Nhìn lại một tạp chí miền Nam: Hiện Đại

Viên Linh/Người Việt  

Bìa báo Hiện Ðại do Nguyên Sa chủ trương tại Sài Gòn, 1960. (Hình: Viên Linh cung cấp)

Trong năm 1960 miền Nam Việt Nam xuất hiện tới ba tạp chí văn chương: Hiện Đại xuất bản vào Tháng Tư, tới cuối năm đó Thế Kỷ Hai Mươi mới ra số đầu, và cũng cùng tháng này Sáng Tạo tục bản; gọi là Sáng Tạo bộ mới vì nó khác hẳn tờ Sáng Tạo trước đó xuất bản từ Tháng Mười, 1956: dày hơn, đóng gáy vuông thay vì những tờ Sáng Tạo mỏng đóng gáy yên ngựa.

Hãy nói về tạp chí Hiện Đại trước.

Không phải là biên khảo văn học, nên xin lưu ý bạn đọc bài viết này nhiều phần là hồi ký ký sự, cố gắng nói đến cái chung nhiều hơn là cá nhân. Nhưng, tuy sự kiện là tài liệu văn học song nhận định của tác giả hẳn là riêng tư, ít nhất là cái nhìn của một người cầm bút bắt buộc phải là cái nhìn của chính mình, hầu qua hồi tưởng muộn màng cũng đóng góp được phần nào của riêng mình vào sinh hoạt chung của văn hóa văn học của xã hội, của thời đại mà mình có mặt.

1- Kinh nghiệm của tôi với tờ Hiện Đại là sự tình cờ, và trước lạ sau quen, do có một nhóm bạn mở một ngôi trường trung học tư thục ở Ban Mê Thuột rủ tôi hãy rời Sài Gòn một thời gian, nên năm 1959 tôi nghe theo, lên Ban Mê Thuột ở chơi vài tháng, thích thì dạy mỗi tuần vài giờ cho ngôi trường mới. Trước khi đi tôi gửi lại mớ sách vở nơi căn nhà lá ở Chi Lăng, Gia Định, trong có một xấp bài vở bản thảo, và người bạn đứng tên thuê căn nhà đó là một công chức làm việc trong Ngân Hàng Quốc Gia, anh gốc Huế, quen biết nhiều bạn bè miền Trung, sau họ cũng là bạn tôi.

Một hôm sau giờ dạy ở trường Bạch Đằng tôi thả bộ ra khu có sạp báo gần rạp xi nê Lido, tôi vẫn ra đây mua vài tờ báo trước khi tới cà phê cô Ngọc (nay không còn nhớ tên quán, có thể là cà phê Cao Nguyên). Trong xấp báo luôn luôn có mấy tờ báo tuần, báo định kỳ, báo xi nê, báo văn nghệ…

Và một hôm tôi giật mình rồi tức giận khi thấy tên mình bài mình đăng trên tờ Hiện Đại của Nguyên Sa, Tháng Năm, 1960, mà tôi không hề gửi tới. Tôi không biết có tờ Hiện Đại, không quen Nguyên Sa chủ nhiệm chủ bút, đương nhiên không hề gửi bài cho Hiện Đại. Lời giới thiệu bài viết có câu văn hoa “những ngón tay bắt được của trời” còn gây khó chịu. Tôi thích thơ Đinh Hùng, Cung Trầm Tưởng, Tô Thùy Yên, vài bài của Thanh Tâm Tuyền, vài bài của Quách Thoại, còn những bài khác chỉ đọc qua cho biết.

2- Thơ Nguyên Sa có cái hay riêng song đó là lối thơ nói, thơ nói cũng có nhiều loại, nói với đám đông, hay nói với chỉ một người; thơ Nguyên Sa thuộc loại sau, nói với em. Nói và kể nhiều hơn mô tả. Đó là thơ tình, và thơ tình chuyện tình lứa đôi. Đọc Nguyên Sa thích từng câu, ít khi có cảm tình toàn thể với cả bài.

Riêng bài này nói về tờ tạp chí Hiện Đại là chính; nhất là về các tác giả của Hiện Đại.

Chân dung Nguyên Sa. (Hình: Viên Linh cung cấp)

Sau một năm có mặt, từ số 1 ra Tháng Tư, 1960, tới tháng chót trong năm, nhiều số có chủ đề, các tác giả chính thường là năm người có tên in trên phần cao nhất của bìa báo, là những người nòng cốt thực hiện chủ đề. Chủ đề đầu là “Truy niệm những nhà văn, thơ đã từ trần,” được xếp thứ tự như sau:

-Số 1: Lê Xuân Khoa viết về Hoàng Đạo, Trịnh Viết Thành viết về Albert Camus, Nguyễn Duy Diễn viết về Vũ Trọng Phụng, Đinh Hùng viết về Thạch Lam thêm Thâm Tâm, và Nguyên Sa viết về Phan Huy Vịnh.

-Số 2: Mai Thảo, Mặc Đỗ, Thanh Tâm Tuyền, Thái Thủy, Vĩnh Lộc.

-Số  3: Mặc Đỗ, Trịnh Viết Thành, Lý Quốc Sỉnh, Nguyễn Duy Diễn, Sĩ Mộc.

-Số 4: Bình Nguyên Lộc, Hoàng Anh Tuấn, Mặc Đỗ, Nguyên Sa, Nguyễn Duy Diễn.

-Số 8: Thuần Phong, Nguyễn Xuân Hiếu, Trần Mộng Chu, Đinh Hùng, Nguyễn Duy Diễn.

Nhìn thoáng qua, một nửa các tác giả ngoài đời là các nhà giáo, đồng nghiệp của vị chủ nhiệm. Đây là một đặc thù của tờ Hiện Đại nếu so sánh với các báo văn chương khác. Sự so sánh cho thấy Hiện Đại quy tụ nhiều nhà giáo dục như thế cho nên tờ báo hiền lành hơn Sáng Tạo hay Văn Nghệ, vốn thường có những câu văn hay bài thơ táo bạo có thể gây phản ứng về mặt luân lý thường thức. Do đó vô tình cung cấp những đê tài nghe qua xem qua rồi công kích cho các mục bàn phiếm trên các nhật báo, cho các mục ngồi lê đối mach nơi quy tụ các đám đông, chợ búa hay hàng quán, nhất là những quán cà phê hủ tiếu nơi các ngã tư nhất là ngã sáu ngã bảy đầu đường.

Báo chí miền Nam có một đặc điểm có thể không có nơi những xã hội ổn định hay dưới những thể chế độc tài hoặc quân phiệt hay toàn trị do một nhóm toa rập cai trị: đó là ra báo không cần chủ nhiệm, chủ bút, chỉ cần một cá nhân đứng tên gọi là chủ trương hay là chủ trương biên tập. Vị này không cần viết văn viết báo bao giờ, chỉ cần có một tấm thẻ kiểm tra lý lịch.

Những tờ báo ở miền Nam do đó không phải báo nào cũng đại diện cho một trường phái văn đoàn nào, nhiều khi chỉ là những ốc đảo tình cờ nổi trên mặt nước, rồi cũng lặng lẽ chìm vào bóng tối thường khi; họa hoằn cũng có những tờ làm nên, những tờ này vốn có tay nòng cốt sống chết với ngòi bút.

3- Bài Phượng Liên

“Anh đi hồn tiếc thương nhiều
Ngọn soan thưa lấp bong chiều cuối sân
Nẻo sầu đôi dạ phân vân
Nửa thân yên ngựa nửa thân tay mình
Có hoài tuổi dại không em
Trời thôi dáng đỏ thu phiền không gian
Mắt em đầy mộng điêu tàn
Yên nghe ván ấy xuôi tràng giang xa
Thôi cồn với tháp bao la
Ngựa đi bước nhỏ mây là cửa ô
Mai quen với dạ bơ thờ
Đã nghe lãng đãng sương mù nhớ nhau
Thôi còn giấc ngủ canh thâu
Một hành lang rộng vây sầu phượng liên.”

VIÊN LINH

(In đúng bản sắp chữ trên trang 101, Hiện Đại số 2, Tháng Năm, 1960)

Video: Tin Trong Ngày Mới Cập Nhật

Copyright © 2018, Người Việt Daily News

Lưu ý: Để mở âm thanh, xin bấm vào nút muted icon imagephía góc phải bên dưới của khung video.

Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

Lê Công Tâm ghi nhận được những gì qua Hiệp Định Geneva 1954?

Luật Sư Lê Công Tâm cho rằng, ông thật may mắn khi có thể truy lục được các tài liệu liên quan về lịch sử Việt Nam, nhất là lịch sử cận đại.

Bài vọng cổ xưa ‘Nỗi Lòng Nàng Khương Nữ’ của Huỳnh Thủ Trung

Đến giữa thập niên 1950, soạn giả Huỳnh Thủ Trung đã dựa theo trang tình sử bi thảm của nàng Khương Nữ tìm chồng viết lên bài vọng cổ 12 câu

Tình muộn – thơ Thọ Khương

Giọt mưa buồn thánh thót/ Thu vàng gợi tình xưa/ Lá rơi chiều cúi mặt/ Thầm lặng đời lay đưa

Hành Tây Bắc – thơ Lê Tấn Dương

Ta đã lưu phương Tây Bắc này/ Hai sáu mùa, theo lá thu bay/ Hết năm, Xuân đến, hoa đào nở/ Mới thấy cuộc đời lắm đổi thay.

Tết mẹ tôi – thơ Phùng Hiếu

Sáng nay theo Xuân xuống phố/ Em lì xì ta nụ cười/ Hình như Mai chưa khoe sắc?/ Tết về Tết trải muôn nơi

Những điều nhỏ nhặt – thơ Yên Nhiên

Này hòn sỏi nhỏ giữa đường đi/ Lăn lóc đơn côi có nghĩa gì/ Phải chăng giã từ viên đá tảng/ Trải mình lót lối khách chuyển di

Tết đầu tiên ở Mỹ – Tết cuối cùng ở Việt Nam

Thày u tôi rời làng quê ở Nam Ðịnh di cư vào Nam sau Hiệp Định Genève 1954. Khi mới vào, thày u ở Khu 7 xứ Nghĩa Hòa, Ngã Ba Ông Tạ

Bắt đầu một ngày mới – thơ Trần Vấn Lệ

Hôm nay, ngày mưa tầm tã/ đó là dự báo mà thôi!/ Sáng thấy mặt trời lên rồi/ ngày Xuân, ngày vui đang tới...

Sách Mới: Tro Tàn

Tro Tàn của Đinh Phụng Tiến được kể lại trong bối cảnh của những ngày tháng đau buồn trên quê hương,trong thời điểm này.

Duy trì tiếng Việt cho con ở nước ngoài: Gian nan nhưng đáng làm

Duy trì được tiếng Việt cho con em ở nước ngoài là một việc làm khó khăn và đòi hỏi nhiều nỗ lực từ gia đình, cộng đồng và xã hội