Thương nhớ Sàigòn, thương nhớ lề đường



 


* Ðào Như


 


Về thăm nhà, có người thấy lề-đường-Sàigòn ngày nay bị kinh tế thị trường tăng tốc xâm lấn quá nhiều, trở nên xô bồ, nên xuôi lòng nhớ lề-đường-Sàigòn xưa.










Lề đường Sàigòn bây giờ. (Nguồn: Google)


Lề đường Sàigòn xưa có hàng me, có sông Sàigòn có Bến Bạch Ðằng, có những quán kem ,quán càfé, quán ăn vỉa hè, lúc nào cũng bu quanh bởi đám học trò, sinh viên, giới trí thức, các thầy, các cô, giới lao động, giới taxi, giới xích lô, ba gác, bang bù và cả lính tráng, sĩ quan nữa. Họ ăn đứng, ăn ngồi, những tô hủ tiếu, tô phở, bún riêu, bún ốc, bún bò, những đĩa ra-gu bánh mì, cà ri bánh mì thơm phức… Những ly café đá. Những ly chè đậu xanh, đậu đỏ, sâm bổ lưỡng… vun đầy đá bào, đá nhận. Sàigòn mà không còn ba món này, không có mấy hình ảnh này thì không còn là Sàigòn nữa.


Những sinh hoạt bình dị này nhiều lúc lấn át cả những nhà hàng, những hotels: Continental, Caravelle, Pacific, Pagoda, Imperial, Givral… vì những thực khách của những quán ăn sang trọng theo kiểu Tây này cũng là những giới hâm mộ thường trực tại các quán cóc trên vỉa hè Sàigòn. Ngoài những giới trí thức, nhà giàu người Việt, còn có cả những “ông Tây bà đầm,” những người ngoại quốc, Chà Và, Tàu, Campuchia. Họ đến ăn ở đây, không phải chỉ vì nơi này họ mới có thể thưởng thức những món ăn thuần túy Việt Nam, thuần túy Á Ðông, mà chính tại đây họ còn khám phá ra được nét đặt thù của Sàigòn, của người Sàigòn, “Saigonais.”


Lề đường Sàigòn còn có những gánh hàng rong.


Thương nhớ làm sao những tiếng rao hàng lúc nửa đêm trên lề đường của khu Bàn Cờ, Nguyễn Thiện Thuật, Vườn Chuối, Chùa Kỳ Viên: “Bánh ú hột vịt lộn, hôn?,” “Bánh bò giò cháo quẫy bánh tiêu, hề.” Mới nghe thì không hiểu món gì, khi mua rồi, ăn thì cũng không thấy gì là tuyệt vời lắm, nhưng hương vị thật là gần gũi thân thương. Người ăn và món ăn gặp nhau như sự kết nghĩa. Có người xa xứ lâu năm, khi trở lại Sàigòn gặp lại những món ăn này mà hồn nhớ về những người bạn của tuổi học trò sau chùa Kỳ Viên, khu Nguyễn Thiện Thuật, khu Bàn Cờ với những Kim Cúc, những Bích Hằng, những Quỳnh Liên (1)… những mối tình đầu của quá khứ xa xưa. Thế mới hay, những lề-đường- Sàigòn không kiêu sa, không hương sắc màu mè nhưng đậm đà tình nghĩa.


Xa Sàigòn, không mấy ai xa được những ngã ba, ngã tư, ngã năm, ngã sáu, ngã bảy. Làm sao quên được lề đường của Ngã Tư Quốc Tế. Cái lề đường ấy quốc tế thật. Quốc tế quá cỡ! Cứ vào lúc gần giờ giới nghiêm, các vũ trường Lido, Baccaret, Côte d’Ivoire… gần đó đóng cửa, các cô cave thoát ra choáng gần hết chỗ lề đường Ngã Tư Quốc Tế. Mặt còn bự son phấn hai tay bê tô cháo lòng, tô bún ốc nóng, thơm và cay mùi tiêu, các cô húp vội vào lòng để thỏa mãn cơn đói. Thế mới biết với các cô, “nhảy” chỉ là một nghiệp dĩ lao động dành cho cuộc sống độ nhật nuôi thân. Sàigòn có nhiều ngả. Ðường Sàigòn có nhiều lề. Người Sàigòn đi trên nhiều lề đường. Sàigòn có nhiều ngả đi cũng như ngả đến. Người Saigòn chưa từng bị bắt buộc đi trên một lề đường nào nhất định. Người Sàigòn phóng túng đi trên đường Tự Do, Công Lý, Ðộc Lập, Thống Nhất… Lề-đường-Sàigòn xưa đã từng mang những tên nói lên niềm ước mơ của thời hiện tại.


Lề-đường-Sàigòn chịu đựng hai mùa mưa nắng. Nắng Saigòn trong như thủy tinh như Trịnh Công Sơn thường ngợi ca. Nguyên Sa-Trần Bích Lan đã từng đi dưới nắng của Saigòn mà cao hứng: “Nắng Sàigòn anh đi mà chợt mát/Bởi vì em mặc áo lụa Hà đông…” Nắng Saigòn trong như thủy tinh như Trịnh Công Sơn thường ngợi ca. Thế mới biết có sự liên kết trong tâm tưởng của Nguyên Sa giữa cái nắng của Sàigòn và màu trắng của lụa Hà Ðông năm nào. Cả hai đều để lại trong lòng người xa xứ những hoài niệm. Sàigòn có những cơn mưa rào chợt đến chợt đi. Khi đến thì rạo rực như thác ngàn, như tình yêu “Em Sàigòn,” khi đi thì lặng lẽ như mơ, để lại những lề đường ướt át, một chút ủ dột trong lòng người. Lề đường Saigòn cũng rất ‘thơ ‘: “Mưa Sàigòn mưa Hà Nội” nghe như niềm thổn thức của Phạm Ðình Chương, đứng dưới mưa, trên lề-đường-Sàigòn, nhớ về năm cửa Ô Hà Nội! Thế mới hay, các nhà thơ, các văn nghệ sĩ đã nhìn thấy một Hà Nội giữa Saigòn thuở ấy… Nói đến lề đường Sàigòn mà không nói đến Vương Hồng Sển, Sơn Nam, Nguyễn Hiến Lê, thì coi như trớt quớt. Những ông già này đã hóa tra người thiên cổ. Nhiều người Saigon không tin là mấy ổng đã chết. Mấy ổng còn đâu đó ngày ngày đi lại với họ trên lề đường Sàigòn bán sách sole. Nhất là ông già Vương Hồng Sển, ông già này mới thật là ngộ. Ăn ở đời với Cô Năm Sa Ðéc hơn nửa thế kỷ mà chưa phỉ tình, ông còn bóng bẩy viết thành chuyên ký: “Năm Mươi Năm Mê Hát.” Duyên Anh thấy vậy mới bảo ông này già mà còn ham. Duyên Anh và cụ Sển đã về trời. Không hiểu họ đang ở đâu đâu? Mấy đời mà hai ông này chịu xa Sàigòn. Biết đâu họ đang ngồi chồm hổm trên lề đường Sàigòn bàn chuyện thế tục: “Sàigòn Ngày Dài Nhất,” “Sàigòn Tạp Pín Lù,” “Saigòn 31 Tháng Tư.” Mấy “cha” ở Hà Nội nghe mấy cái này chắc giận. Họ sẽ la bài hãi đâu có “31 Tháng Tư”… Nói đến lề đường Sàigon thì nhớ cụ Phạm Duy. Mỗi khi nhớ cụ Phạm Duy thì phải nhắc tới lề đường Sàigòn. Cụ Phạm nghe chắc cụ sẽ rầy rà: “Bỏ đi Tám – ‘tao’ mà thuộc bọn lề đường hả?” Xin lỗi cụ Phạm, cụ ắt hẳn là người của lề đường Saigon rồi. Mời cụ nghe lại chính cụ: “Nghèo mà mình không ham. Xin cô em đừng nên quá đáng. Nghèo mà mình không ham. Xin anh hai đừng nên làng chàng…” Sau khi xa xứ hơn 30 năm, có đứa hơn 35 năm, đã hơn hai thứ tóc trên đầu, tụi nầy thỉnh thoảng vẫn nghêu ngao bài hát này của cụ, đôi khi thấy mắt mình cay xè, không hiểu tại nhớ cụ hay nhớ nhớ lề đường Sàigòn.


Lề-đường-Sàigòn có những hình ảnh đẹp khó quên, có bác xích lô ngủ trưa ngay trên chiếc xích lô của mình dưới bóng cây me trên lề đường Sàigòn, sau khi uống chai la de Trái Thơm-La Rue, và loáng thoáng nghe những bản nhạc tình cảm “Mùa Thu Chết” hay “Gái Lội Qua Khe” từ một quán cóc hay quán càfé gần đâu đó. Có người khách nhìn bác xích lô đang ngủ, họ lắc đầu, họ không dám đánh thức bác xích lô mặc dầu họ đang cần bác… Ðó là tinh thần của lề đường Sàigòn xưa. Ðó là phong cách của người Sàigòn xưa.


Cuộc sống trên lề đường Sàigòn siêu thoát, phàm tục, trắng đen, xanh đỏ, chan hòa màu sắc và cảm xúc tạo thành bức tranh lề đường Sàigòn ngộ nghĩnh không giống ai hết, cũng không chịu cho ai giống mình. Sàigòn trước 75, Sàigòn thời chiến tranh, có biết bao biến động lịch sử xảy ra trên vùng đất quê hương này. Ấy thế mà mỗi khi chúng ta nhớ lại những kỷ niệm ở Sàigòn, những lề đường Sàigòn chúng ta cứ như nhớ về một vùng đất nước thanh bình, thời vàng son của một đời người trong một xã hội ổn định. Nhớ về Sàigòn, nhớ đến sông Sàigòn như giải khăn sô vắt ngang vầng trán, đêm đêm chảy vào lòng người Sàigòn xa xứ.


Oak park. ILL. USA, một ngày tuyết rơi Tháng Giêng, 2012


 


Ghi chú:


(1) Tên những nhân vật nữ này hoàn toàn hư cấu, nếu có trùng hợp xin đừng ngộ nhận. Tri ân. (Nguồn: Bat Thuyet; [email protected])


Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

Truyện chưởng Kim Dung của Trần Văn Tích: Từ hư cấu đến hiện thực

Dựa theo bối cảnh, sự kiện cũng như các nhân vật trong truyện chưởng Kim Dung, tác giả Trần Văn Tích lần lượt nêu lên nhiều chi tiết lý thú

Tại sao vĩ tuyến 17 mà không là vĩ tuyến khác?

Lê Công Tâm đã mang ra ánh sáng tại sao Việt Nam lại bị vĩ tuyến 17 chia đôi, phân cách mà không phải là một vĩ tuyến khác? Thí dụ 15 hay 18?

Viễn Châu và bài ca vọng cổ ‘Chim Vịt Kêu Chiều’

Dân đờn ca tài tử rất thích học bài “Chim Vịt Kêu Chiều” bởi vì đây là bài ca vọng cổ có xen vào nhiều lớp kịch.

‘Hồng bay mấy lá…’

Một bài thơ của Tản Đà, không có nhan đề, đúng ra nhan đề bài thơ ấy đã được dùng làm nhan đề cho cả cuốn sách, in ở ngoài bìa: hồng bay mấy lá

Tháng Ba, Đà Nẵng và Em – thơ Lê Tấn Dương

Ta vẫn nhớ thương về nơi ấy/ Những chiều nắng nhạt Ngũ Hành Sơn/ Nhớ đỉnh Sơn Trà trong gió lộng/ Tiếng oán than như tiếng gọi hồn.

Lê Công Tâm ghi nhận được những gì qua Hiệp Định Geneva 1954?

Luật Sư Lê Công Tâm cho rằng, ông thật may mắn khi có thể truy lục được các tài liệu liên quan về lịch sử Việt Nam, nhất là lịch sử cận đại.

Bài vọng cổ xưa ‘Nỗi Lòng Nàng Khương Nữ’ của Huỳnh Thủ Trung

Đến giữa thập niên 1950, soạn giả Huỳnh Thủ Trung đã dựa theo trang tình sử bi thảm của nàng Khương Nữ tìm chồng viết lên bài vọng cổ 12 câu

Nhìn lại một tạp chí miền Nam: Hiện Đại

Trong năm 1960 miền Nam Việt Nam xuất hiện tới ba tạp chí văn chương: Hiện Đại xuất bản vào Tháng Tư, tới Thế Kỷ Hai Mươi, và Sáng Tạo.

Tình muộn – thơ Thọ Khương

Giọt mưa buồn thánh thót/ Thu vàng gợi tình xưa/ Lá rơi chiều cúi mặt/ Thầm lặng đời lay đưa

Hành Tây Bắc – thơ Lê Tấn Dương

Ta đã lưu phương Tây Bắc này/ Hai sáu mùa, theo lá thu bay/ Hết năm, Xuân đến, hoa đào nở/ Mới thấy cuộc đời lắm đổi thay.