Kỳ 88
Nguyễn Bình Phương
Rồi cũng có điểm nhấn trên con đường gập ghềnh mà tẻ nhạt này. Dưới chân núi, một dải phẳng phiu, lốm đốm giữa cỏ xanh và đất nâu tím, đột ngột mọc lên bốn năm cây cổ thụ đứng châu vào nhau thành một khối lớn xùm xòa như trái núi đen. Giữa mấy cây cổ thụ, có một ngôi miếu nhỏ, chắc chắn là miếu vì hình chữ nhật dựng đứng, mái cong vểnh lên, chỉ một cửa và không có cánh. Người tò mò đầu tiên là Trang:
– Chỗ kia là cái gì mà đẹp thế hả anh?
Bí thư huyện đoàn bảo đó là miếu thờ, còn thờ ai thì bản thân bí thư huyện đoàn cũng không rõ. Mình chờ hắn lên tiếng nhưng hắn tảng lờ. Lái xe thấy hắn không nói gì thì giải thích:
– Miếu này hình như thờ một người tên là Nguyễn Công Thế.
Ðến lượt hắn ngạc nhiên:
– Ông ấy ở thời nào?
Lái xe lắc đầu bảo chịu, lâu rồi, lần đưa phó tổng biên tập cũ lên qua đây, nghe mọi người nói vậy. Mình biết người này, nếu như không nhầm. Ông ta là Tế tửu Nguyễn Công Thái, quê ở Kim Lũ, Thanh Trì, đậu tiến sĩ năm Ất Tỵ triều Vĩnh Trị. Thời kỳ ấy, triều đình Trung Hoa phải trả lại đất cho ta ở phần châu Vị Xuyên chỉ với điều kiện khi nhận lại phần đất ấy thì làm theo lễ nghi ba lạy chín xá đối với hoàng đế Trung Hoa. Tả thị lang Nguyễn Huy Nhuận và Tế tửu Nguyễn Công Thái thay mặt triều đình lên nhận đất. Giới hạn của biên giới được xác định là con sông Ðổ Chú. Thế nhưng viên thổ ti Khai Hóa lại giở trò tháu cáy, lấy con sông nhỏ, ở sâu trong địa phận Tuyên Quang bảo đó là sông Ðổ Chú và đòi phân biên giới tại đó. Nguyễn Công Thái biết mưu ấy, mới đích thân lặn lội đi mấy ngày đường tìm ra bằng được con sông Ðổ Chú thật để cắm mốc. Té ra con sông Ðổ Chú nằm rất sâu trong địa bàn Khai Hóa. Bia được dựng lên vào năm 1728. Không hiểu sao miếu thờ viên tế tửu được khen là đáng làm gương cho kẻ sau, lại lạc tít sang xó cùng này. Lịch sử như con thú cuồng chân, cứ chạy loạn xà ngầu cả. Con sông Ðổ Chú cũng biến mất, để lại vài ba dấu vết mơ hồ, nghi hoặc.
Hắn lại ngạc nhiên khi mình nói về Nguyễn Công Thái. Hắn chưa bao giờ phục mình, chỉ ngờ ngợ về lượng sách mình đọc chứ không tưởng tượng có lúc bị mình qua mặt ngay trên đất của hắn. Trang nhìn mình, mắt lóng lánh.
– Quanh đây chả có con sông nào cả.
Lái xe nói, không giấu thái độ nghi ngờ những thông tin của mình. Ðành vậy, mình cũng chỉ biết đến mức ấy, biết những điều đã nói ra đúng chỗ, đúng lúc, còn chính xác đến mức nào thì bản thân mình cũng chịu.
– Có suối, nhưng ở tít bên trong kia cơ, khe bên trái ấy.
Bí thư huyện đoàn nói.
Im lặng. Bánh xe trầy trật trên đường. Ngọn Tà Vần đã rõ dần vì ánh sáng chiếu thẳng vào chính ngực nó. Ở vị trí ngang tầm với mặt trời, không chỉ núi mà tất cả mọi thứ đều mang vẻ uy nghi.
– Sắp tới rồi.
Bí thư huyện đoàn săng sả nói với Trang. Xe lừ khừ bò lên, dừng lại như dò xét rồi tiếp tục bò lên. Những cái cây dạt ra nhường chỗ cho một khoảng trống nho nhỏ với chiếc cột đá hình chữ nhật xám có khắc mấy dòng chữ mờ nhạt. Xe chưa dừng hẳn, mình đã mở cửa nhảy xuống, sải rất nhanh đến, ấp cả hai tay lên chóp cột đá. Mình nhận thấy nó nóng hâm hấp như đang sốt.
– Thế nào?
Hắn hất hàm hỏi.
– Có tiếng bò kêu bên trong.
Mình trả lời tếu táo mà đầu thì nháng lên câu hỏi liệu đây có đúng là chỗ anh cố sống cố chết mò về sau khi bị lạc sang đất họ và rồi lại bị bắt ngay lập tức không? Theo ghi trong sổ thì lúc ấy là chiều, quá chiều một chút. Mình ước có thể tầm ba hoặc bốn giờ.
“Mồm thằng Tấn như có ma cừ rừm. Nhưng người bị lại là Ðại trưởng chứ không phải tao. Bọn tao chui qua bụi cây mọc giữa hai vách đá dài để đi tắt. Lúc ấy thằng trinh sát vẫn đi đầu, tao thứ hai, đại trưởng đi sau tao, thằng Tấn khóa đuôi.”

















































































