Quán Văn (Kỳ 373)

Tha phương cầu thực

Lê Phan

Tha phương cầu thực, trong truyền thống của dân tộc Việt chúng ta, đó là một điều vạn bất đắc dĩ. Bỏ quê hương, bỏ nơi chôn nhau cắt rốn để đi kiếm ăn phương xa là một điều không ai muốn. Vậy mà hôm nay, có những người Việt sẵn sàng bỏ ra những số tiền khổng lồ so với mức sống để được đưa ra ngoại quốc kiếm công ăn việc làm. Câu hỏi đặt ra là tại sao?

Ở Việt Nam: Bên trong căn nhà khiêm tốn của ông Lê Văn Hà là tình trạng tột cùng của thất vọng, trong khi gia đình ông đang đối diện với triển vọng, ông là một trong những kẻ xấu số trong cái container ở Essex nơi 39 người được tìm thấy chết. Đó là theo lời kể của thông tín viên Đông Nam Á đài BBC viết từ Nghệ An. Bà nội ông ngồi nhìn vào khoảng không, đờ đẫn, tay che mặt. Vợ ông, bà Hà ngồi yên lặng không nói năng, từ chối năn nỉ nên ăn tí gì. Bố ông, ông Lê Minh Tuấn, ôm chặt lấy đứa cháu nội trong tuyệt vọng, chỉ âm thầm khóc.

Câu chuyện của ông Hà, cho đến khi kết thúc thảm thương ở cuối con đường, khá tiêu biểu cho những thanh niên ở các tỉnh nghèo ở miền Trung Việt Nam. Theo chân con đường quen thuộc của nhiều ngàn người khác, tìm ra ngoại quốc với hy vọng kiếm công ăn việc làm khá hơn. Ông đã rời khỏi Việt Nam trên đường đến Âu Châu từ ba tháng nay, ngay sau khi đứa con thứ nhì chào đời.

Gia đình ông đã vay mượn để xây nhà, và để có tiền đi sang Âu Châu qua những kẻ đưa người vốn đòi 25,000 đô la – một số tiền khổng lồ khiến ông Tuấn đã phải cầm hai miếng đất. Mọi sự trông cậy vào ông Hà kiếm được việc tốt, và dành dụm tiền gửi về trả cho số nợ. Ông Tuấn than thở:“Nó để lại số nợ quá lớn. Tôi không biết khi nào chúng tôi mới trả nổi. Tôi già rồi, sức khỏe không tốt, và tôi còn phải nuôi mấy đứa con của nó nữa.” Ông Tuấn tin là con mình đã chết. Ông nhận được một thông điệp Facebook ngắn trước đó nói con mình sắp rời đi Anh

Ở khắp nơi của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh đều có những tấm bảng của các công ty xuất cảng lao động quảng cáo công việc hay đi học ở ngoại quốc. Nhiều ngàn người dân ở hai tỉnh này đã nghe theo lời chiêu dụ của một cuộc sống tốt đẹp hơn mỗi năm, nhưng nhiều người chọn con đường đi chui. Đa số trong 39 người đã chết thảm ở Anh có vẻ đến từ Nghệ An. Xứ Nghệ Tĩnh, vùng đất nghèo xưa nay dân đã đi tha phương cầu thực rất nhiều. Đây là vùng đất cát cằn cỗi, nông nghiệp khó phát triển, dân chúng trông cậy vào biển. Nhưng thảm họa môi trường do Formosa Hà Tĩnh gây nên đã làm cho nghề biển cũng tiêu tan. Đối với những giáo dân nhưng ở Yên Thành hay Đô Thành, đi xuất cảng lao động chính thức là chuyện khó xảy ra nên đi chui là giải pháp duy nhất.

Billionaire Village: BRITAIN-BODIES/VIETNAM Cũng có kẻ làm giàu từ những chuyến đi mạo hiểm trông cậy vào những kẻ đưa người. Thông tấn xã Reuters nói đến “Làng tỷ phú.” Reuters kể, đã gọi là làng tỷ phú thì hẳn không ai muốn bỏ đi nhưng có ít nhất ba trong số 39 nạn nhân đã ra đi từ ngôi làng này. Một tỷ đồng chỉ khoảng 43,000 đô la, nhưng ở đất nghèo Nghệ An như ở thị xã Đô Thành, đồng tiền gửi về từ ngoại quốc rất quý và những căn nhà đồ sộ đã được dựng lên nhờ đồng tiền đó. Nhiều nạn nhân được nghĩ đến từ huyện Yên Thành quanh đó.

Ông Bùi Chung, một người dân huyện, đã xây tòa nhà bằng tiền kiếm được ở Anh cách đây vài năm. Ở Anh, theo Reuters, ông làm trong một tiệm nail của đám trồng cần sa nơi mà ông bảo ông kiếm được 500 bảng Anh một tuần. Ông Chung kể lại:“Khi nói đến những người đi ngoại quốc, kiếm công việc, cả làng này và tỉnh Nghệ Anh đã có lịch sử từ năm 1990.

Linh Mục Antoine Đặng Hữu Nam của giáo xứ Yên Thành giải thích: “Cuộc sống của người dân ở các tỉnh miền Trung đã rất khó khăn vì đất khô cằn sỏi đá. Tình hình lại còn bi thảm hơn sau thảm họa môi trường. Nó thúc đẩy một làn sóng nhiều người di dân ra ngoại quốc.”

Trên những tấm bàn thờ, những tấm hình của người mất tích, nhang đèn và những món ăn ưa thích. Cho cô thiếu nữ 19 tuổi, ra đi để mong giúp gia đình sau khi bố mất vì ung thư là Choco-Pies. Cho ông nông dân 26 tuổi gia đình nợ ngập đầu là những lon Red Bull. Đằng sau những tấm hình đó là một câu chuyện của tuyệt vọng từ một nơi nghèo đói, một ngọn đèn le lói treo từ những mái tôn nằm dọc theo những con đường không tráng nhựa.

Đó là những bộ mặt của cuộc di dân từ một phần của Việt Nam, một quốc gia mà trên giấy tờ tiêu biểu cho một trong những câu chuyện thành công về kinh tế của Á Châu. Nhưng mặc dầu lợi tức đầu người ở Viêt Nam nay trung bình là 2,549 đô la, ở Nghệ An và Hà Tĩnh lợi tức chỉ từ 1,636 đến 2,217 đô la. Tờ New York Times nói đến “người hộp” như ngày nào người ta nói đến “thuyền nhân.” Hộp đây là những container. Cha Nam bảo: “Nếu cột đèn có chân nó cũng đi.”

Nhiều ngả đường dẫn đến nước Anh: Một nhân viên của đài Al Jazeera, giả vờ làm một cặp vợ chồng trẻ muốn sang làm ăn ở Anh, gặp một kẻ đưa người ở thành phố Vinh. Bà này thản nhiên bảo đảm với họ là bà ta có thể thu xếp cho họ đi Anh với giá 32,000 đô la. Người này nói với nhân viên của đài là liên hệ của bà ta sẽ thu xếp cho họ bay từ Hà Nội đi Nga nơi họ sẽ giả vờ là sinh viên ngoại quốc hay tham gia một tour du lịch. Từ Nga họ sẽ được chở đi Âu Châu và rồi đến Anh.

Người này nói: “Tôi sẽ thu xếp cho đến Nga, rồi lấy xe ô tô đi Ba Lan, Đức và Pháp. Một khi đến Pháp, tôi sẽ đón và đưa sang Anh. Tôi bảo đảm, an toàn lắm.” Và hành trình chỉ mất vài tuần. Trên thực tế, đây là một hành trình kéo dài nhiều tuần lễ đầy nguy hiểm. Xúc phạm thể chất và tình dục là chuyện thường. Một số may mắn đến được Anh kiếm được công ăn việc làm nhưng nhiều người bị lâm vào cảnh nô lệ thời nay.

Một phóng viên người Việt của đài Al Jazeera, giả xin làm học việc không lương ở một tiệm nail để tìm hiểu. Một người bạn cùng tiệm kể lại cô bị đưa sang Anh bằng xe truck. Cô ta kể là mọi người bị tài xế đổ xăng lên người để đánh lạc hướng chó của cảnh sát, và họ được bảo phải mặc tã vì không có nghỉ trên đường đi.

Đoạn video của đài Al Jazeera kể lại chuyện một “trại” trồng cỏ tức là trồng cần sa ở một ngôi nhà ở khu ngoại ô phía Đông của Luân Đôn. Trông nom số cần sa trị giá 140,000 đồng là một nô lệ thời nay. Thiếu niên không được nêu tên này cho biết em rất ít khi ra khỏi nhà, không biết một chữ tiếng Anh và sống trong sợ hãi cảnh sát hay băng đảng. Trại thường là một căn nhà trong đó mọi sự được dẹp hết để biến thành trại trồng cần sa. Em kể lại là điện dùng để nuôi cần sa, khoảng 11,500 đô la một tháng đã bị đánh cắp. Em than phiền “có lúc em buồn quá hết sức nản chí. Em không biết ai hết và lâu lắm rồi chưa được gặp ai.” Có lần một băng Đông Âu tới trói em lại và lấy hết số cần sa sắp gặt được. Em sợ quá nhưng đám chủ không nói gì chỉ chuyển em sang một trại khác.

Em tâm sự là cố gắng vì hy vọng sẽ được trả tiền khi đến mùa và em sẽ có tiền về Việt Nam lấy vợ và xây nhà cho gia đình. Em tâm sự: “Ở trong nhà suốt ngày như thế này cũng như là ở tù. Em tưởng tượng là em đang ở tù một vài năm. Sau khi làm vài năm, em sẽ có tiền và em sẽ có việc khác.” Mà quả thật em sống như một người tù. Đêm đêm đám băng đảng mang thức ăn tới và cung cấp mọi sự.

Một em khác tên Tuấn kể lại câu chuyện còn tội nghiệp hơn nữa. Bố Tuấn mất khi em mới lên 5. Mẹ em đau ốm nên phải vay tiền. Khi bà chết Tuấn mới có 10 tuổi. Em được đưa tới viện mồ côi của mấy soeur của tỉnh Nghệ An. Đám băng đảng, cho mẹ em vay tiền, đến viện mồ côi và đòi tu viện phải ký trao hết tài sản gia đình em cho chúng để trả nợ. Khi tu viện từ chối, chúng cắt cụt một ngón tay của Tuấn và gửi đến cho tu viện. Em kể: “Họ để tay em lên một tấm ván. Họ lấy một con dao, giữ chặt em lại và chặt một đốt ngón tay, gói vào giấy. Họ sẽ giết em nếu em không ký trả nợ.”

Để cứu mạng em Tuấn, tu viện đành ký giấy tờ. Nhưng đám băng đảng bảo chưa đủ, họ bắt em đi làm việc ở một nhà kho. Vài năm sau, 15 tuổi, em bị đưa 9,600km đến một trại trồng cần sa ở Anh.

Tuấn kể em không biết mình đang sống ở nước nào. Khi thì em trồng cần sa, khi thì em trồng rau. Em diễn tả em bị đánh đập, còng chân và treo lên trần nhà, chỉ cho ăn có mỗi bánh mì, khoai tây và nước lạnh và phải ngủ trên một tấm mền mỏng trên sàn nhà. Em kể:“Em làm việc cả ngày đêm, chỉ có hai ba giờ ngủ có mền. Lạnh quá.” Em tiếp“Em làm khổ cực quá. Lạnh và đói và bị đánh đập. Em chỉ muốn chết.”

39 cái chết trong cái container đông lạnh đó là một bằng cớ nữa về sự tàn nhẫn của những kẻ vừa đưa người đi lậu vừa buôn người. Nó là một thảm họa đã có thể xảy ra vì chính quyền của hai quốc gia làm ngơ trong khi cuộc sống xô đẩy dân chúng đâm đầu vào con đường đầy nguy hiểm, một con đường đến ngõ cụt.

https://www.bbc.co.uk/news/world-asia-50203096

https://www.bbc.co.uk/news/world-europe-50236855

https://www.reuters.com/article/us-b…. -idUSKBN1X71P8

https://www.aljazeera.com/blogs/euro…074312098.html;

(Nguồn: http://khaiphong.net/showthread.php?30398-Tha-ph%26%23432%3B%26%23417%3Bng-c%26%237847%3Bu-th%26%237921%3Bc-L%EA-Phan&fbclid=IwAR3TlGmRP-VLmRTwFF4aanZyVpq3psAUA141IWgq59surdTEjdgoOsOPrco) 


Chân dung cụ ông 81 tuổi đã hiến tặng máu 1,173 lần. (Hình: Global Express News)

Hiến máu mỗi tuần trong suốt 60 năm, cứu sống 2.4 triệu trẻ em*

Khuyết Danh

Mang biệt danh “người đàn ông với cánh tay vàng,” cụ ông James Harrison 81 tuổi người Úc xác lập kỷ lục với 1,173 lần hiến máu, cứu được tính mạng của 2.4 triệu trẻ sơ sinh.

Bước ngoặt cuộc đời đã khiến ông Harrison đến với sứ mệnh cứu người cao cả bắt nguồn từ chính ca phẫu thuật năm ông14 tuổi. Nằm viện suốt 3 tháng và được ít nhất 13 người hiến máu cứu sống, từ đấy Harrison đã quyết tâm sẽ trở thành người hiến máu tình nguyện như một cách cảm tạ những người không quen biết đã cứu mạng mình.

Giữ trọn lời hứa, kể từ khi năm 18 tuổi đến nay, bất chấp chứng sợ kim tiêm, hàng tuần, ông Harrison vẫn đều đặn đi từ bang New South Wales đến trung tâm hiến máu của Hội Chữ Thập Đỏ Úc.

Loại máu kỳ lạ cứu trẻ sơ sinh bị chứng tan máu: Năm 1967, các bác sĩ phát hiện huyết tương trong máu của ông Harrison có kháng thể dùng để chế ra “kháng thể Anti-D,” chữa chứng tan máu ở trẻ sơ sinh, cứu sống các bé gặp nguy hiểm đến tính mạng. Chứng tan máu ở trẻ sơ sinh là chứng máu mẫn cảm, thường hay xuất hiện ở phụ nữ mang thai có máu RhD-, khi kết hợp với máu của người bố là RhD+ thì sẽ bắt đầu sinh ra kháng thể tấn công thai nhi mang “tế bào máu ngoại lai” và hồng cầu của bé, dẫn đến phản ứng tan máu, dễ gây thiếu máu, nghiêm trọng có thể gây nên khiếm khuyết não bộ, bại liệt hoặc sẩy thai.

Các nhà khoa học của Úc hiện đã dùng kháng thể đặc biệt trong máu của ông James để phát minh ra một loại vaccine có tên gọi là Anti-D Immunoglobulin (ở Úc số người có kháng thể này không quá 50 người). Nhờ sự cống hiến của ông James mà Úc đã trở thành một trong những quốc gia phát hiện ra có kháng thể này trong máu người sớm nhất, tạo ra một chấn động có tính cách mạng trong nghiên cứu khoa học để cứu sống hàng triệu trẻ em, theo Sydney Morning Herald.

Trở thành người hiến máu nhiều nhất trong kỷ lục Guinness: Trung tâm nhận máu của Hội Chữ Thập Đỏ Úc cho biết, ông James đã trở thành người hiến máu nhiều nhất trong kỷ lục Guinness. Mỗi tuần ông James hiến 500-800ml huyết tương, trong liên tục 60 năm và đã cứu được khoảng 2.4 triệu trẻ em.

Theo cô Jemma Falkenmire, nhân viên của trung tâm nhận máu Hội Chữ Thập Đỏ Úc: “Mỗi túi máu đều rất quý giá, nhưng máu của ông James lại hết sức đặc biệt. Máu của ông ấy có thể điều chế thành thuốc cứu mạng cho những người mẹ có máu có khả năng tấn công thai nhi. Mỗi đợt kháng thể Anti-D mà Úc điều chế đều đến từ máu của ông ấy.” Cô Falkenmire cho biết thêm, ở Úc có hơn 17% phụ nữ đối mặt với nguy cơ này, vì thế ông James đã cứu được vô số sinh mệnh.

Kể từ năm 1967, đã có hơn 3 triệu kháng thể Anti-D được đưa vào cơ thể của những người mẹ có máu Rh-. Bản thân con gái ruột của ông James cũng là người nhận máu do ông hiến tặng.

Ông Robyn Barlow, một điều phối viên chương trình Rh đã tìm đến ông James cho hay: “Ông ấy rất tuyệt vời, có rất ít người hiến máu trong thời gian dài mà mạch máu còn khỏe như vậy. Mỗi đợt kháng thể Anti-D mà Úc điều chế ra đều có một phần của ông James.” Ông James Harrison đã cứu sống vô số người và được xem là “anh hùng của nước Úc.” Tuy nhiên, ông chỉ khiêm tốn chia sẻ: “Đây là việc mà tôi có thể làm được. Tôi chỉ có một tài năng và cũng là thiên phú duy nhất, đó chính là hiến máu.”

Vào ngày 11 Tháng Năm, 2018, ông Harrison đã thực hiện chuyến đi hiến máu cuối cùng, lần thứ 1. 173, vì đã tới độ tuổi không còn được phép hiến máu. Nhiều cặp cha mẹ cùng những đứa trẻ đã được ông cứu sống đã tới bệnh viện để kỷ niệm sự kiện này. Nhiều người đã đến ôm ông và không ngừng cảm ơn “người đàn ông có cánh tay vàng.”

30 Tháng Năm, 2018

(Nguồn: http://cuocsongomy.com; qua http://khaiphong.net/showthread.php?30415-%91Ng%26%23432%3B%26%237901%3Bi-%26%23273%3B%E0n-%F4ng-c%F3-c%E1nh-tay-v%E0ng%92-Hi%26%237871%3Bn-m%E1u-m%26%237895%3Bi-tu%26%237847%3Bn-trong-su%26%237889%3Bt-60-n%26%23259%3Bm-c%26%237913%3Bu-s%26%237889%3Bng-2-4-tri%26%237879%3Bu-tr%26%237867%3B-em)

* Tít nguyên thủy: ‘Người đàn ông có cánh tay vàng’: Hiến máu mỗi tuần trong suốt 60 năm, cứu sống 2.4 triệu trẻ em.


Thơ A.N.A.V.

Lá rơi

Mưa,
giữa ngày Tháng Mười ở Quebec..
Thời gian trôi qua
lá lại rơi…
Lá rơi quyện dưới chân tôi
Một giai điệu nhẹ nhàng
Nhớ những hy vọng vỡ tan

Như chứng tích
của một bầu trời đã khuất
Một lần tôi bước qua
Quá khứ đầy mê hoặc
Trở lại nơi những rừng lá
chưa lần đến!

Ôi! Nước mắt ngốc nghếch,
tại sao lại bắt đầu,
Để tim tan vỡ
vì lá rơi?

(Nguồn: [email protected])


Thơ Đặng Quang Tâm

Trở về

Tôi về mưa vẫn còn chưa tạnh
Nắng đuổi hoàng hôn trời trở chiều
Xóm nhỏ đìu hiu nằm hiu quạnh
Tiếng đàn ai gảy tiếng cô liêu

Gõ cửa nhà quen tìm bạn cũ
Vườn trống còn trơ một bụi hoa
Con vện nằm im chờ đợi chủ
Uể oải nhìn tôi chủ vắng nhà

Mây ở tầng cao gió gọi về
Hồn quê nương níu chút tình quê
Xa xôi thăm bạn bè năm cũ
Buồn ở đâu về sao tái tê

Ngồi trước hiên nhà ôn dĩ vãng
Nơi này tôi sống tuổi thiếu niên
Người đi kẻ mất ngày di tản
Cảnh cũ vườn xưa vẫn để nguyên

Đốt ngọn đèn chong ngồi thao thức
Một mình tôi đếm tiếng mưa rơi
Thế gian tưởng giả mà như thực
Chớp mắt là xong một kiếp người

Ai về bắc lại cầu thương nhớ
Để chở dùm tôi vạn nỗi sầu
Đem bỏ chỗ này sang chỗ nọ
Cho đời vơi bớt những cơn đau

Đèn khuya soi bóng ai trên vách
Hai mái đầu chung một nỗi buồn
Âm dương đôi nẻo đời ngăn cách
Văng vẳng nhà bên gõ tiếng chuông
(11-2-2019)

Người về

Người về cách một dòng sông
Rẽ đôi con sóng rẽ lòng xót xa
Còn đây còn một mình ta
Ngó theo trăng lặng xuống tà áo ai

Rượu này ta uống cho say
Cho đêm sum họp cho ngày họp tan
Còn đây còn nửa phiếm đàn
Tiếng ngân chưa dứt tiếng than não nề

Người về ta tỉnh cơn mê
Ta về ta chỉ thấy tê tái lòng
Còn đây còn nửa dòng sông
Nửa mong nửa đợi sáng trông tới chiều

Lòng ta trăm nỗi quạnh hiu
Biết ai để nói hết điều nhớ nhung
Người đi mưa gió lạnh lùng
Gặp nhau đợi buổi trùng phùng kiếp sau

(Nhóm Văn Nghệ Trăng Vàm Cỏ Đông Tây Ninh)

[Nguồn: sangtao@org]


Thơ Lê Minh Hiền

Mặc niệm

Tôi cúi đầu mặc niệm
39 linh hồn
một lần rồi một lần…

Tin xa ngày chưa xa (Tháng 10 ngày 23)
Em đã mãi thiên thu
Nhìn nhau qua chân dung
Em xinh tươi lạ lùng
Bao lần tôi thầm nhủ
Nếu không có vạch tang
Gạch chéo giữa khung hình
Chắc hẳn tôi đã làm
Một bài thơ thật đẹp
Ca ngợi tuổi thanh xuân
Tình yêu và ước mơ
39 đồng bào tôi

Tin xa ngày chưa xa
Bài thơ nầy tiễn biệt
một lần rồi một lần
39 linh hồn
Trăm năm buồn không nói
Đêm nay mưa không rơi
Chỉ nghe sầu nhân thế
Rụng xuống giòng thời gian
4000 năm phiêu dạt
Bước sinh tồn hư hao…

Thôi em bờ sinh tử
Đời một lần bước qua
Chia xa mình chia xa
Cõi người ta cát bụi
Thôi xem như quán trọ
Em về cõi vĩnh hằng
Ngàn năm cùng hư vô…

Tôi cúi đầu mặc niệm
39 linh hồn

(Nguồn: [email protected])


Thơ Nguyễn Minh Phúc

Người về như nắng

người về như nắng giêng hai
tôi cầm những giọt dần phai trong chiều
sợ người quên một lời yêu
sợ ngày mưa gió hắt hiu sương tràn

chập chùng con phố thênh thang
như tình tôi ánh đèn vàng xước mưa
bên trời sóng vỗ âm thưa
biết người còn nhớ ngày xưa không người

khẽ khàng một chút tình tôi
rơi trong quên lãng để rồi biệt tăm
con tim đau những vết bầm
môi kia ai gửi sóng ngầm vào nhau

người rồi như nắng vàng phai
dốc cao đỉnh nhớ lạc loài một tôi
vin tay hái nỗi ngậm ngùi
tôi cầm giọt nắng tình vùi cô liêu…

Nhặt nắng thu vàng
chút nắng vàng năm cũ
rơi nhẹ hiên thềm tôi
hoa cúc chiều hé nụ
tình ngọt nồng đôi môi

em về đây một thuở
hong tình tôi ngọt bùi
con chim chùng cánh mỏi
hót giữa trời âm vui…

tôi nghe mùa reo gọi
tiếng dương cầm trong mưa
ngỡ như lời thu nói
tình ấm mấy cho vừa…

ngỡ như trời hạnh phúc
về đậu giữa môi hồng
mùa xưa vàng hoa cúc
trổ đầy trời mênh mông

…em đi và bỏ lại
chút tình tôi hiến dâng
người bỏ người đi mãi
còn đầy trời bâng khuâng

nắng vẫn vàng mấy độ
bên hiên chiều lặng câm
như tình tôi một thuở
rơi từng giọt âm thầm

nhặt nắng vàng thu úa
trong từng chiều dần phai
tôi cầm mùa thu cũ
lòng ngập ngừng nhớ ai…

(Nguồn: sangtao@org)


Thơ Trần Thoại Nguyên

Thưa mẹ!
Đứa con đi hoang nay đã trở về!

Thưa Mẹ! Con đã về bên Mẹ
Đứa con đi hoang nay đã trở về nhà
Linh hồn con giờ không còn trắng trong thời thơ bé
Với bao vết xước suơng gió cát bụi đường xa!

Con hư đốn giữa chợ đời tha hóa
Lòng Mẹ thương con thao thức ôi biết mấy đêm dài
Tóc bạc thêm với tuổi già tàn tạ
Đứa con trở về nay Mẹ đâu còn tương lai!

Con đâu biết những tháng ngày lang thang lăn lóc
Để Mẹ hẩm hiu lóc cóc cỗ xe sầu
Mẹ ơi! Ôm Mẹ mà con khóc
Đất trời quặn thắt sóng biển dâu!

Biết tìm nơi đâu cho lòng Mẹ yên tĩnh
Sáng nay nắng đẹp con đưa Mẹ lên chùa
Gió trăng mười phương đời tôi ơi
hãy dồn hương thanh tịnh
Cho đứa con đi hoang trở về
dâng Mẹ một khoảnh khắc sao rua!

(Nguồn: sangtao@org)


Ác mộng của tôi và không chỉ của riêng tôi

Hoàng Hưng (diễn văn)

Trước hết, tôi xin cảm ơn Santa Casa da Misericordia de Lisboa, là đơn vị tổ chức Tuần Văn Hóa Việt Nam đầu tiên tại Bồ Đào Nha, đại diện là bà Margarida de Montenegro; bà Teresa Morna giám đốc bảo tàng Museu de Sao Rocque, nơi cho chúng ta gặp mặt; bà Thuy Tien de Oliveira, chủ tịch Hội Hữu Nghị Việt-Bồ người đã góp nhiều công sức cho sự kiện; họa sĩ Painter Manuella de Oliveira, tác giả một phụ bản mỹ thuật của cuốn sách thơ “Ác mộng-Nightmares”; các bạn tôi từ Canada và Pháp, GS-nhà văn Nguyễn Mạnh Hùng… tới đây để động viên tôi… Và xin cảm ơn tất cả quí vị có mặt tại đây để nghe tôi tâm sự.

Trong hơn 1000 đêm ở các trại giam và trại cải tạo của Việt Cộng, ít có đêm nào tôi không ác mộng. Một mặt tường đậu kín những con chim đen. Bảy mặt trời vần vụ trên cánh đồng hoang mà tôi đi lạc. Một lưỡi rìu mài vào cái đầu mình. Một con cá vàng đồ sộ bị mắc vào tấm lưới mênh mông… Rồi rất nhiều đêm sau khi ra tù, ác mộng vẫn tiếp tục đi vào giấc ngủ: lúc này là bị săn đuổi, bị bắt lại, lại thấy mình trong trại tập trung… Tỉnh dậy, áo đẫm mồ hôi.

Trong cái “Mùa Địa Ngục” – dùng chữ của Rimbaud – ấy, thơ là thiên thần cứu rỗi. Những ác mộng đã được ghi lại thành thơ. Đó là những phác thảo thơ, những đoạn thơ, có cả những bài thơ trọn vẹn đã “vụt hiện” trong óc trong 39 tháng tù, không được phép ghi lại bằng giấy bút nhưng đã khắc sâu trong lòng. Sau khi ra tù tôi chép ra và hoàn chỉnh, và bổ sung bằng những bài thơ “hậu chứng” của nhà tù, ác mộng của kẻ không dễ dàng trở về đời sống bình thường.

Tôi quyết định phải tìm cách công bố những cơn ác mộng sản phẩm của nhà tù, để tự giải thoát khỏi chúng.

Một vài bài thơ đã được công bố nhờ sự dũng cảm của nhà vài xuất bản, và đã gây tiếng vang trong dư luận, bản dịch cũng được hoan nghênh ở Pháp, Mỹ. Nhưng toàn bộ tập bản thảo “Ác mộng” gồm 30 bài thơ thì bị các NXB Việt Nam từ chối nhiều lần, chỉ có thể công bố trên mạng (website talawas của các nhà văn ViệtNam sống tại Đức).

Cuối cùng, tập thơ song ngữ “Ác mộng – Nightmares” (bản tiếng Anh của các nhà thơ-dịch giả Trịnh Y Thư, Nguyễn Đức Tùng) gồm 33 bài cũng được xuất bản tại Hoa Kỳ năm 2018, với lời giới thiệu của Ellen Bass, đương kim Chancellor of the Academy of American Poets.

Đó là một tập “nhật ký bằng thơ” ghi lại trung thực những cảnh sống như dưới địa ngục, những tâm trạng bức bách, hãi hùng, tuyệt vọng của một người tù không án không biết được ngày về. Nhưng cũng có những giây phút ấm lòng vì tình gia đình qua một giấc mơ sum họp, tình quê hương qua một cánh hoa mà gió đưa vào qua song sắt, tình người qua những bài hát của một bạn tù không thấy mặt… Và rồi, đến những ám ảnh dai dẳng của người cựu tù trong cuộc sống hậu nhà tù, luôn cảm thấy sau lưng có con mắt theo dõi, nghẹn ngào như con chó phát điên vì không thể cất lên tiếng nói.

“Thơ tù” của tôi đã nhận được nhiều bình luận. Xin đơn cử ý kiến của ba nhà thơ Việt Nam, Mỹ, Pháp: Một tập thơ căng mọng sự thật. Mỗi chữ mỗi dòng đều từ sự thật mà ứa ra, bật ra, bung ra. Những con chữ vỡ, nổ… Đó là nỗi trằn trọc, băn khoăn, day dứt vào nửa cuối thế kỷ XX mà sau hai cuộc tổng chiến khủng khiếp, tưởng là sau những Postdam, những Nuremberg, Paris, những Genève… sẽ yên ổn cả, hoá ra… Chao ôi!… Nỗi quằn quại của đời anh, ngòi bút anh đang nói với chúng ta đôi điều mới lạ về số phận con người-Hoàng Cầm, nhà thơ trong nhóm cầm đầu phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm ở Việt Nam.

Đọc bản dịch các bài thơ của ông, tôi rất xúc động vì những xúc cảm về sự lạc lõng và mất mát trong đó. Chắc là cả thế giới chúng ta đã đi đến cùng một chỗ đắng cay như thế (Robert Creeley, Chancellor of the Academy of American Poets 1999).

Điều mà tôi yêu trong các bài thơ của Hoàng Hưng, đó là ông đã phục dựng cái thực tại khách quan, bên ngoài thông qua lăng kính của tinh thần, của cái thực tại bên trong, chủ quan, mộng mị và nhạy cảm. Cho nên trong thơ ông có những ghi nhận chính xác về các sự vật, nơi chốn hay biến cố, nhưng những cái đó truyền đạt tới chúng ta đã được phóng đại, biến dạng, sửa đổi bởi những gì mà tác giả nhìn thấy và bởi những gì rung lên trong ông (Marie Etienne, French Poet, Editor of Aujourd’hui Poeme).

Nhà thơ Hoàng Hưng.

Tôi biết câu hỏi sẽ được quí vị đặt ra là: Chuyện gì đã dẫn tôi tới nhà tù trong khi tôi đang là một nhà báo của nhà nước?

Muốn hiểu câu chuyện, cần hiểu sơ lược đường lối văn hóa của Đảng CSVN từ khi họ nắm quyền ở miền Bắc VN (1954) và trên cả nước Việt Nam thống nhất sau 1975.

Sau khi đuổi được người Pháp và nắm quyền trên miền Bắc Việt Nam, chính quyền CSVN có một thời gian ngắn theo gương Trung Hoa Cộng Sản cho phép “trăm hoa đua nở,” để cho trí thức văn nghệ sĩ lên tiếng tương đối tự do trên những tờ báo tư nhân. Đó là hậu quả của thời kỳ “giải Stalin” và đường lối “chung sống hòa bình” của ĐCS Liên Xô. Nhưng rất nhanh chóng, cũng theo đuôi Trung Cộng, đường lối ấy của ĐCSVN chấm dứt với cuộc đàn áp tập san “Giai Phẩm” (Belles Lettres) và báo “Nhân Văn” (Humanism), để sau đó nhà nước áp đặt triệt để hệ tư tưởng Marxist-Leninist nhưng thực chất là Stalinist, Maoist lên toàn xã hội, theo đúng mô hình của chủ nghĩa “toàn trị.”

Các nhà văn trong phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm bị tước quyền công bố tác phẩm.

Tuy nhiên, họ vẫn âm thầm sáng tác, và tác phẩm của họ – những bài thơ được kín đáo lưu truyền trong những người hâm mộ. Hoàng Cầm là một nhà thơ được yêu mến nhất trong số đó. Tập bản thảo chép tay của ông được truyền tay suốt hơn 20 năm (từ 1960 đến 1982). Sau khi có những người Việt ở nước ngoài đầu tiên được phép về thăm quê hương, một số bài thơ trong bản thảo của Hoàng Cầm được đưa ra công bố ở nước ngoài, khiến nhà cầm quyền Việt Nam giận dữ. Một tấm lưới bí mật được an ninh giăng ra xung quanh Hoàng Cầm. Tôi đã tình cờ sa vào đó khi đến xin ông một bản chép tay tập thơ. Họ bắt tôi với tội danh “lưu truyền văn hóa phẩm phản động.”

Chẳng may cho tôi là từ việc này, an ninh phát hiện trong nhà tôi những phác thảo thơ trong nhật ký mà họ thấy là “phản động gấp 100 lần” thơ Hoàng Cầm. Đó là những đoạn văn vần thể hiện sự hoài nghi về tương lai đất nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa, đã nảy nở trong tôi ngay từ những năm 1970 với kết luận cay đắng:

Vâng
Chúng tôi cứ khoanh tay nhắm mắt ngồi nhìn
Sự nặng nề ngu độn của các anh
Cứ chầm chậm dìm con tàu xuống biển

Đó là lý do thật sự khiến cho tôi, một nhà báo của “nhà nước,” bị “tập trung cải tạo” cùng với hằng vạn sĩ quan, công chức của chế độ Sài Gòn thất trận sau cuộc nội chiến Bắc-Nam 1954-1975.

Đàn áp tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, luôn luôn là quốc sách của các chế độ Cộng Sản. Lý do đơn giản là: Nhà cầm quyền CS thấu hiểu tác động lớn lao của việc truyền bá tư tưởng qua báo chí và văn học nghệ thuật. Bản thân các đảng CS khi chưa nắm quyền đã tận dụng sự tự do báo chí trong xã hội tư bản, thậm chí ngay cả trong xã hội thuộc địa của các nước tư bản, để tuyên truyền cho cuộc cách mạng của mình. “Dùng cán bút làm đòn xoay chế độ” đã là một tuyên ngôn của nhà lãnh đạo CSVN thời đó. Cho nên, khi nắm được chính quyền, việc đầu tiên của họ là nắm độc quyền tuyệt đối về báo chí, xuất bản, để ngăn chặn mọi suy nghĩ trái đường lối của Đảng dù là nhỏ nhất, xa xôi nhất.

Ở Việt Nam, những vụ án về văn hóa văn nghệ gây chấn động dư luận đã được thi hành một cách hữu ý, nhằm cảnh cáo tất cả những ai có mầm mống phản kháng chớm nở trong đầu. Đó là những vụ án: báo Nhân Văn-Giai Phẩm, “Nhạc vàng” (kết án những người hát loại ca khúc tình yêu không mang tính cách mạng), tập thơ Hoàng Cầm… Từ khi Internet trở thành phương tiện lan truyền các ý tưởng tự do, VN đã thực hiện hằng trăm vụ bắt bớ, xử án nặng những người phát biểu chính kiến của mình trên mạng, và gần đây đã ban hành Luật An Ninh Mạng với mục đích hợp pháp hóa việc đàn áp quyền tự do tư tưởng trên mạng. Việc này gây ra một tâm trạng tiêu cực trong xã hội: dường như ai cũng thấy mình là “tù nhân dự bị,” như thể hiện trong một câu thơ của một nhà thơ vốn trung thành với đảng:

Tất cả chúng ta
Đang chờ bị bắt…

Nhưng chính trong hoàn cảnh ấy, suốt nửa thế kỷ qua, đã ra đời không ít tác phẩm viết về trải nghiệm nhà tù và hậu-nhà tù của các nhà văn, nhà thơ Việt Nam. Xin chỉ kể vài cái tên. Tập thơ “Hoa Địa Ngục” của Nguyễn Chí Thiện, việc ông mưu toan đưa nó vào Sứ Quán Anh ở Hà Nội đã khiến ông bị tù lần thứ hai và sau đó lưu vong sang Mỹ.

Tiểu thuyết “Chuyện Kể Năm 2000” của Bùi Ngọc Tấn đã bị thu hồi và nghiền thành bột giấy ngay sau khi phát hành.

Cũng như “Ác Mộng” của tôi, các tác phẩm trên cũng như những tác phẩm gần đây của các tù nhân lương tâm trẻ tuổi như Phạm Thanh Nghiên cùng với nhiều tác phẩm của các nhà văn Việt Nam lưu vong viết về nhà tù Việt Cộng chỉ có thể xuất bản ở nước ngoài (như tiểu thuyết “Đêm Giữa Ban Ngày” của Vũ Thư Hiên ở Pháp, hồi ký “Đại Học Máu” của Hà Thúc Sinh ở Mỹ).

Tuy nhiên, gần đây, việc “tự xuất bản” và lưu truyền không chính thống các tác phẩm loại này ngày càng phổ biến ở Việt Nam, mới nhất là tập thơ “Thương Ơi Là Thương” của tù nhân chính trị nổi tiếng Trần Huỳnh Duy Thức.

Hôm nay, được có cơ duyên giới thiệu với quí vị những bài thơ “Ác Mộng” của bản thân, tôi xin thưa với quí vị rằng: những cơn ác mộng của tôi chỉ là một phần rất nhỏ trong cơn ác mộng lớn kéo dài đã hơn một thế kỷ của người dân Việt Nam, từ thân phận nô lệ dưới chế độ thực dân Pháp đã trở thành tù nhân của một chế độ toàn trị của chính người bản địa, đúng như trong một ý thơ của một nhà thơ Ba Lan thế kỷ 19 mà tôi đã nhắc lại trong nhật ký từ năm 1970:

Họ tháo cho ta cánh tay xiềng xích
Rồi đem xiềng xiềng chặt óc tim ta

Xin cầu cho mọi xiềng xích gãy nát, mọi ác mộng tan biến trong ánh sáng của Sự Thật và Tình Thương. Đó là ước mong và lời nguyện cầu của tôi hôm nay, dưới mái nhà của Thượng Đế nhân từ.

18/10/2019 Museu Sao Roque, Lisbon

(Nguồn: Bài do nhà thơ Bùi Hiền chuyển qua sangtao@org)

[jwplayer fu2bgcEn-YzmDPLlM]

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT