những câu thơ kế tiếp và ở giữa hai hàng chữ) – Ðược Nguyễn Quốc Thái cất lên một cách dứt khoát:

“Tôi thường buồn rồi thường tự hỏi
Ðất nước này bây giờ của ai
Những ngày đạn rít quanh đô thị
Những máu thịt bám thâm tre gầy”

Sau khơi mạch, dòng chảy này miên man trôi tới những đau thương, đổ vỡ khác:

“Hàng chục năm chiến tranh mọc lên
Những trẻ thơ quên mất môi cười
Tôi thường buồn rồi thường tự hỏi
Quê hương có được mấy mùa xuân…”

Và ông ra khỏi bài thơ (cũng với những câu hỏi vốn có sẵn câu trả lời (chí ít, cũng theo ông):

“Mẹ Việt Nam ! Mẹ ơi ! Mẹ ơi!
Con thường buồn rồi thường tự hỏi /
Mẹ đã mấy lần vui độc lập?
Mẹ đã mấy lần reo tự do?”

Cũng vậy, trong bài “Giữa sự sống và sự chết,” họ Nguyễn vẫn trực khởi bằng những câu hỏi (vốn sẵn câu trả lời):

“Năm đã hết
Như chiếc bánh anh đã ăn
Như nước mắt đã chảy
Năm đã hết mà hết thật chưa (?)”

Ðể từ đó, dẫn người đọc đọc tới những ghi nhận đời thường, nhưng rất thiết thân, trưng ra cái mặt tối đen, bất trắc của đời sống người dân miền Nam. Với bài thơ này, bên cạnh danh sách những âu lo cơm, gạo của người dân miền Nam, cũng có một câu thơ họ Nguyễn cũng ghi lại hiện tượng những chuyến xe đò đi qua các khu rừng già, bị du kích quân CS chận xét, một cách bóng gió:

“Hết đi xe đò run
Hết đêm mưa những thằng xét nhà hách dịch”
(Hãy đốt cho chúng một ngọn nến)
Hết em quên anh
Hết mẹ bối rối chiều gạo lên giá
Hết bạn bè mặt xanh như tàu lá chiều thứ bẩy
(…)
Em có thấy mắt anh rực rỡ
Em có thấy tim anh run
Em có thấy cơm áo làm anh rướm máu
Anh vẫn có khu rừng xanh ngát đó
Em có thấy tay chân anh khẳng khiu bám trên cành hy vọng
Cành hy vọng trụi lá cũng khẳng khiu / chim đã quên
Mỗi ngày giữa sự sống và sự chết
Giữa cuồng nộ của bồ câu và diều hâu
Giữa no đủ và đói khát
Giữa tỉnh thức và mỏi mệt
Anh thương em như lần đầu biết thương…”
(Trích Trình Bày, Xuân Nhâm Tý, tháng 2, 1972)

Thơ họ Nguyễn chân thật, đơn giản như những lời nói. Nhưng đó là những lời nói của một trái tim mẫn cảm trước những vấn nạn to lớn của thân phận con người trong cuộc chiến.

Thơ họ Nguyễn cũng luôn cho thấy tác giả như một thứ con tin trong trùng vây bi kịch. Hay đó là những tiếng kêu thảng thốt của một con chim bị nạn. Với hiện tại thương đau và tương lai bế tắc!

Du Tử Lê
(Còn tiếp một kỳ)



Chú thích:

(1) Ðiển hình là tất cả những tập nhạc của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đều được in lậu và, bày bán công khai ở các nhà sách.

(2) Theo nhà thơ Nguyễn Quốc Thái, một bằng hữu thân thiết lâu đời của tác giả “Hồi Chuông Tắt Lửa” thì, Thế Nguyễn/Trần Gia Thoại sinh năm 1941, mất năm 1989 tại Saigon.


Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

‘Bóng Đời’ nắm bắt một cõi hư vô

“Bóng Đời” của họa sĩ Cao Bá Minh tại Việt Báo lúc 11 giờ Thứ Bảy, 17 Tháng Mười Một đã lôi cuốn người thích thưởng lãm hội họa cao cấp.

Tiếng thơ được nhiều người chờ đợi: Trần Dạ Từ

Nhà thơ Trần Dạ Từ sinh năm 1940, tên thật là Lê Hạ Vĩnh, sinh tại Hải Dương. Ông theo gia đình di cư vào Nam năm 1954, định cư ở Sài Gòn...

Bước vào cõi giới ‘Mê Hồn Ca’ Đinh Hùng

Nói đến Đinh Hùng, người ta thường nghĩ ngay tới “Mê Hồn Ca,” tác phẩm đầu tay của thi sĩ do nhà xuất bản Tiếng Phương Đông của Hồ Dzếnh.

Dự thi Người Việt 40 năm: Báo Người Việt và người Sài Gòn

Ước mong của tôi là báo Người Việt sẽ tồn tại thêm vài chục năm nữa để độc giả trong nước có được một tờ nhật báo với những tin tức sốt dẻo

Dự thi Người Việt 40 năm: Từ ‘Thư Cho Người’ đến ‘Tiếng Việt Mến Yêu’

Tuy chưa ngồi làm việc trong tòa soạn Người Việt nhưng với hai trang báo cũng là kỷ niệm với thời gian lâu dài.

Tự Do, tờ báo chia sẻ suy tư cảm xúc

Không hiểu vì sao ngay từ những ngày đầu tiên đọc tờ nhật báo Tự Do, tôi đã nhớ ngay tên năm người chủ trương tờ báo...

Vở tuồng ‘Hai Chiều Ly Biệt’ có phải của soạn giả Thu An?

Gia đình Phong Anh lâm vào cảnh túng thiếu, nên vợ của Phong Anh đành bán đứt bản thảo soạn phẩm “Bên Bờ Đá Trắng” cho Thu An...

Nhớ về thu trước – Thơ Thọ Khương

Đâu phải mùa thu lá mới rơi/ Gió buồn hát khúc nhạc chơi vơi/ Đong đưa hờ hững mây giăng xám/ Dốc đứng chiều tan chợt nhớ người

Tứ Tuyệt – thơ Trần Vấn Lệ

Một giây một phút mà thương nhớ/ Hồ huống trăm năm, đã một đời!/ Núi cách sông ngăn đành chịu vậy/ Nợ không duyên cũng nợ duyên thôi!

Viết cho Hạc – thơ Trần Tuấn Kiệt

Một buổi tình cờ họp bạn thơ/ Hai mươi năm đó đến bây giờ/ Văn chương lấn lướt người thiên hạ/ Kết nghĩa kim bằng trọn ý thơ