Viên Linh
1. Tự sự quanh những hồn chữ
Sinh thời, nhà thơ nhà báo chủ nhiệm An Nam Tạp Chí là Tản Ðà Nguyễn Khắc Hiếu (*1889-1939) có viết một bài ngụ ngôn ngắn trong đó ông kể tội nhiều người, cả các đồng nghiệp lẫn chính bản thân mình, khi viết lách lông nhông không biết rằng viết như thế là làm cho bao nhiêu oan hồn đau đớn. Ông kể: “Ở mạn ngược xứ Ðoài gần Mường, có một nhà làm văn, vì sự nghèo lấy văn làm nghiệp… Một hôm, đêm đã hơi khuya, đi qua một trường thi vừa thi xong, thấy có tiếng lầm rầm như nhiều người cùng nhau đứng than thở. Nhân lắng tai ngồi nghe, phảng phất được mấy câu như sau này:

Khởi Hành là tờ báo có truyền thống đăng trọn một bài thơ hay là ngoài bìa, như số báo này. (Hình: Viên Linh cung cấp)
“Khốn nạn cho chúng ta! Trời bắt sinh ra làm kiếp chữ. Ðể bị những kẻ làm văn dốt, nó viết mình ra tờ giấy trắng, rồi dấu son chấm chàm lôi đi xách lại. Tủi bao nhiêu, thẹn bấy nhiêu!…” Ðấy là lời than thở buồn tủi cho thân phận không may của những “kiếp chữ” đã gặp phải những kẻ làm văn dốt, nhưng dốt không phải là một tội. Tài năng người ta ở một mức nào đó là do Trời sinh ra như thế, anh nào gặp phải là do sự run rủi vô tình mà thôi. Nhưng Tản Ðà lại nghe thấy những tiếng lầm rầm tiếp tục: “Tao chẳng oán gì người làm văn; tao chỉ tức cho cái ngòi bút xỏ xiên, cái nước mực đen bạc; vì có nó mà chúng mình mới dơ duốc đến như thế! – Nhà làm văn ta mới nghe tiếng thở than, tưởng như hồn của những người hỏng thi. Nhung xét ý câu nói thì ra hồn của chữ. Nghĩ không nhẽ chữ lại có hồn?” Ông viết thế rồi ông trả lời quả chữ có hồn, bằng một đoạn văn khác nặng nề hơn, vì đây là hồn của những chữ in, in trên sách trên báo: “Một hôm khác, đêm cũng hơi khuya, đi qua trước cửa một nhà in, cũng thấy có tiếng lầm rầm như nhiều người cùng nhau ngồi than thở. Lại lắng tai đứng nghe, phảng phất được những câu như sau này:
“Tội nghiệp cho chúng ta! Trời bắt sinh làm kiếp chữ in. Ðể bị những kẻ làm sách [làm báo ngông, nó phơi mình ra tờ giấy trắng; rồi bìa vàng vỏ xanh, buôn đi bán lại. Thẹn bao nhiêu, tủi bấy nhiêu.” Ông kết luận ngay rằng mình có lỗi, không nhiều thì ít: “Nghĩ ra, mỗi bận mình rung đùi [mà viết] mà ngâm, dưới tay đã không biết bao hồn khóc! Từ đấy làm văn, khó nhọc lắm mới nghĩ được một câu.” Viết thế, Tản Ðà nhận rằng viết lách in ấn cẩu thả là có tội, tối thiểu là có tội với các chữ in, vì các con chữ dù là chữ viết ở nhà trường hay chữ in trong sách báo đều có hồn. Ðoạn ngụ ngôn trên của ông có nhan đề “Hồn Chữ.”
Lại một chuyện khác khiến những người hàng ngày thân cận với chữ nghĩa phải lưu tâm, đó là chuyện một lão ông hàng ngày đi nhặt những mảnh giấy dơ nhưng có chữ trên đó, lau chùi cho sạch sẽ, rồi mới… đốt đi. Chuyện ngụ ý rằng, “Người ta biết kính trọng giấy có chữ, không bỏ vương vãi hoặc dày xéo lên, mới được hưởng thụ nhiều phúc lộc.” Chuyện kể rằng, “Vương Nghi Công (tức Vương Tăng, thời vua Nhân Tông nhà Tống, làm quan đến chức tể tướng, khi mất được phong tặng tước Nghi Quốc Công.) Hễ trông thấy giấy có chữ ở dưới đất, ông liền nhặt lấy, dùng nước có mùi thơm rửa cho sạch sẽ rồi đốt đi. Một hôm, mộng thấy tiên thánh (Khổng Tử) vỗ vào lưng bảo rằng: “Nhờ anh chăm chỉ kính trọng giấy có chữ của ta, nhưng tiếc rằng anh già rồi, không thể thành đạt được. Một ngày nào đó, ta sẽ cho Tăng Sâm (tên tự là Tử Dư, cao đệ của Khổng Tử, người thời Xuân Thu, một trong hàng “tứ phối” được thờ ở Văn Miếu.) đến thác sinh vào nhà anh, làm cho gia đình anh được vinh hiển.”
Ðược ít lâu ông già họ Vương sinh một con trai, bèn đặt tên là “Tăng,” khi lớn thông minh hơn người, thi đỗ trạng nguyên làm quan đến tể tướng” [Theo báo Thời Tập 1989]. Chuyện trên khiến người viết bài này nhớ đến tác giả Trần Ngọc Thống, người tỉnh nhà Hà Nam, sau 1975 bị giặc đỏ giam cầm trong các trại tập trung, từ Nam ra Bắc, có Hoàng Liên Sơn Nam Hà có Hà Tây, Tiên Lãnh,… đã tới lui trong trại, hai mắt nhìn xuống đất, hễ thấy mảnh giấy in nào là nhặt lấy, cũng như Vương Nghi Công, ông đại tá già nước Cộng Hòa Việt Nam nhặt giấy có chữ in trong trại, lau chùi sạch sẽ, tìm xem chữa ấy thuộc miền đất thân thuộc nào, gấp xếp vào một chỗ đặng sau này dùng làm tài liệu. Hẳn nhiên, đó là những mảnh giấy có chữ thời trước 75, khi người ta viết lách – dù làm thơ – có nhuận bút, có chủ bút xét đọc lựa đăng, không phải thứ văn xuôi văn vần ý ngang nghĩa ngược. Ông Trần chính là người cách đây vài năm đã cùng hai người nữa biên soạn và xuất bản cuốn “Lược Sử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa” dày tới 900 trang khổ 9×12 phân Anh.
Hai đoạn văn trên không phải tự nhiên xuất hiện, cùng nhau khúc này câu nọ hiện ra khi tôi vừa bước vào ngưỡng cửa năm thứ 20 của tờ tạp chí Khởi Hành, số 1 xuất bản tháng 11, 1996, số mới nhất xuất bản tháng 11 này, cộng lại là 226 số báo. Từ số 1 tới số 200, Khởi Hành in khổ lớn, mỗi trang gấp 6 lần một trang khổ sách truyện, số đầu có 32 trang, sau này có khi tới 72 trang, song trung bình là 40 trang, hay khoảng hơn hai trăm trang khổ sách. Số trang quảng cáo ít khi có tới 6 trang trong một số. Mấy chục ngàn trang giấy in ấy, trong 20 năm, có bao nhiêu hồn chữ siêu linh bát ngát bay cao bay xa, và có bao nhiêu rủi ro để xảy ra những tiếng lầm rầm than thở trong đêm vắng, của những hồn chữ buồn tủi như Tản Ðà nói đến? Không thấy.
2. Và những mảnh giấy vụn
Nhân thể ngày tháng vui, cũng xin nhắc lại trước 1975, là thư ký tòa soạn nhiều tạp chí, trong đó có tuần báo Khởi Hành của Hội Văn Nghệ Sĩ Quân Ðội, tôi đã chủ biên hoàn toàn tờ báo từ số 1 ra ngày Thứ Năm 1 tháng 5, 1969 tới số 156 hơn ba năm sau. Chủ nhiệm tờ báo của hội là chủ tịch hội, Nhạc Sĩ Ðại Tá Anh Việt
Trần Văn Trọng, đã mất ở San Jose năm 2008. Cộng lại tới tháng này, tôi đã trông coi soạn bài và trình bày tờ báo từng trang một, tất cả là 382 số báo Khởi Hành. Nhắc lại để tìm, để nghiệm, để xem, để nhớ biết bao nhiêu thứ, và trước nhất, những hồn chữ và những mảnh giấy có chữ đã hiện lên. Không có. Không có những hồn chữ lầm rầm và cũng không có những mảnh giấy Khởi Hành – trừ ra cuộc phần thư của giặc đỏ – Khởi Hành là tờ báo người mua không những để đọc, mà không có thì giờ đọc vẫn mua để đấy: Khởi Hành là báo định kỳ, mà vô thời kỳ. Chưa từng có một tờ báo nào tôi biên tập kỹ như tờ Khởi Hành hải ngoại, cố gắng tìm tòi và chú thích mọi điều có thể vì biết rằng độc giả hải ngoại không có thì giờ và không có những thư viện Việt ngữ thuận tiện để tra cứu, trong khi tôi có hoàn cảnh thực hiện. Là một tờ báo văn học, Khởi Hành vẫn có nhiều hình ảnh hơn cả các báo đa diện. Và không một tấm hình nào không có chú thích. Có những tấm hình chạy gần hết trang giấy, vượt ra ngoài lề. Chưa có tờ báo nào in tên tác giả bằng cỡ chữ 72 points, là cỡ to nhất của bộ chữ in, như Khởi Hành. Còn nhớ khi làm Khởi Hành số 24 thì phải (bộ Saigon), tôi in tên Bình Nguyên Lộc bằng cỡ chữ lớn nhất ngoài bìa khiến anh giơ cao tờ báo, hỏi: “Sao mà in tên to thế?”
Ðã từ lâu tên tuổi nhà văn trên các báo không được xếp đặt ưng ý; hoặc quá nhỏ, hoặc chìm lẫn trong những dòng chữ thiếu sự biểu hiện nghiêm chỉnh, trong khi tôi thường làm ngược lại. Khi nhà văn Bình Nguyên Lộc hỏi thế, tôi đã có sẵn câu trả lới: “Tên anh, hay tên các anh Tam Ích, Mặc Ðỗ, Hoàng Trúc Ly,… tôi in to như tên các nghệ sĩ Thành Ðược, Việt Hùng. Nghệ sĩ trình diễn thì trọng vọng, nghệ sĩ sáng tác thì lơ là, điều đó không đúng.” Có lúc tôi pha trò trước anh em cầm bút: “Tôi muốn nghĩ Vũ Trọng Phụng là nhà văn cuối cùng không có bí-tết mà tẩm bổ trong khi lao phổi và Quách Thoại là thi sĩ cuối cùng chết trong đói và bệnh. Nhà văn phải sống phong lưu hơn là một ông làm nghề đi dạy văn chương, vì nhà văn làm ra văn chương. Phải quảng bá tên nhà văn như quảng bá tên diễn viên tài tử, vì nhà văn sáng tạo ra kịch ra truyện phim cho diễn viên tài tử đóng mà.” Trên Khởi Hành từ những số báo đầu năm 1969, tên các nhà văn nhà thơ được in thật to, trên bìa cũng như bên trong.
Thơ ca cũng lên bìa báo Khởi Hành. Khởi Hành tuần báo ở trong nước, hay Khởi Hành số 1 ở hải ngoại, nguyên một bài thơ được in nơi trang bìa nhất, dưới tên tờ báo. Tôi tin Khởi Hành là tờ báo đầu tiên hết ở Việt Nam in thơ của các thi sĩ đương thời lên bìa báo, cả bài thơ chứ không phải chỉ cái tên tác giả. Nguyên một bài thơ của Tô Thùy Yên, của Tuệ Sỹ, của Song Hồ, người bạn thơ của tôi từ Hà Nội, thời các báo Hồ Gươm, Tiếng Dân,… đã in trên bìa báo Khởi Hành ở trong nước.
Ðây là vài bài thơ in trọn trên bìa báo Khởi Hành.
-Bìa Khởi Hành số 6, tháng 6.1969: đăng trọn bài thơ Ngọn Gió Lạ Thường Sẽ Thổi Tới của Tô Thùy Yên.
-Bìa Khởi Hành số 14, tháng 7.1969: đăng trọn bài thơ Thân Thế của Tú Kếu.
-Bìa Khởi Hành số 22, tháng 9.1969: Rừng Chiều Thương Nhớ của Cao Tiêu.
… và còn nhiều nữa. Ở Khởi Hành hải ngoại cũng thế:
-Bìa Khởi Hành số 1 hải ngoại, tháng 11.1996: đăng trọn bài thơ Nén Nhang của Phùng Cung.
Nén Nhang
(Tặng Nguyễn Hữu Hiệu)
Phỉnh phờ đê tiện
Bả bẫy tù đày
Máu chày đầu rơi ngày tháng
Ngót thế kỷ bạo quyền.
Không dập tắt nổi Nén Nhang.
(Phùng Cung, Hà Nội)
Một bài thơ ngắn như trên có giá trị hơn một bài bình luận về tôn giáo và chính trị. Không đăng ra bìa cũng uổng, nhất là bài thơ cho thấy khí tiết của nhà thơ Phùng Cung.



























































































