Cuốn sổ sinh tử

Viên Linh/Người Việt

Bìa tạp chí Thời Tập số cuối cùng của văn học miền Nam Việt Nam ra ngày 15 Tháng Tư, 1975. (Hình: Viên Linh cung cấp)

WESTMINSTER, California (NV) – Mười lăm ngày trước 30 Tháng Tư tôi vẫn còn làm báo, và tờ báo cuối cùng tôi làm ở Sài Gòn giờ này vẫn còn trong tay tôi, là nguyệt san Thời Tập số 23.

1– Lâu nay người phụ trách trang Văn Học Nghệ Thuật ra ngày thứ năm của nhật báo này có một cuốn sổ bên ngoài đề “Cuốn Sổ Sinh Tử.” Mới đầu là một thứ sổ tay bỏ túi khổ nhỏ, sau này là một cuốn sổ để bàn, to dần, đúng ra là khuôn khổ thay đổi, có cả nhỏ đến lớn, vừa nhỏ vừa lớn, nhiều khuôn khổ khác nhau, song những cuốn đầu tiên có khổ nhỏ nhất, đúng nghĩa nhất là sổ tay.

Cuốn lâu nhất còn ở trên bàn viết bây giờ khuôn khổ như một cuốn tiểu thuyết loại bỏ túi (livre de poche) có tên là “Handy Daily Diary” (Nhật Ký Hằng Ngày Cầm Tay), 1976, do nhà in Metro ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn sản xuất (Metro Publishing Corporation, Washington, D.C. 20795).

Trên trang đầu tôi có ghi tên mình, và dòng chữ January 1, 1976, vẽ một cành hoa có ba nhánh, và chữ viết bên cạnh: Virginia. Sổ tay để trắng nhiều quá, may thay, trên trang ngày Thứ Tư, 28 Tháng Bảy, có ghi: “Ngày này… đến Mỹ được một năm ba tháng.”

Đếm ngược lại và làm tính trừ: Tháng Bảy, 1976, trừ đi ba tháng là Tháng Tư, 1976, và trừ đi một năm là năm 1975. Không chính xác, vì tính sai: ngày 28 Tháng Tư, 1975, người viết còn ở Phú Quốc, đêm 29 Tháng Tư mới đang bế cô con gái út 14 tháng leo thang dây lên boong tàu American Chalanger đậu ngoài khơi Phú Quốc; vài ngày sau, đâu ngày 3 Tháng Năm, tàu mới cập bến đảo Guam.

Như thế, những dòng tiếp theo đây tôi muốn lục tìm trí nhớ để viết về vài ngày cuối cùng của Tháng Tư, 1975, khi còn ở quê hương, một quê hương người viết đã rời bỏ từ Tháng Tư, 1975, cho tới nay chưa một lần trở về.

2– Có lẽ nên viết tiếp về những ngày kế tiếp nói ở đoạn trên, vì những gì trí nhớ vừa gợi ra vẫn còn mông lung trong tâm trí. Đó là những ngày Tháng Tư, Tháng Ba, Tháng Hai, Tháng Giêng, 1975.

Mười lăm ngày trước 30 Tháng Tư tôi vẫn còn làm báo, và tờ báo cuối cùng tôi làm ở Sài Gòn giờ này vẫn còn trong tay tôi, đó là “nguyệt san Thời Tập số 23, phát hành ngày 15 Tháng Tư, 1975.” Những dòng này có in trên tờ báo. Hẳn vì tình trạng dầu sôi lửa bỏng lúc ấy, tờ báo chỉ có 96 trang tuy bìa vẫn in offset nhiều màu.

Thời Tập số 23 có chủ đề Ban Mê Thuột thất thủ, tức là chuyện xảy ra vào tháng trước. Những năm tháng làm báo văn chương, những tờ báo ấy dù thơ văn là chính, song là thơ văn gắn liền với cuộc sống. Vì thế mà văn chương của Thời Tập gắn liền với thời đại và thời thế. Do vậy mà Tháng Ba, 1975, thị trấn Ban Mê Thuột lọt vào tay Cộng Sản, tờ Thời Tập mới làm chủ đề Ban Mê Thuột thất thủ, qua những dòng chữ trên bìa tờ báo số 15 Tháng Tư: “Văn chương trước tình thế mới: Tâm hồn và Đát nước tây nguyên Trung Việt.”

-Trang 3: Văn chương trước mỗi tình thế, bài của chủ nhiệm kiêm chủ bút Viên Linh.

-Trang 8: Vai trò của người cầm bút trước tình thế đất nước.

-Mặc Đỗ: Là dân một nước, tất nhiên phải sống với mọi biến cố và nhiều phen muốn làm một cái gì.

-Tuệ Mai: Có trách nhiệm ghi nhận và phản ảnh mọi khát vọng thâm sâu của đời sống (trang 10).

-Nguyễn Mộng Giác: Tôi chọn vai trò người ghi nhận (trang 11).

-Thạch Trung Giả: Những ai còn đó?

-Phạm Thiên Thư: Khi người là con sâu, tất cả là chiếc kén.

-Bình Nguyên Lộc: Tôi nghĩ đến những điều ấy ngay cả trong thời bình (trang 13).

-Trúc Sĩ: Tôi viết, lấy căn bản lương tri làm hướng đi cho mình.

-Võ Phiến: Chúng ta còn quá ít thì giờ để làm nghệ thuật (trang 15).

-Lê Tràng Kiều: Nhà văn phải cảm thông với vận mệnh dân tộc (trang 16).

-Lệ Hằng: Tôi lết theo định mệnh của dân tộc.

-Xuân Vũ: Là người viết văn tôi phải đặt cho mình một cái gì.

Một tạp chí tại hải ngoại, tờ Thư Quán Bản Thảo của nhà văn Trần Hoài Thu, đã ra số chủ đề đặc biệt, bài viết của ông nhan đề “Trần Hoài Thư: Thời Tập: Hành trình của một tạp chí đi vào lịch sử văn học miền Nam,” cùng bài vở của các nhà văn tên tuổi như Trần Phong Giao, Hoài Khanh, Nguyễn Kim Phượng… (Viên Linh)

Lưu ý: Để mở âm thanh, xin bấm vào nút muted icon imagephía góc phải bên dưới của khung video.

Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

Vài suy nghĩ rời về chữ và nghĩa

Để có truyền thông, phải có “chữ.” Không có thông tin, không có Internet, không có media nếu không có chữ. Ở đâu cũng cần đến chữ.

Nguyễn Long và mối tình một chiều với Thanh Thúy

Nguyễn Long, một người “can đảm” đi hết “con đường tình... một chiều” dài thăm thẳm của mình, với danh ca Thanh Thúy.

Tiểu thuyết ‘Cô Gái Việt và Người Chiến Binh Mỹ’ đầy kịch tính

Trong ngày ra mắt sách “Cô Gái Việt và Người Chiến Binh Mỹ,” đạo diễn Bùi Sơn Duân phát biểu rằng, tình tiết câu chuyện mang nhiều kịch tính.

Mai về Ba Động cùng anh…

Tôi người Bắc như anh, không thể có quê ở Bà Rịa. Anh thoái thác rằng không biết số điện thoại của tác giả bài thơ Ba Động, nhưng sẽ nhắn lại ngay.

Quốc ngữ và nỗ lực ‘thoát Hán’ của các vua nhà Nguyễn

Chính nỗ lực tiên phong quảng bá Quốc ngữ là của trí thức miền Nam và nhờ chính sách tiến bộ, khoa học của chính quyền Pháp tại Đông Dương tạo đà cho chữ Quốc ngữ lan tỏa.

Giọt… – thơ Thọ Khương

Gió lạnh tê tái/ Nắng úa tàn phai/ Cà phê quán vắng/ Tình sầu trên vai/ Giọt thương nâu sẫm/ Giọt nhớ buồn câm

Vu Lan nhớ mẹ – thơ Huỳnh Ngọc Thương

Từ khi/ áo mẹ bung tà/ Giày con vẹt gót/ đường xa chưa về.../ Thân già,/ mấy dặm sơn khê/ Mo cơm Mẹ bới/ Hồn quê Mẹ đùm

Cái đẹp Việt Nam không bao giờ cũ – thơ Trần Trung Tá

Chế độ Cộng Sản thế chỗ chế độ Cộng Hòa/ Chỉ một ngày qua, người ta đã nói:/ “Chế độ hồi xưa đổi mới ai đợi?

Bức tường – thơ Nguyễn Văn Thu

Là hàng rào sớm chiều vây kín/ Là cơm canh hai buổi cân đong/ Ngày đêm giữ chặt suy cùng tính/ Buồng chật đêm buồn phủ chấn song

Em đi lâu rồi ới Tiểu-Vân! – thơ Huy Uyên

Nửa khuya ngồi quán vơi ly rượu/ Đáy cốc bóng em bỗng hiện về/ Ai một mình lang thang ngoài phố/ Tôi đăm mắt buồn xót tái tê.