Hộp đồ chơi bằng gỗ

Viên Linh/Người Việt

Đồ chơi bằng gỗ ngày nay của trẻ em Nhật. (Hình: asiastore.org)

Sách truyện của Nhật Bản tôi đọc không được nhiều, song cũng không đến nỗi quá ít, dù sao những gì liên hệ tới đất nước và con người của dân tộc này dường như vẫn có một chút gì sâu đậm hơn nơi tôi so với các dân tộc khác ở Á Châu.

Hôm nay trong cuộc hành trình, kề cận không thư viện và sách vở, tôi mường tượng những gì tâm trí còn gợi ra được, và tự nhiên ngôi nhà của cha mẹ tôi thời tôi còn thơ ấu hiện ra… Ngôi nhà trong những ngày có bóng dáng của những quân nhân người Á Đông, đầu đội mũ lưỡi trai, đôi chân quấn sà-cạp, không cao lớn trừ người đeo bên hông thanh gươm dài gần sát đất.

Có lẽ đó là năm 1947…

Pháp đang thất thế ở Đông Dương và quân Nhật đang chiếm đóng khu nhà ga đường xe lửa và những ngôi nhà gạch trong khu phố Đồng Văn, trong đó có ngôi nhà của cha mẹ tôi, lúc ấy cha tôi không còn nữa. Người ra đi thế nào tôi chỉ được nghe kể lại…

Trong cuốn “gia phả họ Nguyễn làng Đồng Văn” mà tôi có một bản sao, ngoài bìa có in hình ngôi nhà thờ họ Nguyễn và một dòng chữ chú thích “sơ đồ do ông Lý Trưởng Nguyễn Mạnh Cáp thiết kế.”

Lúc nhỏ tôi được nghe một ông bác giảng giải: Trong tên họ của nam giới, thời trước hay thấy mấy chữ đệm “mạnh, trọng, quý, hay mậu” thì người nào tên có chữ đệm là mạnh, là người đó là con cả trong gia đình, người nào tên đệm có chữ trọng là con thứ hai và tên đệm có chữ quý (hay mậu) tức là con thứ ba.

Quả thế, ba người con trai của vị tú tài Hán học khóa chót (1915) làng Đổng Kính (sau thấy gọi là làng Đồng Văn) có tên lần lượt là Nguyễn Mạnh C., Nguyễn Trọng T. và Nguyễn Mậu T. Nguyễn Mạnh C. hay Mạnh Cáp là tên cha tôi.

Mẹ tôi sinh thời cho biết, chính cha tôi đứng ra làm khai sinh cho các con. Giờ này tôi vẫn còn giữ được tờ khai sinh của mình trong tay, và tất cả những di vật của cha mà tôi có là chữ ký của người trên khai sinh của tôi, một chữ ký cứng cỏi tưởng có thể làm rách toạc tờ giấy.

Cha tôi qua đời đột ngột, bệnh và mất trong vòng hai ngày, ở tuổi 37, hay 38 trong sự ngơ ngác của mọi người. Tại làm sao? Ai cũng hỏi thế. Uống lầm thuốc, đó là câu trả lời. Người có tiệm thuốc Bắc khang trang giữa phố, Phúc Hưng Đường, vậy mà qua đời với nguyên do khó tin.

Tôi không bao giờ quên khuôn mặt cung cách dáng điệu người, hai tay xoay chuyển ngọn đòn càn (một khúc ống tre bóng lưỡng khoảng 6 cm hai đầu vạt nhọn), cùng với chú Kim tôi, tả xung hữu đột trong một trận quần thảo trên đình làng Đổng Kính, hai người trơ trọi đã dồn cả nhóm sáu bảy người hung tợn từ đình làng xuống hồ ao bên dưới, khiến cả bọn lõm bõm í ới bỏ chạy thoát thân.

Khi quân Nhật chiếm thị xã, đóng lại nhà ga Đồng Văn, họ dùng căn nhà ngói của gia đình chúng tôi làm trụ sở. Đó là chuyện đương nhiên, không những ngôi nhà trấn giữ một ngã ba của khu phố sầm uất, cao hơn những ngôi nhà tranh hai bên, phía sau còn là một bến đò, thả xuống một con thuyền là trong nháy mắt thuyền đã trôi vào đầm sen rậm rạp ăn thông với hồ ao của chùa Đổng Kính, nhà chùa, sư cụ sư bác với gia đình chúng tôi là chỗ tương giao nhiều năm.

Khi quân Nhật chiếm khu phố, mẹ tôi vào cư ngụ trong làng với các em tôi, chỉ còn tôi 8, 9 tuổi lui tới ngôi nhà gạch để trông nom đàn lợn năm con nuôi ở cánh phải của ngôi nhà, trong một cái chuồng mái tranh khá lớn. Nghĩa là sau khi mẹ tôi sửa soạn bèo cám các thứ, tôi phải mang vác, đội vào khu nhà bị Nhật chiếm hiện còn đàn lợn bên trong, lo cho chúng ăn, xối nước rửa chuồng…

Một hôm khi ra về, ngang qua cái bàn mấy quân nhân Nhật ngồi, chợt thấy tờ giấy bạc 5 đồng Đông Dương dưới đất, tôi nhặt để lên mặt bàn, rồi tiếp tục ra về. Họ ngó tờ giấy bạc, ngó nhau nói chuyện, một người đứng dậy xoa đầu tôi (lúc ấy 8 hay 9 tuổi). Sau đó ít ngày quân Nhật rút đi.

Chuyện tưởng không có gì nữa cho đến khi mãi sau này tôi nhận được môt thùng gỗ từ Nhật gửi qua. Lúc ấy người Nhật không ai còn ở Việt Nam nữa. Chiến tranh hình như không còn quân Nhật. Từ Tokyo họ gửi tới ngôi nhà gạch của gia đình tôi một cái hộp gỗ, bên trong đầy đồ chơi bằng gỗ đủ màu, xe hơi tàu thủy, máy bay, nhà cửa, xe hỏa nhiều toa,… không còn nhớ hết mọi thứ. Hình như không ai đọc được chữ gì, nhưng tôi biết họ gửi thùng đồ chơi đó cho tôi.

Ngoài tôi ra quanh đó có ai biết quý đồ chơi đâu?

Một bài thơ còn mới:

Đêm Mơ Thấy Huệ Năng Về Nam

Mưa thôi tầm tã lúc ban mai
Nắng hửng ngoài khung cửa đợi người
Cóc chết ba năm về núi cũ
Thuyền đi kiếp trước thấy đâu đây.

Mang mang sóng vỗ bờ sông Hậu
Khấp khấp mây lùa góc núi Tây
Ng
ười chết thành ma, ma hóa mị
Ta sinh tần thủy, trụ thiên nhai.

Chợt thấy đêm qua trời Ngũ Lĩnh
Bóng ng
ười gom củi đốt thang cây
Ngồi không thành Phật – thôi đi nhé,
B
ơi với kình ngư vượt hải đài.

Thắp lửa trong tâm về thạch động
Thấy ta đối vách tưởng là ai
Mới hay m
ưa đã thôi tầm tã
Nắng hửng trong hang đá đợi người. (Viên Linh)


Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

Tiếng thơ được nhiều người chờ đợi: Trần Dạ Từ

Nhà thơ Trần Dạ Từ sinh năm 1940, tên thật là Lê Hạ Vĩnh, sinh tại Hải Dương. Ông theo gia đình di cư vào Nam năm 1954, định cư ở Sài Gòn...

Bước vào cõi giới ‘Mê Hồn Ca’ Đinh Hùng

Nói đến Đinh Hùng, người ta thường nghĩ ngay tới “Mê Hồn Ca,” tác phẩm đầu tay của thi sĩ do nhà xuất bản Tiếng Phương Đông của Hồ Dzếnh.

Dự thi Người Việt 40 năm: Báo Người Việt và người Sài Gòn

Ước mong của tôi là báo Người Việt sẽ tồn tại thêm vài chục năm nữa để độc giả trong nước có được một tờ nhật báo với những tin tức sốt dẻo

Dự thi Người Việt 40 năm: Từ ‘Thư Cho Người’ đến ‘Tiếng Việt Mến Yêu’

Tuy chưa ngồi làm việc trong tòa soạn Người Việt nhưng với hai trang báo cũng là kỷ niệm với thời gian lâu dài.

Tự Do, tờ báo chia sẻ suy tư cảm xúc

Không hiểu vì sao ngay từ những ngày đầu tiên đọc tờ nhật báo Tự Do, tôi đã nhớ ngay tên năm người chủ trương tờ báo...

Vở tuồng ‘Hai Chiều Ly Biệt’ có phải của soạn giả Thu An?

Gia đình Phong Anh lâm vào cảnh túng thiếu, nên vợ của Phong Anh đành bán đứt bản thảo soạn phẩm “Bên Bờ Đá Trắng” cho Thu An...

Nhớ về thu trước – Thơ Thọ Khương

Đâu phải mùa thu lá mới rơi/ Gió buồn hát khúc nhạc chơi vơi/ Đong đưa hờ hững mây giăng xám/ Dốc đứng chiều tan chợt nhớ người

Tứ Tuyệt – thơ Trần Vấn Lệ

Một giây một phút mà thương nhớ/ Hồ huống trăm năm, đã một đời!/ Núi cách sông ngăn đành chịu vậy/ Nợ không duyên cũng nợ duyên thôi!

Viết cho Hạc – thơ Trần Tuấn Kiệt

Một buổi tình cờ họp bạn thơ/ Hai mươi năm đó đến bây giờ/ Văn chương lấn lướt người thiên hạ/ Kết nghĩa kim bằng trọn ý thơ

Niệm khúc Nha Trang – thơ Trần Thoại Nguyên

Nha Trang ơi! Anh lại trở về/ Trời vào thu gió biển se se/ Biển êm ru xanh màu tình nhớ/ Anh lang thang lặng lẽ bước đi...