Văn Nghệ, trong và ngoài tòa soạn


Viên Linh

Trong các tạp chí văn chương ở miền Nam trước 1975, có một tờ hiện diện khá lâu, qui tụ một số tên tuổi, nhưng hầu như không ai nhắc đến, mặc dù có lúc nó được bày bán trên các sạp báo, trong các nhà sách cùng lúc với những Sáng Tạo, Hiện Ðại, Thế Kỷ Hai Mươi, là ba tờ tạp chí ăn khách hồi đó.


Một số bìa báo tạp chí Văn Nghệ những năm 1961, 62, ngay cả tên tờ báo cũng không được dùng một kiểu chữ đồng nhất. (Hình: Viên Linh cung cấp)

Các tác giả cộng tác với ba tờ tạp chí trên đồng thời cộng tác với nó, mà ít ai biết đến nó, đó là tờ Văn Nghệ của Lý Hoàng Phong. Sự hiện diện của nó, cũng như đời sống của nhà văn chủ nhiệm, tên khai sinh là Ðoàn Tường, anh ruột của thi sĩ mệnh yểu Quách Thoại, rất là chật vật, mặc dù ông được các đồng nghiệp có cảm tình. Cho dù thế nào, nhắc đến hai mươi năm văn học miền Nam mà không nhắc đến tờ Văn Nghệ là một thiếu sót, tờ báo ít nhất đã sống lâu ba bốn lần hơn tờ Hiện Ðại của Nguyên Sa (chỉ có 9 số), tờ Thế Kỷ Hai Mươi của Nguyễn Khắc Hoạch (chỉ có 6 số), như người viết bài này được biết, tờ Văn Nghệ sống ít nhất 22 số, khoảng hơn 2 năm, trong khi hai tờ trên tờ được 9 tháng, tờ được có 6 tháng, sống không đầy một tuổi. Những tờ kia được nhắc tới luôn, tờ sau này bị quên lãng, hầu như hoàn toàn.

Văn Nghệ có cùng khuôn khổ với Sáng Tạo, Hiện Ðại, nhưng ra sau hai tờ trên, số đầu của Văn Nghệ ra vào tháng 1 tháng 2, 1961, ra sau cả Thế Kỷ Hai Mươi; tờ ra sớm nhất là Sáng Tạo tháng 10, 1956 còn hai tờ kia đều ra trong năm 1960: Hiện Ðại tháng 4, Thế Kỷ Hai Mươi tháng 7, cùng tháng 7 tờ Sáng Tạo bộ mới tục bản số 1, sau hơn một năm đóng cửa. Ra chậm sau cả 4 tờ, đương nhiên là Văn Nghệ ở thế yếu, nhất là ông chủ nhiệm không phải là một nhà văn có tên tuổi.

Tuy sinh sau đẻ muộn, Văn Nghệ vẫn mời được các nhà văn tương đối có tiếng cộng tác, như Lê Huy Oanh, Trần Lê Nguyễn, Doãn Quốc Sỹ, Kiêm Minh, riêng các nhà văn trẻ có đủ mặt, như ở trong cả ba tờ trên: Dương Nghiễm Mậu, Nguyễn Ðức Sơn (Sao Trên Rừng), Nhã Ca, Ðỗ Quí Toàn, Trần Dạ Từ, Nguyễn Nghiệp Nhượng,và người viết bài này… Những bài hay trên Văn Nghệ không thiếu, nhiều phần là tỷ lệ tân kỳ còn lớn hơn cả Hiện Ðại, với sự có mặt của Nguyễn Ðức Sơn, Nguyễn Nghiệp Nhượng, và hai họa sĩ Ngọc Dũng, Nguyễn Trung.

Nhà văn Lê Huy Oanh rất sung sức, sáng láng với loạt nghiên cứu về thơ Pháp, nhất là loạt bài “Lược khảo về phong trào thi ca siêu thực Pháp.” Trong ba bốn số báo liền ông đã giới thiệu và dịch ra thơ Việt những thi sĩ tiên phong của khuynh hướng này và những bài thơ mang tên chủ soái André Breton, Louis Aragon, Paul Eluard,… hay viết rất kỹ, kèm với thơ và thơ dịch của Jacques Prevert, là thi sĩ đang được hâm mộ ở Việt Nam lúc ấy. Truyện dài của ông, Màu Hoa Dã Thú cũng đăng trên Văn Nghệ. Hai truyện dài-tân truyện hay truyện vừa thì đúng hơn, sau này nổi tiếng, đều đăng lần đầu trên Văn Nghệ trước hết: Gia Tài Của Người Mẹ của Dương Nghiễm Mậu và Thị Trấn Miền Ðông của Viên Linh.

Hãy xem những bài thơ trên Văn Nghệ, trích từ số 6 trở đi, vì chúng tôi chỉ có từ số 6 và vài số sau đó: điều nổi bật là thơ Ngọc Dũng, thơ Vương Tân luôn luôn được đăng ở những trang đầu của mỗi số báo, và đăng rất nhiều. Ở số 6 thơ Ngọc Dũng đăng ở trang 11 (nhan đề Tiếng Hát Của Mặt Trời), thơ Vương Tân đăng ở trang 12 (nhan đề 1954-1961), và dài suốt 3 trang báo:

Hãy gỡ đều cho sợi tóc dầy
Cùng một lần với tiếng hát nhìn thấp xuống
Với dòng sông nước cuốn chảy mòn
Nước chảy cuốn mòn xô tới chân em

Bài thơ khoảng 20 câu, không có vần. Và thơ Vương Tân đăng kế tiếp:

“Lịch sử bốn nghìn / Tôi cầm trên tay / Trang sách lật qua / Không lời huyền bí / Chúng nó cầm dao / Ðâm vào trái tim / Và nhìn máu chảy / Sự sống dân lên / Trong nghìn huyết quản / Trên vạn cánh tay” Cũng không có vần, dù là tứ tự (tức là thơ 4 chữ). [Thơ 5 chữ gọi là ngũ ngôn, thơ bảy chữ gọi là thất ngôn, nhưng thơ 4 chữ lại gọi là tứ tự. Khi tên gọi khác nhau như thế, các cụ thời xưa hẳn có hàm ý nghĩa gì đó, hai thể thơ chỉ chênh lệch mỗi dòng một tiếng, mà thơ 4 tiếng gọi là tứ tự, thơ 5 tiếng gọi là ngũ ngôn, vậy cái khác nhau là ở ý nghĩa của chữ tự và chữ ngôn. Ngôn là lời, tự là chữ. Lời là lời nói, chữ là chữ viết, hai thứ khác nhau xa lắm. Ðã là chữ viết thì phải hàm xúc sâu xa, không thể là nôm na phổi bò được.]

Ở Văn Nghệ số Xuân 1961, thơ Ngọc Dũng cũng in ở đầu số báo như số trên (ba bài ở trang 10), thơ Vương Tân kế tiếp ở trang 16, thơ ông này chỉ chấm hết ở trang 29, nghĩa là dài tới 14 trang thơ của ông thôi, trên đầu lại có tranh minh họa riêng của Ngọc Dũng. Có vẻ hai nhà thơ này là thi sĩ nòng cốt của tờ báo, tất phải hay. Ta hãy đọc nguyên một bài của Ngọc Dũng: Bài “Vết Chém:

Như đợt thủy triều rớt xuống / Bỏ lại cồn cát không / Như nước biển đầy dâng vĩnh viễn / Mà cánh tay vòng ôm suốt thân.” (trang 10). Và thơ của thi sĩ nòng cốt thứ hai, dài tới 14 trang trong số Xuân chỉ dày 103 trang như đã nói: “Giáo Ðầu: lịch sử những hoang mang / với mối sầu chia cắt / loài chim di trốn rét / vỗ đôi cánh mùa xuân / thành phố ngọn đèn vàng / và mắt người ngái ngủ / hàng rào dây kẽm gai / với con tầu phạm xá”

Bài thơ chỉ có thế, không lên hoa chữ nào và không dấu chấm dấu phảy. Vài chục năm sau thơ hai vị đó không thấy ai truyền tụng, và người ta biết đến Ngọc Dũng nhờ ông là họa sĩ, chứ không phải vì ông là nhà thơ. Ðiều nòng cốt để tìm hiểu: họa sĩ Ngọc Dũng chính là thư ký tòa soạn của tờ Văn Nghệ.

Nghề làm tạp chí văn học khác với nghề làm báo, nhất là nhật báo hay tuần báo, hoàn toàn khác. Báo sống bằng bài vở, bằng bộ mặt của nó khác với báo sống bằng tin tức, nhanh và chính xác và nóng hổi. Ðã sống bằng bài vở thì bài vở phải hay, phải có giá trị, và tạp chí 15 ngày hay một tháng mới ra một lần, thì bài vở phải được (hay bị) đọc lại là thường. Tờ nhật báo sau một ngày thì thường bị vất đi, hay được dùng làm giấy gói đồ. Ðời sống của nó là 24 tiếng đồng hồ, tới giờ thứ 25, có tờ khác thay thế. Tuần báo sống 7 ngày, báo ra Thứ Năm tuần này thì Thứ Năm tuần sau nó bị tờ khác thay thế. Nhưng tạp chí hàng tháng, tất cả 4 tờ nói trên đều ra hàng tháng, tờ tạp chí hàng tháng không những suốt tháng còn mới, người ta còn để trên bàn, mà khi nó lên tủ sách, người ta còn nắm gáy nó kéo xuống, đọc lại. Một bài thơ chỉ 4 câu thôi đăng trên một tạp chí, người ta đọc nó cả tháng, cả năm, mãi mãi, cho nên thơ hay là thơ phải chịu sự đọc lại, truyện hay là truyện phải chịu sự đọc lại, báo đã hay còn phải đẹp, vì người ta khó tính, không ai thấy cái gì xấu mà muốn nhìn lại. Một tờ tạp chí văn chương phải là một giai phẩm: giai là đẹp, phẩm là có tính chất gì đó có ích hay hữu dụng hay mỹ thuật. Vì thế, người ta thường nghe nói, phải hay phải đẹp, phải bền.

Người trình bày tờ tạp chí Văn Nghệ đã không nắm vững tính cách một tạp chí: bìa một tờ báo không phải bìa một cuốn sách, vậy mà bìa báo Văn Nghệ hầu hết số này cái tên in một kiểu chữ, số sau cái tên Văn Nghệ lại dùng kiểu chữ khác. Cứ xem cái ảnh chụp người đọc cũng sẽ thấy ngay. Không phải một lần mà nhiều lần cái bìa báo Văn Nghệ chỉ in cái tranh vẽ của ông họa sĩ thư ký tòa soạn, không có chữ gì – tên bài hay tên các tác giả – khác nữa. Nội dung ở trong là thừa, chỉ cần cái tranh vẽ ngoài bìa thôi, chắc thế. Nhưng dĩ nhiên đã là thư ký tòa soạn, người ta có quyền đó, vấn đề là ông chủ nhiệm hay ông thường trực nào đó có trách nhiệm chọn bài vở phải biết trách nhiệm của mình quan trọng thế nào trong việc chọn lọc và sắp xếp bài vở. Tờ Văn Nghệ thiếu hẳn cái khâu này. Ðôi điều viết ở trên là những điều tôi nghe biết từ khi tờ tạp chí còn sống, ngày nay nhắc lại để đưa ra một giải thích vì sao tờ Văn Nghệ không gây được tiếng vang của một tạp chí văn chương. Có các tác giả tên tuổi là một chuyện, có làm cho tờ báo sống không là một chuyện khác. Cần mẫn chịu đựng là một chuyện, có tồn tại không cũng là chuyện khác. Hơn thế nữa, làm báo văn chương cần các văn hữu và các cây bút trẻ cộng tác, gửi bài về, cái khó khăn là trong 10 bài gửi tới, may ra được 3 bài có thể đăng, làm sao phải từ chối đăng mà người gửi không chán, không giận, vẫn tiếp tục gửi. Chỉ một câu trả lời vô duyên trong Hộp Thư Tòa Soạn là không những mất đi một độc giả, còn làm các văn hữu độc giả khác e ngại gửi bài cộng tác. Hộp thư của tạp chí Văn Nghệ đây:

“Song Linh: Có nhận được bài gửi cho số Xuân, nhưng ‘không tiện đăng.’” (Văn Nghệ số xuân, trang 105). [Trong khi đó tạp chí Hiện Diện của Nguyên Sa đăng liên tiếp 4 hay 5 truyện ngắn của Song Linh, nhà văn, đại úy Thủy Quân Lục Chiến].

“Thái Tú Hạp: Hình như chúng tôi đã có dịp đọc nhiều lá thư như ý bạn: ‘bỏ rơi bài vở của bạn đọc,’ thật không có chuyện đó… Chúng tôi muốn tìm thấy ‘những tài năng thực,’ không mị độc giả vì lợi. Xin bạn đọc thông cảm.” [Trả lời như thế có khác gì nói rằng bài không đăng được vì ông hay bà ‘không có tài năng thực?’ Không những chỉ trả lời nhà thơ Thái Tú Hạp không đăng được, câu đó là trả lời cho tất cả những người mà tờ Văn Nghệ viết là “chúng tôi đã có dịp đọc nhiều lá thư (giống) như ý lá thư của ông!]

“Sương Biên Thùy: Hy vọng bạn còn nhiều cố gắng.”

“Trường Dzạ: Ðã nhận được bài. ‘Hãy tìm một sắc thái cho riêng mình.’”

Bốn đoạn trả lời trên cũng tìm thấy in trong Hộp Thư Tòa Soạn Văn Nghệ. Ðó là thái độ của tờ Văn Nghệ đối với các văn hữu muốn cộng tác khác. Ở số 14 còn những lời khuyên các nhà văn trẻ như “cần tránh ảnh hưởng,” [khuyên Nguyễn Dzạ Vũ], “mong sự cố gắng,” [khuyên Ðoàn Minh Hải], “…Hộp thư của tòa soạn Văn Nghệ đọc lên nghe như từ hộp thư của một tờ báo học sinh. Nó cho thấy người viết những dòng trả lời trên đã không biết độc giả của ông ta, tức là của tờ Văn Nghệ, là những ai. Anh làm tạp chí văn chương thì độc giả của anh là độc giả văn chương; trường hợp này tờ Văn Nghệ không cho thấy sự hiểu biết của tòa soạn về người đọc họ, hay tệ hơn nữa, đang làm ngự sử văn đàn với độc giả của mình, cũng là những nhà văn nhà thơ đang muốn đi vào thế giới cầm bút. Những điều trình bày trên hy vọng sẽ là những câu trả lời nêu ở đầu bài, là vì sao một tờ báo hiện diện khoảng 2 năm ra được 22 số mà bị rơi vào lãng quên như tờ Văn Nghệ.


Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

Viễn Châu và bài ca vọng cổ ‘Chim Vịt Kêu Chiều’

Dân đờn ca tài tử rất thích học bài “Chim Vịt Kêu Chiều” bởi vì đây là bài ca vọng cổ có xen vào nhiều lớp kịch.

‘Hồng bay mấy lá…’

Một bài thơ của Tản Đà, không có nhan đề, đúng ra nhan đề bài thơ ấy đã được dùng làm nhan đề cho cả cuốn sách, in ở ngoài bìa: hồng bay mấy lá

Tháng Ba, Đà Nẵng và Em – thơ Lê Tấn Dương

Ta vẫn nhớ thương về nơi ấy/ Những chiều nắng nhạt Ngũ Hành Sơn/ Nhớ đỉnh Sơn Trà trong gió lộng/ Tiếng oán than như tiếng gọi hồn.

Lê Công Tâm ghi nhận được những gì qua Hiệp Định Geneva 1954?

Luật Sư Lê Công Tâm cho rằng, ông thật may mắn khi có thể truy lục được các tài liệu liên quan về lịch sử Việt Nam, nhất là lịch sử cận đại.

Bài vọng cổ xưa ‘Nỗi Lòng Nàng Khương Nữ’ của Huỳnh Thủ Trung

Đến giữa thập niên 1950, soạn giả Huỳnh Thủ Trung đã dựa theo trang tình sử bi thảm của nàng Khương Nữ tìm chồng viết lên bài vọng cổ 12 câu

Nhìn lại một tạp chí miền Nam: Hiện Đại

Trong năm 1960 miền Nam Việt Nam xuất hiện tới ba tạp chí văn chương: Hiện Đại xuất bản vào Tháng Tư, tới Thế Kỷ Hai Mươi, và Sáng Tạo.

Tình muộn – thơ Thọ Khương

Giọt mưa buồn thánh thót/ Thu vàng gợi tình xưa/ Lá rơi chiều cúi mặt/ Thầm lặng đời lay đưa

Hành Tây Bắc – thơ Lê Tấn Dương

Ta đã lưu phương Tây Bắc này/ Hai sáu mùa, theo lá thu bay/ Hết năm, Xuân đến, hoa đào nở/ Mới thấy cuộc đời lắm đổi thay.

Tết mẹ tôi – thơ Phùng Hiếu

Sáng nay theo Xuân xuống phố/ Em lì xì ta nụ cười/ Hình như Mai chưa khoe sắc?/ Tết về Tết trải muôn nơi

Những điều nhỏ nhặt – thơ Yên Nhiên

Này hòn sỏi nhỏ giữa đường đi/ Lăn lóc đơn côi có nghĩa gì/ Phải chăng giã từ viên đá tảng/ Trải mình lót lối khách chuyển di