‘Văn hóa không tên’ tạo nên linh hồn của Sài Gòn xưa
Văn Quang
Buổi sáng Thứ Sáu tuần vừa qua, tôi được một ông bạn điện thoại đến rủ ra Givral uống cà phê. Tôi rất ngạc nhiên vì từ hơn 2 năm nay Givral nằm trong thương xá Eden đã bị đập phá tan tành để… làm một cái gì đó ở Sài Gòn này, chắc cũng “vĩ đại” như tòa nhà Vincom chiếm trọn khu vườn hoa trước mặt.
Mỗi lần đi ngang qua đường Đồng Khởi, tôi không thể nào quên đó là đường Tự Do xưa kia của chúng tôi. Nhìn toàn bộ khu tứ giác Eden chỉ còn là đống gạch vụn với những hàng rào kiên cố xung quanh cứ như nhìn thấy cái gọi là “trại cải tạo.” Thì ra, sau hơn 12 năm, cái “trại cải tạo” ấy vẫn còn ám ảnh tôi ngay cả trong vô thức, đôi khi ngay cả trong giấc mơ. Thế nên mỗi khi đi qua khu Eden bị tàn phá đó, tôi bỗng cúi đầu, chẳng muốn nhìn lâu và cũng chẳng muốn tìm hiểu xem trong thời gian tới, nó sẽ mọc lên cái gì. Tôi cứ nghĩ Gival đã thuộc hẳn về quá khứ, như những người bạn tôi ra lò hòa thiêu, không bao giờ gặp lại. Đường Tự Do.
Ông bạn thấy tôi khựng lại, bèn giải thích: “Nó mở lại Givral hôm qua (10-10-2012) ở chỗ cũ rồi ông ạ. Cũng điểm tâm, cà phê như xưa. Ra ngồi xem cho biết, nhớ lại chút kỷ niệm xưa.” Nghe bùi tai, tôi đồng ý ngay. Dù biết rằng ra đó ngồi sẽ rất ngậm ngùi nhớ bạn, nhờ tình, nhớ thời trai trẻ, nhớ đủ thứ… trong cái không gian ấy.
Nói đến Gival là nhớ đến La Pagode, Brodard,… chắc chắn những người đã từng sống, từng ghé qua Sài Gòn chưa ai quên. Nhất là những văn nghệ sĩ, nhà báo, dân biểu, thường ngồi ở đấy làm nơi trao đổi tin tức nghề nghiệp. Còn một số lớn khách du lịch, sĩ quan, quân nhân, công tư chức làm việc tại “thủ đô miền Nam” và các bạn trẻ Sài Gòn thập niên 60-75 cũng hay lui tới nơi này. Đây là một địa điểm trung tâm thành phố, rất thuận tiện cho mọi việc, từ hẹn hò, mua sắm vài thứ, đợi giờ vào rạp chiếu phim, hoặc chỉ đi “bát phố” mà hồi đó chúng tôi gọi là đi “hittuking,” tức là đi “hít tủ kính” chứ không mua bán gì. Hơn thế, thương hiệu bánh ngọt Gival rất nổi tiếng, thu hút nhiều khách sành ăn. Mấy bà đi ngang qua Lê Lợi-Tự Do ghé vào mua vài cái bánh mang về cho chồng con là chuyện bình thường.
Givral, La Pagode, Brodard đã trở thành một cái “trục văn hóa không tên” phảng phất mà rất sâu đậm trong cái hồn của Sài Gòn.
Sau năm 1975, Gival vẫn còn sống sót cho đến khi khu này bị “giải tỏa,” nhưng khách không còn “chọn lọc” như thời xưa. Khách hàng đủ mọi loại, ông Tây bà Đầm, ông Hàn Quốc bà Đài Loan, chân dài đẹp, chân dài xấu, nghệ sĩ thập cẩm ra vô thong thả và giá cả cũng vào loại trung bình, không “mềm” cũng không “cắt cổ.”
Trong khi ông bạn tôi tìm chỗ gửi xe, tôi đứng trên đường Lê Lợi nhìn qua khung kính vào nhà hàng Gival mới. Nó vẫn ở cái góc Lê Lợi-Đồng Khởi, mấy cái cửa kính lớn vẫn cho khách có thể nhìn ngắm hai mặt đường phố và tất nhiên khách đường phố cũng có thể chiêm ngưỡng những khách hàng “đẳng cấp” ngồi bên trong.
Điếu đáng tiếc nhất là cái cột to tướng đúng vào góc đẹp nhất che lấp mất tầm nhìn nơi cửa chính trước kia, làm cho không gian có vẻ như chật chội hơn, không thể nhìn thẳng ra nhà hát lớn, khách sạn Continental với phong cách rất Tây và khách sạn Caravelle cùng cái vòng xoay và những con đường chảy vào giữa lòng thành phố.
Chúng tôi bước vào nhà hàng với một vẻ lạ lẫm. Những chiếc bàn ghế mới toanh, những bộ salon kê hai bên góc khá đẹp. Tất cả đều mang dáng vẻ sang trọng như bất cứ một nhà hàng cà phê, điểm tâm “có hạng” nào ở những thành phố lớn.
Khoảng 9 giờ sáng, khách đã chiếm hết số bàn trong tiệm. Số còn lại ngồi rải rác quanh chiếc comptoir hình móng ngựa. Những người hoàn toàn xa lạ ngồi riêng biệt, chẳng ai nhìn ai. Cái không khí ấy khiến tôi không thể quên những ngày xưa. Tuy ngồi khác bàn nhưng chúng tôi vẫn có thể biết xung quanh mình có những ai. Bàn bên kia là bốn năm anh ký giả chuyên làm tin hành lang Quốc Hội, bàn góc trái là mấy ông dân biểu Hạ Nghị Viện thời Đệ Nhị Cộng Hòa đang say sưa bàn về những “ý kiến” đã và đang chuẩn bị lên diễn đàn. Bàn giữa nhà là mấy “dân chơi” quen mặt, có lẽ ngồi đợi người đẹp…
Thỉnh thoảng một cái gật đầu, một cái vẫy tay, một ánh mắt thân thiện. Sự gần gụi, quen thuộc ấy chính là cái linh hồn của Givral trước 1975. Bây giờ không tìm lại được nữa.
Cái “trục văn hóa” từ La Pagode, Givral đến Brodard khác nhau thế nào?
Nằm chung trên đường Tự Do xưa, có ba quán café cùng nổi tiếng như nhau. Bắt đầu từ nhà hàng La Pagode ở góc Lê Thánh Tôn-Tự Do, qua vài nhà hàng đến tiệm sách Xuân Thu, đến hành lang Eden, trong đó có rạp Ciné Eden từ hồi Cựu Hoàng Bảo Đại mới lên ngôi. Đến góc đường này là Givral nằm đối diện với khách sạn Continental, sát bên trụ sở Hạ Nghị Viện (nhà hát lớn TP cũ), nhìn chéo sang phải là khách sạn Carvelle sinh sau đẻ muộn. Đi quá chút nữa là nhà hàng Brodard.
Ba tiệm cùng nằm trên một con đường rất gần nhau, chỉ cách khoảng trên dưới 100m và gần như có kiểu kinh doanh giống nhau… Nhưng thật ra, nếu để ý kỹ, khách hàng thường chia làm 3 loại khác nhau. Ở đây tôi chỉ kể riêng về mặt “sinh hoạt văn hóa.”
Trước hết phải kể đến nhà hàng La Pagode, tôi cho là“cổ kính” nhất. Ngay từ những năm1953, khi tôi mới biết taxi là “cái giống gì” (bởi ở miến Bắc hồi đó chưa có taxi), tôi đã biết La Pagode. Hồi đó Pagode còn bày hàng ghế salon bọc da ra ngoài hành lang, theo lời ông Nguyên Sa thì nó giống hệt nhiều nhà hàng ở Paris. Ngồi ở đây thoáng đãng. Khách đến thường chỉ dùng một ly cà phê, ngồi từ chiều đến tối mịt. Phía trong có một bàn đánh “tin” dành cho khách giải trí chứ không có mục đích cờ bạc kiếm tiền. Ông Hoàng Hải, anh ruột của cố Chuẩn Tướng Lưu Kim Cương, có thể kể là một “nhà vô địch” về môn giải trí này. Chúng tôi chỉ cần mua một chục cái jeton, như đồng xu, bỏ vào khe là chơi triền miên. Cứ sắp hết lại kêu ông ông Hoàng Hải “cứu giá,” bonus lại đổ xuống hàng đống jeton tha hồ chơi. Khách hàng của La Pagode hầu hết là nhà văn nhà thơ, nhạc sĩ, ca sĩ. Cứ vào buổi chiều, sau giờ tan sở là tụ tập lại đây. Tất nhiên cũng ngồi thành nhóm. Những ngày đầu tôi thường đi cùng Thanh Nam, Thái Thủy, Hoàng Thư và đến đây thường gặp các anh Nguyên Sa, Trần Thanh Hiệp, Mặc Thu, Cung Trầm Tưởng, Mai Thảo, Phạm Đình Chương, Tạ Quang Khôi, Viên Linh, Nguyễn Đạt Thịnh, Phạm Huấn, Anh Ngọc, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Nguyễn Đình Toàn… Quá nhiều, tôi không thể nhớ hết.
Thật sự cái nhu cầu chính là đến đây gặp nhau, để… nói dóc, “bình loạn” vài cái tin văn nghệ, thời sự chính trị cho vui thôi. Cả ba nhà hàng này với những cái “loa ngầm, loa không ai kiểm chứng” nên có thời người ta gọi những tin tức ấy là “radio catinat” (bởi con đường Tự Do, thời Pháp được đặt tên là đường Catinat). Tuy nhiên cũng có những nguồn tin “bí mật quốc gia” rất chính xác bên cạnh những nguồn tin chẳng bao giờ là sự thật. Nó cứ nhập nhằng như thế nên “radio Catinat” chưa chắc đã là “láo toét” như nhiều người kết tội nó.
Vậy tạm gọi Pagode dành cho giới viết lách gặp nhau, xả stress.
Còn Givral đông nhất và đáng kể nhất vào mỗi buổi sáng. Phóng viên trẻ thường tụ tập ở nhà hàng này vì nó ở ngay trước trụ sở Hạ Nghị Viện, các ông dân biểu thường ra ngồi giải lao tại đây và “thảo luận” đủ thứ chuyện bên lề. Và chuyện bên lề bao giờ cũng hấp dẫn hơn chuyện trong nghị trường. Chuyện “bí mật quốc gia,” chuyện phe nhóm, “gia nô” và không “gia nô,” chuyện tình bà nghị ông nghị,… cứ nghe mấy ông này là có đủ tin “giật gân” trong ngày. Cánh phóng viên thường bắt mối rất chặt chẽ với các ông bà dân biểu và nghị sĩ thượng hạ nghị viện. Thật ra họ có quyền lợi “hỗ tương,” anh cho tôi tin, báo tôi yểm trợ lập trường của anh. Trong số những phóng viên ngoài người Việt Nam còn có một số phóng viên người Mỹ, Pháp từ khách sạn Continental trước mặt ghé sang. Hoặc cũng có một số phóng viên người Việt làm cho các đài truyền hình, truyền thanh nước ngoài săn tin tại đây.
Có một nhà thơ hàng đầu Việt Nam thời đó là thi sĩ Đinh Hùng, bình thường ông hay ngồi ở La Pagode, nhưng khi “hữu sự” ông lại ngồi ở Givral. Dáng người “thanh thoát” nhỏ nhắn rất thư sinh. Lúc nào ông cũng chải chuốt, complet, cravate, đầu chải mượt gọn gàng, tay luôn xách chiếc cặp da, ông còn giữ nguyên vẻ đỏm dáng, lịch lãm của “công tử Hà Nội” những năm 50. Ông thường hẹn gặp những người ái mộ ở đây. Tôi để ý thấy hầu hết là những nữ độc giả rất trẻ, đẹp. Khi ông ngồi cùng3-4 cô, khi ông lại rù rì với một người đẹp duy nhất. Đúng là ông có số đào hoa và dù đã ngoại ngũ tuần nhưng trái tim vẫn còn rất trẻ. Những lúc nhìn ông “say” như thế, tôi có cảm tưởng như ông cũng giống như những cậu trai 20 ngồi bên cô gái 18. Ông sống thật với rung cảm của mình. Có lẽ vì vậy thơ ông bao giờ cũng mang cái óng mượt, thần thoại rất đặc trưng. Có thể, Givral chính là nơi bắt nguồn cho những cánh thơ thăng hoa của cảm xúc này.
Hôm nay ngồi ở Givral, hình bóng anh Đinh Hùng vẫn quanh quẩn đâu đây. Nhớ lại, khi tôi viết truyện dài “Đời Chưa Trang Điểm,” tiêu đề này chính là đã mượn trong câu thơ “đời chưa trang điểm mà xuân đã về” của anh. Lúc gặp nhau, anh Đinh Hùng nói với tôi: “Ừ, cái tít ấy có vẻ tiểu thuyết lắm, cứ lấy xài đi, đóng thuế cho tớ một cuốn thôi.” Mới đây mà đã hơn nửa thế kỷ rồi anh Đinh Hùng ơi!
Còn nhà hàng Brodard nằm ở góc Tự Do-Nguyễn Thiệp, nhìn sang bên kia là vũ trường Tự Do của ông Cường lùn và chị “tài pán” Nhựt, bà chị này hành nghề cai quản các em “ca nhe” từ vũ trường Ritz Hà Nội vào Nam. Ở đây lại đông vui vào những buổi sáng muộn và buổi tối khi “gà lên chuồng.” Nơi lui tới của những “dân đi chơi đêm” Sài Thành. Những anh hùng “hảo hớn” như Khê – Thăng Long Xích Thố, anh em ông Kim đầu bạc, Kính tennis, Chương Marine cũng lui tới ngồi tán chuyện giang hồ. Các “đại gia, tiểu gia” thời đó không nhiều, chỉ vỏn vẹn một số ông dược sĩ, tu bíp, doanh nhân có “xế bốn bánh” đủ để chở các em đi ăn đêm. Thỉnh thoảng một vài em vũ nữ, thường là loại có hạng như Lệ Hằng, Thủy Điên, Mỹ Khùng… ở mấy cái vũ trường gần đó như Tự Do, Mỹ Phụng, Olympia cũng la cà vào đây tán dóc.
Ba nhà hàng ấy là 3 sắc thái riêng biệt làm nên cái trục “văn hóa không tên,” cái linh hồn của Sài Gòn, khó phai mờ trong ký ức của những người Sài Gòn.
Còn một địa chỉ nữa ở gần chợ Bến Thành là nhà hàng Thanh Thế, nơi này là chỗ gặp nhau của những ký giả thể thao như đàn anh Huyền Vũ, Thiệu Võ và một số những nhà báo miền Nam.
Không thể tìm lại dĩ vãng:
Tóm lại, trong bài này, tôi chỉ muốn thông tin đến bạn đọc một nét “văn hóa xưa” vừa được khơi gợi lại giữa thành phố Sài Gòn. Nhưng với tôi, nó chỉ còn cái tên Givral của thời xa xưa thôi. Tất cả đều khác trước, giá cả lại quá cao không phù hợp chút nào với cánh phóng viên Việt Nam. Nó sẽ chỉ còn thích hợp với khách du lịch ghé ngang qua thành phố này.
Dù sao cũng xin gửi đến bạn đọc nặng lòng với những hoài niệm cũ, với Sài Gòn xưa, một cái gì đã mất đi không thể tìm lại được.
(Đăng lại từ bài viết cùng tên trên Diễn Đàn Trung Học Nguyễn Trãi Saigon; thntsaigon.forumvi.com)
CÁI CÒN LẠI và CÁI CÒN THIẾU
Mạc Văn Trang
Xin lưu ý rằng, trước năm 1975, hai con đường Hàn Thuyên và Alexande Rhodes đều nằm ngay cạnh những thảm cỏ xanh trước Dinh Độc Lập, Sài Gòn. ([email protected])
Chuyện thành phố Đà Nẵng phải hoãn đặt tên đường phố mang tên hai giáo sĩ Francisco De Pena và Alexandre De Rhodes do có 12 người ký tên phản đối, đã có nhiều người bàn luận. Tôi đã định không viết gì về chuyện này nữa, nhưng hôm nay lại nhận được một bài viết, của một người, nêu thêm mấy lý do.
Gộp cả lại, mấy người phản đối hoặc chưa đồng tình, vì cho rằng:
-Các vị giáo sĩ này Latinh hóa tiếng Việt nhằm mục đích truyền giáo chứ không nhằm giúp dân Việt Nam có chữ Quốc ngữ (món quà vô tình, nên không cần cám ơn);
-Các vị giáo sĩ có liên quan đến chuyện Pháp xâm lược Việt Nam, vậy là có tội, sao lại có công (dù các vị này đã chết hơn 200 năm, trước khi Pháp xâm lược Việt Nam);
-Latinh hóa là xu thế quốc tế vào thế kỷ XVI – XVII, Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ, các nước Ả Rập… cũng tiến hành Latinh hóa chữ viết của họ, chứ đâu chỉ có Việt Nam… (nhưng xin thưa, họ không thành công, nên nay vẫn dùng chữ riêng của họ, hoặc dùng tiếng Anh);
-Các giáo sĩ này không làm việc Latinh hóa Tiếng việt thì cũng sẽ có người khác làm (nói vậy, cũng như nói, nếu ông không là bố tôi, mẹ tôi cũng lấy người đàn ông khác và cũng đẻ ra… tôi!);
-Chữ Quốc ngữ là công của nhiều giáo sĩ, chứ đâu chỉ có hai ông này. (nhưng, thưa, hai ông này có ghi rõ tên tuổi trong những công trình còn lưu giữ đến nay, các ông cũng ghi rõ đã tiếp thu cái gì, làm thêm cái gì, chứ không đạo văn);
-Chữ Quốc ngữ được bảo tồn và phát triển là nhờ công của nhiều người truyền bá, nhất là công người Pháp mở trường dạy chữ quốc ngữ, rồi bao nhiêu phong trào, chữ Quốc ngữ mới phát triển rực rỡ như ngày nay… (vâng, những người nổi danh từ chữ Quốc ngữ đã được vinh danh rồi: Trương Vĩnh Ký, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Tố, Phan Khôi,… Nhưng hai ông “Tổ nghề” thì lại chưa “đạt yêu cầu”!
Nhân sự kiện này tôi nhớ tới câu nói nổi tiếng của nhà nghiên cứu văn hóa Pháp Edouard Herriot: “Văn hóa là cái còn lại khi ta quên đi tất cả, là cái còn thiếu khi ta đã học tất cả.”
“CÁI CÒN LẠI”… của Francisco De Pena và Alexandre De Rhodes đó chính là CHỮ QUỐC NGỮ toàn dân Việt Nam đang dùng; nó hay, nó đẹp, nó tiện ích ra sao, nên nó mới được bảo tồn và phát triển rực rỡ như ngày nay và chắc là Tiếng Ta Còn, thì Chữ Quốc Ngữ sẽ trường tồn cùng dân Việt.
Nào, bao nhiêu vị được đặt tên đường phố, quảng trường… thử hỏi mỗi vị ấy có cái gì “CÒN LẠI” có ích cho dân tộc hôm nay? Chắc không nhiều lắm đâu! Bới móc quá khứ, tội lỗi, cái “xấu” của nhau ra theo con mắt của thời nay thì kinh lắm đấy!
Giá trị Văn Hóa, Lịch Sử của mỗi Con Người-Nhân Cách của người ấy, chính là sau khi đã quên đi tất cả, họ CÒN LẠI cái gì CÓ GIÁ TRỊ cho hôm nay và mai sau? “CÁI CÒN THIẾU” trong câu chuyện phản đối đặt tên đường phố mang tên Francisco De Pena và Alexandre De Rhodes là gì? Là SỰ HỌC HỎI!
Không chỉ 12 vị ký tên phản đối đặt tên đường hai giáo sĩ đâu! Dân ta, nói chung là thế! “Yêu nhau yêu cả đường đi, ghét nhau ghét cả tông ti họ hàng”; “Thù muôn đời muôn kiếp không tan”… Khi trong lòng chứa chất đầy thù hận, định kiến “không tan” thì chẳng nhìn ra đâu là chân lý.
Hãy xem người Nhật.
Người Mỹ đã ném 2 quả bom nguyên tử xuống thành phố Hiroshima (6/8/1945) và thành phố Nagasaki (9.8.1945), rồi sau đó Thống Tướng Douglas MacArthur, tư lệnh tối cao Tổng Lực Lượng Đồng Minh Vùng Tây Nam Thái Bình Dương, lực lượng chủ yếu đánh tan đội quân hùng mạnh của Nhật tại Châu Á-Thái Bình dương, đem quân vào chiếm đóng nước Nhật. Ông ta trực tiếp “bắt” Nhật Bản ký “đầu hàng nhục nhã” ngày 2 Tháng Chín, 1945. Rồi ông ta đem 350 ngàn quân chiếm đóng Nhật Bản suốt hơn 5 năm (1945-1951).
Ông ta đã tha tội chết cho nhà vua Nhật, đáng lẽ là tội phạm chiến tranh đầu sỏ, nhằm “duy trì chế độ phong kiến thối nát”; ông ta xây dựng nên một “chính phủ bù nhìn, làm tay sai cho Mỹ”; ông ta làm ra một bản Hiến Pháp mới “cưỡng bức từ vua quan đến toàn dân Nhật phải tuân theo”; ông ta “áp đặt” hàng loạt chính sách tái thiết, phát triển Nhật Bản thành mô hình Tư Bản Mới… Ông ta đại diện cho đế quốc Mỹ, trực tiếp gây “tội ác tày trời với Nhật”… Ông ta còn “mắc nhiều khuyết điểm trầm trọng” nên bị Tổng Thống Harry S. Truman triệu hồi về nước ngày 11 Tháng Tư, năm 1951.
Nhưng điều kỳ lạ là, trong hồi ký của Kiichi Miyazawa (thủ tướng Nhật nhiệm kỳ 1991-1993) có đoạn viết: Ngày 11 Tháng Tư, 1951, báo đài đưa tin MacArthur bị miễn chức. Tin này làm người Nhật vô cùng sửng sốt, họ không thể nghĩ tới chuyện Thống Tướng MacArthur – người nghiễm nhiên tự cho mình là thái thượng hoàng nước Nhật lại có thể bị bãi miễn dễ dàng bởi một mệnh lệnh của tổng thống. MacArthur là người nắm quyền lực tối cao ở Nhật. Hàng ngày ông đi làm và về nhà bằng xe cắm quốc kỳ Mỹ. Khi ấy giao thông trên các đường phố xung quanh trụ sở Bộ Tư Lệnh SCAP đều bị cấm, quân cảnh Mỹ đứng trên các ngã tư chỉ huy giao thông… Ngày 16 Tháng Tư, MacArthur rời Tokyo về Mỹ. Hôm ấy dân chúng Nhật đứng chật kín suốt hai bên đường từ trụ sở SCAP tới sân bay Haneda. Thủ tướng Nhật cùng toàn thể thành viên chính phủ ra sân bay tiễn đưa. Tôi đứng sau bộ trưởng Tài Chính, đối diện với chiếc chuyên cơ. MacArthur cùng vợ và con trai lần lượt bắt tay từng quan chức. Khi MacArthur bước lên thang máy bay, một quan chức Nhật bỗng hô to “MacArthur muôn năm!” Thế là tất cả mọi người đều giơ tay hô theo “Muôn năm”… (Theo Nguyễn Hải Hoành. MacArthur: Người mở cửa nước Nhật lần thứ hai. Nghiên Cứu Quốc Tế, 2/4/2018)
Người Nhật thế đó. Và nước Nhật đến 1968 đã trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới và luôn là đồng minh tin cậy của nước Mỹ.
Có phải “CÁI CÒN THIẾU” của người Việt Nam là vẫn chưa học được như người Nhật?
29.11.2019
(Nguồn: Facebook Mạc Văn Trang, qua sangtao@org)
Thơ Nguyễn An Bình
Giấc mơ dã quỳ
(Tặng Ng.)
Nhớ gì một sớm mùa đông
Em nghe sợi tóc vướng lòng nhau không?
Có người thuở ấy má hồng
Thả rong áo lụa ngàn thông xanh rờn.
Hương rừng bát ngát tươi non
Sắc hoa màu nhớ có còn quanh đây
Hoa quỳ trải khắp ngàn mây
Đồi cao lũng thấp chợt dài nhớ thương.
Năm cùng tháng tận màu sương.
Vàng hoa lạc lối thiên đường quên đi
Bướm vờn thả sợi tình si
Chút tình sương núi bay đi không về.
Trắng đồi cỏ dại u mê
Suối vàng dưới lũng trôi về phương nao.
Tơ trời rải nắng hanh hao
Biết em có đợi bên cầu chiều sương.
Thương người má lúm đồng tiền
Cười trong nắng sớm môi hiền nào ngoan
Trong veo mấy nụ hoa vàng
Giấc mơ chưa chạm tình xuân ngút ngàn.
18/11/2019
Bên dòng Bằng Giang
Bên đôi bờ cỏ xanh
Nước Bằng Giang chảy xiết
Em có thấy tình anh
Trôi xuôi dòng mải miết.
Chờ sương hứng chút nắng
Sưởi ấm một ngày đông
Tiếng chim gầy rất mỏng
Bay dọc suốt triền sông.
Cầu bắc qua sông nhớ
Em thả tóc dịu dàng
Qua cầu cây đứng gió
Nên tình còn lang thang.
Mây tràn qua đầu núi
Phố ngủ vùi trong sương
Có nghe tình vẫy gọi
Sông chùng chình nhớ thương.
Khẽ khàng thôi em nhé
Chiếc lá vừa nghiêng chao
Môi hồng người em gái
Tình đi đâu về đâu?
Cao Bằng, 8.11.2019
(Nguồn: sangtao@org)
Sao đành nhuộm tím mùa Thu
(Thơ cho Cõi Lặng Im)
1.
Sao đành nhuộm tím màu thu
Cho vàng tôi rụng lá mù sương xưa
Sao đành giăng mắc sợi mưa
Cho hồ mắt gợn sóng bờ khuya tôi
Sao đành nhỏ giọt buồn rơi
Cho đàn tơ chạm phím rời rã đau
2.
Sông tôi chảy một dòng sầu
Nhớ xưa áo lụa qua cầu vàng bay
Nhớ màu sông như màu mây
Nhuộm vào tóc rối làm say hương chiều
3.
Bờ lau bãi sậy tịch liêu
Sông tôi chảy một dòng hiu hắt buồn
Nhớ người đứng giữa mênh mông
Thả câu thơ nổi bềnh bồng rong rêu.
4.
Chim buồn nghẹn một tiếng kêu
Giọt rơi u tịch chìm theo bóng chiều
Mưa đồi Tây! Mưa đồi Tây!
Mang mang ngày nối đêm dài mang mang.
5.
Sao đành nhuộm tím thu vàng
Thơ tôi nhuộm tím mây hoàng hôn xưa
Sao đành đốt một tờ thư
Tàn tro thiên cổ bây giờ còn bay.
6.
Rồi tôi với cuộc chơi này
Chưa tàn dâu biển lại đầy biển dâu
Sông tôi chảy một dòng sầu
Bóng người với sóng xô vào bờ xa.
7.
Quẩn quanh trong cõi người ta
Mỗi thiên thu, mỗi sát na cũng đành
Sông người chảy một bờ quên
Sông tôi chảy một dòng lênh đênh buồn
8.
Mưa đồi Tây! Mưa đồi Đông!
Mưa giăng nỗi nhớ, mưa chùng niềm đau
Mưa nghìn xưa, mưa nghìn sau
Mưa như nghìn giọt lệ trào thiên tai.
9.
Thuở trăng áo lỏng khuy cài
Để hương quỳnh chảy ra ngoài chiêm bao
Thuở trăng hé nụ hồng đào
Để men ủ giấc đêm vào dạ lan
Thuở trăng chưa mộng sang rằm
Sao đành nhuộm tím thu vàng bến xuân.
10.
Người về từ cuộc trăm năm
Tay ôm mộng biếc tay cầm giấc mơ
Rồi đành thả nổi câu thơ
Nghe đau giọt lệ ướt tờ thư xanh
Để thơ trôi giạt cuối ghềnh
Vết thương còn đọng chút tình, chưa tan.
11.
Áo xưa nhuộm tím thu vàng
Cho đau lá rụng bên ngàn sương phai
Người về lạnh một vòng tay
Ôm không trọn cõi tình đầy vết thương.
(Nguồn: sangtao@org)
Thơ Phạm Quốc Bảo
Thủy tiên lại nở
(Nhớ Bé Ký – Hồ Thành Đức)
Chớm thu vội khoác áo sương
Bâng khuâng cứ ngỡ như dường đã đông
Trắng bung cánh mỏng mông lung
Thỏang êm một thóang hương lan tỏa ngời.
Tháng 11.2010
Thơ Thọ Khương
Tình lịm
Hai mảnh vỡ hai cuộc đời
Nốt buông mỏi mệt nhịp vời hư hao
Từ em câu nói hôm nào
Phút chia tay lặng đời trao giọng khàn
Đêm tàn nguyệt tận sương tan
Giữa cơn say tưởng mãi còn có nhau
Tường vôi trắng xóa bạc mầu
Bước đi phiêu hốt ngỡ đâu người về
Ơn đời ngủ lịm cơn mê
Sáng mai nắng dậy ngày lê thê dài
Người ra cửa ngóng mùa phai
Đứng xem lá rụng sân ai ngậm ngùi…
Giọt tình
Giọt rơi trên lá… sương thu
Kiêu sa mắt ướt hờn ru đợi chờ
Tay gầy run rẩy ươm mơ
Níu song cửa ngỏ thẫn thờ mong ai
Yêu thương lá đổ vàng phai
Tiếng ai thổn thức dặm dài… buồn so
Ý thu theo ngõ quanh co
Gió về góp nhặt canh thâu vọng sầu
Mùa tàn lá lạc nơi đâu
Tóc em sợi ngắn đã vào lãng quên
Ai đi bóng ngả bên thềm
Giọt cay thấm đậm đã thêm… ngại ngần…
Thay mùa, đông giá lạnh lùng
Cánh chim trú bão chập chùng viễn du
Trời giăng mây xám âm u
Khép tay định mệnh… lời ru đoạn tình…
Trái ngang
Ra phố xem đời xôn xao động
Dỗ lòng nguôi vắng cuộc chờ trông
Lang thang chân bước hồn phiêu lãng
Thấp thoáng trong tâm một bóng hình
Chiều thơm ngan ngát hương hoa sữa
Gió thổi mênh mang lá rụng đầy
Ta về ngất ngưởng cơn say vội
Dấu tích hoen vàng buổi tiễn nhau…
Đêm dài ánh điện soi hiu hắt
Kiếp mục cây khô đứng lặng nhìn
Thiêu thân gẫy cánh bầy thân phận
Dạ vũ điên cuồng không trối trăng…
Sao trời giăng mắc sầu quên ngủ
Giá buốt vây quanh chết nguyện cầu
Ăn mày ký ức quen cay đắng
Góp mặt vô thường… cuộc trái ngang…
Lạc loài
Em mang mùa thu theo gót chân
Ta còn ngóng đợi mãi bên song
Lãng đãng mây chiều treo sợi bạc
Heo may ngọn gió thấm hoài mong
Em còn nhớ ra lời nói cũ
Một thời đôi ta tuổi dại khờ
Nếu đến sau này đời có đổi
Tin yêu ta vẫn mãi… ngu ngơ.
Ta về giữa cơn mù lốc xoáy
Âm thầm lặng lẽ một bước chân
Tượng đá ôm đầu thêm khổ lụy
Rêu phong mục rã cả bụi trần
Ngỡ ngàng cơn đau vừa mất hút
Gieo hồn khoảng trống cuốn bơ vơ
Chuông chùa ngân hòai câu định mệnh
Theo ta… lạc lõng một đợi chờ…
Thơ Trần Trung Tá
Tèm Lem Nước Mắt Một Bài Thơ
“Mấy chùm trước ngõ hoa năm ngoái
Một tiếng trên không ngỗng nước nào…”
Thơ Nguyễn Khuyến, buồn, tôi mở lại
Buồn tình không biết tại làm sao?
Dĩ nhiên ai cũng buồn, đôi lúc
Lấy cớ người xưa mà tự tình!
Nước mất. Nhà tan. Còn chút đó
Là Thơ! Một thoáng giữa mông mênh!
Cái thời Nguyễn Khuyến… thời tan nát
Nước Đại Nam nằm tay ngoại bang
Một kẻ già nua không vực nổi
Thì đành cởi áo giã từ quan…
Thôi về làng cũ, nhìn hoa nở
Một tiếng trên không… ngỗng nước nào?
Không thể gọi ai cùng cứu nước
Thì nâng bầu rượu rót về đâu!
Ôi thơ Nguyễn Khuyến thời vô vọng
Tôi có là gì cũng thất phu
Là kẻ buộc chân gà chẳng chặt
Nhắm nghiền con mắt dỗ Thiên Thu!
Trên không thấy có mây bàng bạc
Thấy có đôi con ngỗng lạc bầy
Cúi xuống… nụ hoa vàng trước ngõ
Thấy bàn tay lệ đã đầy tay!
Một trăm năm trước, buồn như thế
Rồi vạn năm sau biết thế nào?
Hai chữ Việt Nam Tàu nó đặt
Không ai thấy nhục, Tại Vì Sao?
Trời ơi con khóc như thằng bé
Cầm nhánh bông lau muốn phất cờ
Tiếng ngỗng trên không buồn xé ruột
Tèm lem nước mắt… một bài thơ!
(Nguồn: [email protected])

Đạo Thư
Tác giả: Trần Công Tiến
Văn Gia xuất bản, 2019
104 trang; ID: 25227176
Sách có bán tại www.lulu.com; www.amazon.com
Tiến Sĩ Triết Học Trần Công Tiến mới xuất bản một cuốn sách với tựa đề Đạo Thư. Thư là sách; Đạo Thư là quyển sách bàn về Đạo.
Tác giả đã có ý định viết quyển sách này ít nhất 19 năm cách đây. Xem ra tác giả đã trải qua nhiều suy nghĩ và nhiều đoạn đường. Ngay từ đầu tác giả đã xác định rõ ràng Đạo là gì. Đạo thường được hiểu là con đường. Chúng ta có đường rộng, đường hẹp, đường quanh co, đường cụt, đường gồ ghề, đường bắng phẳng, đường tử Đông sang Tây… Đạo Thư không bàn về Đạo trong ý nghĩa này.
Đạo cũng được hiểu là đường đi hay sự vận hành của vật chất, sự vận hành của vũ trụ. Đạo Thư không bàn về Đạo trong ý nghĩa này. Đạo cũng được hiểu là cái nguồn gốc tạo dựng nên vũ trụ. Đạo hiểu như Đấng Sáng Tạo hay Tạo Hóa. Đạo Thư không bàn về Đạo trong ý nghĩa này. Đạo cũng được hiểu là cái toàn thể bao gồm tất cả mọi sự. Mọi vật, mọi người từ đó mà ra và sẽ trở về đó. Đạo Thư không bàn về Đạo trong ý nghĩa này.
Đạo Thư bàn về Đạo hiểu như là đường đi của con người, nghĩa là cách hiện hữu, cách sống, cách cư ngụ của con người. Như vậy tác giả đã quy định rõ rệt mục tiêu của tác phẩm. Tác phẩm bàn về Đạo. Và Đạo đây là sự cư ngụ của con người. Vậy con người mưu cầu gì cho cư ngụ của nó? Con người mưu cầu một cư ngụ bình an. Câu chúc phổ thông của người Việt Nam “an cư lạc nghiệp” biểu lộ rõ rệt ước mong đó.Tìm đâu ra cư ngụ bình an?
Theo tác giả có hai điểm quan trọng: (1) Lối sống tự nhiên hay theo bản chất của con người không đưa lại cư ngụ bình an, và (2) Lối sống theo văn minh hiện đại của con người cũng không đưa lại cư ngụ bình an.
Lối sống tự nhiên hay theo bản chất của con người là tìm những thỏa mãn tự nhiên của con người. Trước hết con người cần thỏa mãn những nhu cầu thực tế hay vật chất: cơm ăn và chốn ở. Để thỏa mãn những nhu cầu này, con người đi vào tranh đấu kiếm lợi cho mình. Sự kiếm lợi này dẫn tới gian dối và cướp giật, giết chóc.
Thế giới hiện đại cũng theo lợi mà hành động. Nó hợp với lối sống tự nhiên. Bởi thế nó là thế giới ác quỷ và hoang tàn. Hoang tàng nhắm nói nhân tính của con người đã mất rồi. Hoang tàn là nói đến chỗ cái Đạo của con người đã không còn gì nữa. Con người đang sống, nói theo Mạnh Tử, không khác xa cầm thú bao nhiêu và, nói theo Heidegger, còn ở bên dưới cầm thú nữa. Hoang tàn là nói đến sa mạc: sa mạc là nơi không còn sự sống nữa.
Trải qua nhiều năm nghiên cứu tư tưởng của Đức Phật, của Lão Từ, của Khổng Tử, của Chúa Giê-su và của triết gia Heidegger, tác giả vạch ra con đường dẫn tới cư ngụ bình an. Như vậy, theo tác giả, có con đường dẫn tới cư ngụ bình an. Đức Phật, Lão Tử, Khổng Tử và Chúa Giê-su chắc hẳn không xa lạ với chúng ta. Tuy nhiên tác giả nhìn tư tưởng của các Ngài dước nhãn quan của cư ngụ bình an. Và cần nhấn mạnh rằng đây là cư ngụ bình an ngay nơi đời này cho mỗi người. Tác giả tuyển chọn những lời giảng dạy của các Ngài, cộng với tư tưởng của Heidegger, để mô tả cuộc hành trình tới cư ngụ bình an. Tác giả cố gắng làm sáng tỏ hay mang ra ánh sáng những khúc mắc, khó hiểu và bí nhiệm của những lời giảng dạy đó. Tác giả nhằm mô tả rõ ràng và dễ hiểu.
Đạo Thư như vậy là tổng hợp những lời giảng dạy ưu tú đã được làm sáng tỏ của nhân loại chung quanh vấn đề cư ngụ bình an. Ngày nay trước một thế giới ác quỷ và hoang tàn, trước sự không có Đạo hướng dẫn con người, nhất là thế hệ trẻ, Đạo Thư có thể là một quyển sách đáng được đón nhận.
*Trần Quân
(Nguồn: [email protected])
Nỗi buồn của một người Việt
Lê Phan
Không hiểu những người Việt khác có đồng tâm sự với tôi không nhưng mấy ngày nay, cứ mỗi lần thấy những hình ảnh về hai miền Nam Bắc Hàn thì tôi lại chạnh lòng, bởi nghĩ lại, miền Nam và miền Bắc Việt Nam cũng có thể chứng kiến một cảnh tương tự nếu lịch sử khác đi.
Tuần rồi thế giới đã kinh ngạc chứng kiến lãnh tụ của hai nước, Đại Hàn Dân Quốc ở miền Nam và Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên ở miền Bắc, bắt tay nhau rồi dắt nhau đi qua đi lại một cái biên giới tượng trưng. Ngay cả đến những người nghi ngờ nhất cũng không thể nào không thấy xúc động trước cái cảnh hai lãnh tụ của hai quốc gia đã từng lâm chiến đẫm máu có thể có một cuộc gặp gỡ thân thiện như vậy.
Tuần này, ở giải vô địch bóng bàn quốc tế, hai đội tuyển nữ của hai miền Nam Bắc Hàn lại một lần gây kinh ngạc khi họ buông vợt, bắt tay nhau, từ chối thi đấu và tuyên bố sáp nhập để thành lập một đội tuyển thống nhất. Cử chỉ biểu tượng đó của họ đã khiến hội đồng quản trị của Tổng Cục Bóng Bàn Quốc Tế xúc động đến nỗi đứng lên vỗ tay hoan hô. Và lần đầu tiên trong lịch sử của bất cứ một bộ môn thể thao nào, đồng ý cho phép hai đội từ chối thi đấu được tiếp tục tham gia.
Viết trên tạp chí The New Yorker, ông Chang-rae Lee nhớ lại cha mình. Ông bảo dầu cho hội nghị thượng đỉnh có thực sự dẫn đến việc thay đổi ở bán đảo Triều Tiên hay không, ông ước gì cha mình còn sống để chứng kiến.
Ông Lee kể lại là cha ông sinh ra ở Bình Nhưỡng năm 1939. Một vài tháng trước cuộc chiến, vào mùa Thu năm 1950, cha ông và đại gia đình, cùng với nhiều triệu người miền Bắc khác, đã bỏ chạy xuống miền Nam làm người tị nạn, nơi họ gây dựng lại sự nghiệp từ hai bàn tay trắng. Nhưng câu chuyện gia đình ông còn bi thảm hơn bởi khi đại gia đình bỏ chạy xuống miền Nam thì có một ông chú, vì bà vợ mới sanh, không chạy kịp, nên mắc kẹt lại miền Bắc. Trong suốt cuộc đời còn lại, cha ông vẫn nhớ đến chú thím của mình, không biết bây giờ ra sao, nhất là khi có tin một số gia đình phân cách được gặp nhau.
Người Việt chúng ta cũng có bao nhiêu câu chuyện tương tự. Nhưng sự gặp gỡ của chúng ta cay đắng hơn nhiều.
Sau năm 1954, thế giới có ba quốc gia phân cách: Nam-Bắc Việt Nam, Nam-Bắc Hàn và Đông-Tây Đức. Cả ba quốc gia đều là nạn nhân của cuộc Chiến Tranh Lạnh, khi hai cường quốc Hoa Kỳ và Liên Xô phân chia ảnh hưởng. Nhưng trong ba quốc gia đó, số phận hẩm hiu nhất là của Việt Nam.
Chiến tranh đến với Nam Bắc Hàn đầu tiên. Ngày 25 Tháng Sáu, 1950, sau khi đạt được sự đồng ý của Mao Trạch Đông và sự đồng ý một cách ngần ngại của Stalin, quân đội Bắc Hàn đổ qua vĩ tuyến thứ 38, lằn ranh giữa hai miền Nam Bắc được Liên Xô và Hoa Kỳ đồng ý sau Thế Chiến Thứ 2.
Cuộc chiến lúc đó hoàn toàn có lợi cho miền Bắc. Tổng Thống Harry Truman quyết định là không thể để cho miền Bắc chiếm miền Nam. May là nhờ Liên Xô tẩy chay không tham gia nên Hoa Kỳ thuyết phục được Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc đồng ý cho phép thành lập một lực lượng Liên Hiệp Quốc để bảo vệ Nam Hàn chống lại điều được công nhận là một sự xâm lăng của Bắc Hàn. Dần dà có 21 quốc gia gửi quân sang tham dự, nhưng thực sự Hoa Kỳ là lực lượng chủ lực, chiếm đến 90% quân số.
Cuộc chiến gay go có những giai đoạn lực lượng Liên Hiệp Quốc và Nam Hàn thua nặng bị đẩy lùi về phía Nam và khi họ thắng trở lại đẩy lùi lực lượng miền Bắc qua lại biên giới đến bờ sông Hắc Lục, tức là biên giới với Trung Cộng. Sự tham gia đột ngột của quân đội Trung Cộng đã khiến một lần nữa lực lượng Liên Hiệp Quốc bị đẩy lùi. Trong giai đoạn này thủ đô Hán Thành đổi chủ bốn lần.
Nhưng dầu sao chăng nữa, cuộc chiến kết thúc và lằn ranh biên giới được tái lập, một thỏa thuận ngưng bắn được ký kết và từ đó, tuy có những đụng chạm, hai miền Nam Bắc được duy trì, nhất là với miền Nam ngày càng vững mạnh. Cái may của Hàn Quốc là ở chỗ đó: Khi miền Bắc xâm lăng miền Nam, tình hình còn ở một giai đoạn mà Hoa Kỳ đang lúc cường thịnh nhất trong khi cả Liên Xô lẫn Trung Cộng vẫn còn yếu. Miền Bắc vì vậy không thể chiếm được miền Nam.
Câu chuyện Đông Tây Đức thì chúng ta cũng đã biết. Sau nhiều năm được Liên Xô chống đỡ, chế độ Đông Đức sụp đổ khi Liên Xô không còn muốn chống đỡ nữa; và nước Đức đã thống nhất không phải vì chiến tranh. Một Tây Đức phồn thịnh, dân chủ và vững mạnh đã đủ sức cưu mang Đông Đức và tuy ngày nay miền Đông vẫn còn nghèo hơn miền Tây, nước Đức đã thống nhất tốt đẹp.
Việt Nam chúng ta có nhiều cái không may. Có lẽ Hà Nội đã học được bài học của Bắc Hàn nên đã áp dụng một hình thức chiến tranh mà họ đã có thể đánh lừa một số những phần tử cánh tả bảo nó không phải là một cuộc xâm lăng. Mặc dầu cuộc tấn công Tết Mậu Thân đã là một cuộc tấn công công khai xuyên qua biên giới và mặc dầu Hà Nội đã thất bại trên chiến trường, một chiến dịch tuyên truyền khôn khéo, được sự giúp đỡ vô tình của một số trí thức phản chiến, cộng với truyền thông, và sự mệt mỏi của nhân dân Hoa Kỳ, dẫn đến chiến thắng ở Hoa Kỳ và chúng ta đã bị bỏ rơi. Rốt cuộc miền Bắc chiếm miền Nam và cả triệu người Việt đã phải lưu vong.
Nhưng cái không may đó chỉ là một phần thôi bởi tấm thảm kịch Việt Nam chính là sự cương quyết chinh phục miền Nam của miền Bắc. Sau khi chiếm được nửa miền Bắc nhờ Hiệp Định Genève năm 1954, giới lãnh đạo Hà Nội đã không bao giờ từ bỏ tham vọng xâm chiếm miền Nam. Và họ đã lợi dụng tham vọng của đế quốc Cộng Sản để được cung cấp các phương tiện cho một cuộc chiến tương tàn sát hại nhiều triệu người dân của cả hai miền Nam-Bắc.
Điều còn đau lòng hơn nữa cho dân tộc Việt là sau khi chiến thắng, đám cầm quyền miền Bắc đã không có nổi một sự tử tế của kẻ thắng. Họ hành xử và suy nghĩ như một bạo chúa sau chiến thắng:Ở thế kỷ thứ 20 nhưng họ suy nghĩ như một Thành Cát Tư Hãn, chỉ muốn trả thù và cướp bóc của kẻ bại. Cả triệu quân nhân công chức bị bắt đi tù dưới cái chiêu bài “học tập cải tạo,” tài sản của miền Nam bị tước đoạt. Chả thế mà vào thập niên 1980 thị trường vàng quốc tế tràn ngập vàng mang dấu ấn của Ngân Hàng Đông Dương. Số vàng đó Việt Nam Cộng Hòa thừa hưởng khi Pháp trả độc lập cho ba quốc gia Đông Dương và nó là tài sản mà Pháp đã vơ vét từ nhân dân Việt Nam.
Hồi trước năm 1975 có lần tôi thấy các quân nhân Đại Hàn trên đường lên tàu về nước người nào cũng mua một hai cái mền Sakymen do miền Nam sản xuất. Lúc đó tôi thấy tội nghiệp cho người Nam Hàn, đã phải trải qua một cuộc chiến tàn khốc và cuộc sống còn khó khăn.
Bây giờ nghĩ lại mới thấy người Việt chúng ta mới là những kẻ bất hạnh nhất. Dân tộc Việt Nam chưa bao giờ được chứng kiến cảnh hai lãnh tụ của hai miền Nam Bắc bắt tay nhau đi tìm một tương lai xán lạn hơn cho dân tộc.
(Nguồn: MY LOAN [email protected]; qua [email protected])
[jwplayer c5iBxEqa-YzmDPLlM]

































































































