Vàng Ðen (Kỳ 3)


LTS:
“Vàng Ðen” là tiểu thuyết của nhà văn Nguyễn Dũng Tiến, được xây dựng trên những tư liệu cùng huyền thoại liên quan tới vùng “Tam Giác Vàng,” một trong những nguồn sản xuất và cung cấp thuốc phiện (“vàng đen”) lớn nhất thế giới. Ngoài việc viết văn, tác giả Nguyễn Dũng Tiến cũng là một trong những người Việt Nam đầu tiên có công gầy dựng vườn cây ăn trái cho người Việt ở xứ người. Ông hiện là chủ nhân vườn cây LA Mimosa Nursery, 6270 East Allston Street, Los Angeles, CA 90022-4546. Tel: (323) 722-4543. Ðược sự cho phép của tác giả, Người Việt hân hạnh giới thiệu tiểu thuyết “Vàng Ðen” trên mục truyện dài của Nhật Báo Người Việt cũng như Người Việt Online.

 

Kỳ 3

 

Ðoàn xe vượt luôn qua cây cầu dài cả dặm Anh, bắc ngang khu thảo cầm viên, thường được gọi nôm na bởi dân chúng Vạn Tượng, khu thuốc lá ba số 5. Rồi vượt qua một cánh đồng thơm ngát mùi lúa để đến Thà Ðừa.

  Cờ xí đã phất phới đầy trời, cây cầu mới xây dẫn tầm mắt của hoàng thân Xithôn băng qua sông, bước xuống biên giới của thị trấn Nông Khai, Thái Lan. Bên ấy, cờ quạt cũng rợp bóng.

Buổi lễ khánh thành diễn ra một cách trang trọng với những nghi lễ ngoại giao và tôn giáo cần thiết. Ngoài sự hiện diện đương nhiên của quốc vương Thái, thủ tướng Lào cùng vị hoàng thân Souvano Xithôn, đại sứ Nhật và Úc cũng xun xoe ngồi trên khán đài.

Sau khi cùng quốc vương Thái cắt chiếc băng khánh thành, được buộc giữa cầu, chiếc băng với mầu sắc sặc sỡ được thả lỏng, phất phơ bay trong gió.

Nhìn qua thành cầu, theo dòng nước ngược lên phía thượng lưu, nơi con sông chảy đến từ xứ Miến Ðiện; Hoàng thân Xithôn chỉ còn ngán ngẩm thở dài, nơi đấy, lực lượng phiến loạn của Miến Ðiện tự tách rời, tự trị của Khun Sa càng ngày, càng mạnh. Một lực lượng du kích vô cùng thiện chiến, sống sung túc nhờ cây thẩu (thuốc phiện) trong vùng tam giác vàng, đang gây một áp lực gián tiếp nhưng rất nặng nề lên vương quốc Ai Lao.

Trong nước, hoàng thân lại phải chịu áp lực của những tổ chức buôn lậu quốc tế, rồi tình báo C.I.A. của Mỹ cũng trà trộn nhan nhản đầy vương quốc. Chúng ra vào vương quốc như trẩy hội, ngay cả hoàng cung, đôi khi nửa đêm gà chưa gáy sáng, chúng cũng sùng sục vào đòi gặp cho được hoàng thân, dưới danh nghĩa những cơ quan thiện nguyện quốc tế. Thủ tướng Lào hoàn toàn là một chức vị bù nhìn, chiếc bình phong của cộng sản Pathet Lào với sự giật dây của cộng sản Việt Nam, không có được một quyền lực thật sự, do đó tiếng nói chỉ đi vào quãng không, dù chỉ để phản đối một chuyện nhỏ nhặt, vớ vẩn.

Dòng nước thấp và đục đang từ từ cuốn những đám lục bình với những đóa hoa tím thật buồn trôi qua dưới gầm cầu. Nhưng lạ, như chợt khám phá ra một điều gì đó khi hoàng thân chăm chú nhìn đóa lục bình.

Dòng nước không mạnh, nhưng chắc phải có những lúc thật nghiệt ngã, nghiệt ngã như dòng đời, đóa lục bình vẫn nổi và vẫn ngạo nghễ nở những đóa hoa tím buồn dưới ánh mặt trời. Hoàng thân tự nhủ: “Cánh lục bình, dù bị vùi dập, đẩy đưa đây đó, dù đã bị trôi dạt từ một xứ lạ này đến một xứ lạ khác, vẫn cố gắng tiếp tục lên đường. Tại sao ta, một hoàng thân, một người thuộc hoàng tộc của một vương quốc, lại không thể vui vẻ tiếp tục kiếp làm người.”

Gánh ưu tư, phiền muộn của hoàng thân Lào bỗng thấy như nhẹ đi, ngài gởi chúng theo những đóa lục bình đang từ từ trôi qua dưới gầm chiếc cầu vừa khánh thành.

Những đóa lục bình sau khi gánh cho hoàng thân Lào những ưu tư, thong thả nối nhau trôi qua gầm cầu để xuống vùng hạ lưu, thong thả đến độ muộn màng, dễ chừng chúng muộn có đến hơn chục năm để được nhìn thấy như các đàn anh, đàn chị của chúng trước đó đã nhìn thấy.

 

CHƯƠNG 1

 

1981.

 

Một trái cầu đỏ như lửa đã nổ tung giữa dòng sông Mêkông, tạo ra một làn ánh sáng lóa mắt. Trái cầu đỏ đã nổ giữa đêm, giữa dòng sông Cửa Long định mệnh, ngăn đôi biên giới Thái, Lào.

Ánh sáng đã lóe lên, đánh thức những đóa lục bình đang lặng lờ trong đêm đen, đang trôi dưới hạ lưu của cây cầu hơn cả trăm cây số đường chim bay, hay đúng hơn, những đóa lục bình của những năm xưa đang băng ngang qua thành phố Sà Vằn (Savanakhet).

Trái B 41 đã được phóng ra và thổi tung chiếc ghe tam bản đang lênh đênh gần giữa dòng sông Cửu Long, ánh sáng chỉ kịp cho thấy chiếc ghe vỡ tung, xác người bắn lên và rơi xuống dòng nước. Yên lặng vài giây rồi vỡ òa với những tiếng dứt lác của đám lính Pathet Lào đang ở bên bờ đất Lào.

“Ðồ cà đè (đồ đĩ ngựa), ông bố già nó nằm kích ngay đây mà dám băng sông để trốn.”

“Báo cáo thủ trưởng, có cần chúng tôi chèo ghe ra coi có đứa nào còn sống không?”

“Khỏi cần, chúng mày về ngủ đi. Hứng nguyên trái B 41, tụi nó còn manh giáp gì nữa.”

“Lúc nãy, tôi chỉ thấy cái đuôi ghe nổ tan thôi. Có lẽ có đứa còn sống.”

“Vậy mày thử chèo ra coi, nhưng cẩn thận đấy, bơi qua giữa dòng bên kia, tụi Thái nó bắn cho bỏ mẹ. Hòa bình đã đến rồi mà còn chuồn.”

“Rõ.”

Ánh đèn pin lấp loáng cho thấy những bộ quân phục Pathet Lào, nhưng tiếng nói lao xao lại toàn Việt Nam, giọng Bắc kỳ, đôi khi dặm vài câu chửi tục tĩu bằng tiếng Lào. Hai người lính thả chiếc ghe xuống nước, bắt đầu chèo ra sông.

Giữa đêm khuya, tiếng dứt lác trên dòng sông bay đi lồng lộng. Ánh đèn pin đảo lộn không ngừng trên mặt nước.

“Báo cáo thủ trưởng, chúng tôi vớt được một người.”

Dòng nước của sông Cửu Long vào mùa hè tuy cạn, không xa lắm, nhưng tên đại úy vẫn đưa hai tay lên miệng làm loa hỏi vọng ra:

“Ðực hay cái.”

“Dạ đàn ông.”

“Cột mè (Ðịt mẹ). Vất mẹ nó đi.”

“Nó còn sống.”

“Ừ, thì đem vào để ông xem mặt thằng ranh con nào.”

Phiên chợ ở Sà Vằn hôm ấy đông đảo lạ, ngoài những người nhà quê Lào chất phác, thật thà, còn một đám đông người hiếu kỳ đang đứng xem và xầm xì ầm ĩ một góc chợ.

Ðám ruồi xanh bất ngờ bốc tung lên, ngàn đôi cánh tạo nên những tiếng vo ve thật khó chịu, có con đậu táp lên một vài người, đâm cả vào mũi miệng nếu vô tình đang hả miệng để nói, có con lăng quăng một chút rồi lại đậu tiếp lên miếng mồi cũ. Miếng mồi hãy còn béo bở lắm, chúng chỉ rủ nhau ù té bay lên theo phản ứng tự nhiên mỗi khi miếng mồi động đậy. Miếng mồi phập phồng lên xuống theo nhịp thở, vẫn tiếp tục rỉ máu, dù dưới đất, người ta có thể ước lượng đến vài chén máu khô.


Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

Thanh Nam, giấc ngủ cô đơn

Nhà văn Thanh Nam tên khai sinh Trần Đại Việt, sinh năm 1931 tại Nam Định, Bắc Việt Nam, mất năm 1985 tại Seattle, Hoa Kỳ, vì bệnh ung thư.

Tuồng chiến tranh thịnh hành thời đầu thập niên 1950

Không hiểu do nhận định thế nào về nhu cầu giải trí, mà khán giả cải lương những năm đầu thập niên 1950 lại đổ xô đi coi tuồng chiến tranh.

‘Ánh Trăng’ của Nguyễn Xuân Thiệp – bài thơ như bút ký đời người

Thơ Nguyễn Xuân Thiệp là một làn gió mới thổi vào sinh hoạt văn học hải ngoại đầu 1990. Kết cấu thơ không cách tân thời thượng, nhưng mới.

Thơ Bùi Giáng ảnh hưởng Nguyễn Du, Huy Cận?

Bùi Giáng là một trong những thi nhân cách biệt với đám đông. Tuy vậy, tiếng thơ ông khởi đầu ít phổ cập đại chúng.

Nhân một cái phân ưu

Tháng Giêng, 2019, cũng khoảng tháng này nhà thơ Nguyễn Bính qua đời ngay nơi quê quán Nam Định của ông, nhưng vào năm 1965.

Sân khấu Hậu Tấn với tuồng chiến tranh hiện đại

Đoàn hát Hậu Tấn ra đời đầu năm 1950 và khi gánh Hoa Sen hình thành khai trương bảng hiệu (1951) thì Hậu Tấn rã gánh.

Thơ Trần Vấn Lệ – Ôi Sao Thơ Buồn Vậy

Có bóng bởi có hình...Có hình nên có bóng.../ Anh nhớ em, bất động...sao trời rớt thành sương!/ Em ơi, anh dễ thương...làm thơ như vậy đó...

Mỹ như Tôi

Nhưng nếu tôi cũng thấy không được thoải mái, chính là vì tôi không thể không tự hỏi: Đây là nước Mỹ nào vậy.

Thơ Hoa Nguyên – Cho hết thời lãng mạn

Ta lãng mạn cho hết thời lãng mạn/ Vẽ chân dung mình lên những củ khoai/ Ta lãng mạn cho hết đời bỉ vận/ Thơ về đâu quang gánh ở phương đoài

Một thứ tự do hoang dại

Lần đầu lên Đà Lạt, tôi được nghe kể là người Pháp trước kia đề ra những quy chế rất gắt gao cho việc xây dựng các biệt thự ở đây.