Quán Văn (Kỳ 375)

Lời hứa 40 năm

Daniel Hautzinger; Đông Kha dịch

Một lời hứa tưởng như rất nhỏ, vô thưởng vô phạt, nhưng đã ám ảnh anh lính tên Phil trong 40 năm, khơi gợi lại cho ông những ký ức buồn về một vùng quê đau khổ, tan tác. Ông quyết chí tìm lại cậu bé năm xưa để xua đi nỗi đau đáu trong lòng. Phil cho biết: “Nếu tôi thất hứa với một người lớn nào đó thì tôi sẽ không bị mang nỗi ân hận dai dẳng đến như vậy. Đằng này tôi đã hứa với một đứa trẻ tốt bụng, ngây thơ. Nó không thề thốt hay cầu xin gì cả, trên khuôn mặt lúc nào cũng có một nụ cười.” Chiến tranh mang lại những tổn thương khó lành trong tâm khảm những người lính tham chiến. Chính sự ngây thơ của Cam và những đứa trẻ xin kẹo khác đã làm dịu bớt những trăn trở không yên trong lòng người lính viễn chinh, giúp họ bình thản hơn để vượt qua được những hoàn cảnh khắc nghiệt của cuộc chiến.

Phil Seymour là trung sĩ của Đại Đội C, Tiểu Đoàn 1, Trung Đoàn TQLC, Sư Đoàn TQLC 1 của Hoa Kỳ, ông đến Việt Nam vào Tháng Mười Hai, năm 1966, và đã bị thương chỉ 1 tháng sau đó.

Tháng Sáu, năm 1967, Phil đóng quân ở một đảo nhỏ gần Hội An-Đà Nẵng, nhưng thường xuyên vào đất liền và tham quan ở Hội An. Trong những chuyến đi như vậy, Phil thường mang theo một chú chó nhỏ đằng sau balo của mình. Chú chó này tên là Boot, được ông cứu trong một lần hành quân ở trong rừng. Lúc đó Boot còn chưa dứt sữa.

Mỗi khi Phil và đồng đội chèo thuyền ghé vào đất liền, những đứa trẻ trong làng chạy ùa tới để hỏi xin các loại “đồ Mỹ” như kẹo, đồ hộp và cả thuốc lá. Thường thì toán lính Mỹ này sẽ chia cho bọn trẻ những thứ này trong khẩu phần của họ.

Trong số những đứa trẻ đó có một người tên Cam (có thể là Cẩm, Cầm….), luôn mặc đồ ngủ màu xanh và đi chân không. Cam không nhao nhao lên như những đứa trẻ khác mà đứng lùi về sau một chút. Ban đầu toán lính Mỹ tưởng Cam nhút nhát, tuy nhiên sau đó họ mới nhận ra là Cam rất khôn ngoan: Cậu không đến xin bằng tay không, mà mang đến những thực phẩm địa phương như dừa, chuối, chanh… để trao đổi. Vì vậy Cam rất được lính Mỹ yêu mến.

Một ngày của Tháng Sáu, năm 1967, cậu bé Cam-9 tuổi-tặng một quả chuối cho Phil. Trung Sĩ Phil Seymour lúc này chuẩn bị rời vùng đất miền Trung này để đi nghỉ 1 tuần ở Thái Lan. Phil hỏi Cam rằng cậu muốn ông tặng quà gì. Thật ra một cậu bé nghèo ở làng quê heo hút này không thể biết là Thái Lan là ở đâu, có món gì để mà đòi hỏi. Cậu cũng không nói tiếng Anh được tốt lắm, suy nghĩ 1 chút rồi cậu chỉ vào cái đồng hồ mà Phil đang đeo. Trung Sĩ Phil đồng ý.

Khi ở Thái Lan, Phil quên bén mất lời hứa về cái đồng hồ. Thật ra một anh lính đi du lịch nghỉ phép thì chỉ nghĩ đến việc ăn chơi, không có nhu cầu đi mua sắm. Hết phép, trở lại Hội An, gặp lại Cam, ông mới chợt nhớ tới vụ cái đồng hồ. Khi thấy Phil về, Cam chạy ùa tới, hớn hở… Nhưng không có cái đồng hồ nào cả… Ngay sau đó, đơn vị của Phil rời vùng đất này để về phục vụ ở vùng phi quân sự. Đến Tháng Giêng, năm 1968, thì ông rời Việt Nam. Phil cho biết rằng cuộc sống của ông rất bình lặng, không có nhiều thứ khiến ông phải hối tiếc, ngoại trừ lời hứa không thực hiện được với một cậu bé ở vùng quê nghèo miền Trung Việt Nam này. Đó thực sự là niềm hối hận lớn nhất trong đời. Ông cũng đã từng nghĩ rằng sẽ phải mang niềm ân hận này theo cho đến khi lìa đời.

Phil Seymour là một người gốc Brookline, Massachusetts, ở trong quân ngũ thêm 27 năm nữa, sau đó lấy bằng Master về luật và trở thành luật sư ở Lầu Năm Góc, rồi làm trưởng công tố viên trước khi nghỉ hưu năm 1995. Ông đã nghĩ rằng mình không thể trở lại Việt Nam một lần nào nữa.

Tuy nhiên vào năm 2007, vợ của Phil là Lynne cho ông biết là nhóm du lịch chung mà ông bà thường tham gia sẽ có một chuyến đến vùng Đông Nam Á và có dừng chân ở Hội An. Bà Lynne nói ông nên cân nhắc việc tham gia chuyến đi này, cũng là cơ hội để tìm lại Cam và thực hiện lời hứa 40 năm trước đó.                                                                                   *

Đến khi ông Phil trở lại thì Hội An đã trở thành một thành phố du lịch nổi tiếng, được UNESCO công nhận là Di Sản Thế Giới vì kiến trúc của nó hầu như không thay đổi so với thời điểm thành lập hồi thế kỷ 15, là nơi giao thương nhộn nhịp của người Việt với người Hoa, Nhật và Châu Âu sau này.

Phil nghĩ rằng cơ hội để tìm lại được Cam gần như là số 0. Không thể biết được rằng Cam có thể sống sót được qua chiến tranh hay không, vì vùng đất này xưa kia rất ác liệt. Tuy nhiên Phil vẫn mang theo một cái đồng hồ trong chuyến du lịch này.

Hướng dẫn viên đoàn du lịch của Phil là một người Hà Nội, nói rằng anh biết rất nhiều người ở Hội An nên sẽ giúp tìm Cam. Thật bất ngờ là sau ngần ấy năm, ông Phil vẫn còn giữ một số tấm hình gia đình của Cam để có thể mang đi hỏi thăm.

Sau khi đến Hội An, nhận phòng khách sạn xong thì cũng là lúc anh hướng dẫn viên người Việt gọi Phil xuống và bước qua bên kia đường. Không biết bằng cách nào, người hướng dẫn viên này đã tìm được một người đàn ông đội nón màu xanh, người này nhìn tấm ảnh của Phil và nói trong hình là cha của anh chụp chung với 3 người con, người con trai út trong hình chính là người đội nón xanh này, và Cam chính là anh trai của anh. Ngay lúc đó, anh điện thoại để gọi Cam tới.

Phil lật đật lên phòng khách sạn để lấy máy ảnh và đồng hồ rồi chạy ngay xuống. Khi băng qua đường, Phil cũng vừa thấy Cam tới, lúc này Cam đã là một người đàn ông 49 tuổi, làm nghề thợ mộc.

Hướng dẫn viên giải thích cho Cam hiểu câu chuyện. Anh ngơ ngác, không thể hiểu được rằng có người vừa đi nửa vòng trái đất chỉ để gặp anh và đưa chiếc đồng hồ.

Hướng dẫn viên chỉ ông Phil rồi hỏi Cam là có nhớ người đàn ông này không. Cam trả lời: “Có, ổng thường cõng con chó nhỏ trên lưng.” Hướng dẫn viên hỏi về lời hứa chiếc đồng hồ 40 năm trước, Cam trả lời: “Có, lúc đó tui mới 9 tuổi, nói tiếng Mỹ bập bẹ, nên nghĩ rằng đã có sự hiểu lầm nào đó”…

Ông Phil và hướng dẫn viên đã giải thích cho Cam hiểu là không có sự hiểu lầm nào cả, chỉ là do Phil đã thất hứa. Phil đưa cho Cam chiếc đồng hồ. Anh Cam rơi nước mắt. Họ cùng ôm nhau khóc.

Hôm sau anh Cam mời ông Phil đến nhà ăn tối. Vợ anh tên là Nở, cùng cô con gái tên Vy chuẩn bị cho bữa ăn, còn khách là vợ chồng Phil-Lynne và anh hướng dẫn viên. Phong tục của Việt Nam là khách đến nhà chỉ có việc ăn uống và nói chuyện, sau đó là đi về.

Vy – con gái đầu của anh Cam – lúc đó 28 tuổi, vừa mới kết hôn, nói rằng cô muốn được học đại học như 4 người em trai của mình, nhưng ở vùng quê này thì phụ nữ thường thiệt thòi, ít được học lên đại học.

Trên đường về khách sạn, Lynne – vợ của Phil – suy nghĩ và ngỏ ý muốn cố giúp Vy được học đại học. Với sự liên lạc, giúp đỡ của anh hướng dẫn viên, Vy đã được học ở Sài Gòn cùng với 4 người em trai đã đi học trước đó. Vy nhận bằng liên thông (liên lạc-thông tin?) năm 2010 và bằng cử nhân năm 2012.

Phil trở lại Việt Nam – có lẽ là lần cuối cùng – vào năm 2012 để dự lễ tốt nghiệp của Vy. Họ cũng mua vé máy bay cho vợ chồng Cam-Nở vào Sài Gòn. Đó cũng là lần đầu tiên Cam được đi máy bay, anh mang theo vô số quà quê để mở một bữa tiệc mừng tại nhà trọ của Vy. Lynne và Phil còn tặng cho Nở một lò vi sóng để giúp cô nấu ăn thuận tiện.

Hiện tại Vy đang làm việc ở Sài Gòn, vẫn thường xuyên gọi điện cho vợ chồng Seymours.

(Nguồn: tranminhtho68@gmail com; [email protected])


Khi tóc không còn xanh…

Nguyễn Thị Thanh Dương

Tôi thu xếp ít quần áo và vài thứ lặt vặt cần thiết vào trong chiếc va ly nhỏ, sửa soạn cho một chuyến đi vài ngày. Bác ruột tôi vừa qua đời ở thành phố Wichita, tiểu bang Kansas. Gia đình bác mới từ Washington D. C. dọn về đây được mấy tháng nay. Lòng buồn vời vợi tôi đang nghĩ nên nói cách nào cho đám anh chị em họ tôi về chuyện gia đình mình đang đến hồi sụp đổ…. mà bấy lâu nay họ chỉ thấy tôi khoe ra bên ngoài một màu hạnh phúc?

Chồng tôi về tới nhà, thấy tôi bên chiếc va ly, anh chỉ hỏi một cách bình thường:

-Em sắp đi đâu?

-Bác Lân em vừa qua đời, em phải về tham dự tang lễ.

Anh lạnh lùng, ngắn gọn:

-Cho anh gởi lời chia buồn đến họ.

Chúng tôi đang làm đơn ly hôn. Anh, người đàn ông thành đạt của tôi cũng là một người bay bướm trăng hoa. Suốt thời gian 20 năm chung sống tôi đã cố gắng chịu đựng vì các con, vì muốn gìn giữ tài sản của gia đình không thể để mất vào tay người đàn bà khác. Nhưng cho tới hôm nay thì sức chịu đựng của tôi đã cạn kiệt, như giòng nước lũ làm vỡ bờ chảy xối xả những giận hờn và tủi nhục. Anh đã lừa dối tôi, có một tình yêu khác với một cô trẻ đẹp, chính anh thẳng thắn đề nghị ly hôn tôi để cưới cô gái đó làm vợ.

***

Sau những ngày tang lễ bác và những lần tâm sự với các anh chị họ về tình trạng gia đình của tôi hiện nay. Các anh chị đều nói hạnh phúc của tôi không thể cứu vãn được nữa, chia tay là giải thoát cho cả hai. Khi đã chia sẻ được những điều đau khổ tôi thấy nhẹ lòng.

Wichita thành phố không quá lớn cũng không quá nhỏ và cũng chẳng có gì hấp dẫn tôi vào lúc này, mà còn hai ngày nữa tôi mới phải trở về nhà, dù là ngôi nhà bất hạnh, có người đàn ông tôi từng yêu thương, quý trọng, nay đã quay mặt phản bội hất hủi tôi.

Đến tiểu bang Kansas, thành phố Wichita lại không xa mấy thành phố Liberal, chỉ 4 tiếng lái xe, tôi bỗng dưng tha thiết nhớ đến thành phố Liberal nghèo nàn nhỏ bé với khoảng 15 ngàn dân, nơi mà ngày đầu tiên đến Mỹ gia đình chúng tôi đã ở đây và trong ký ức tôi cũng nhớ đến John, người bạn thân thuở đó. Thuở tôi mới 15 tuổi…

Gia đình chúng tôi đi vượt biển, đến trại tị nạn Bidong, Mã Lai. Sau 9 tháng gia đình chúng tôi đến Mỹ nhờ sự bảo trợ của một gia đình người Mỹ. Đó là ông bà Smith, nhà truyền giáo, họ chỉ có 1 người con trai, anh tên John, lớn hơn tôi 1 tuổi. Năm ấy anh 16 mà đã phổng phao, đẹp trai cao ráo.

Nhà chúng tôi ở không xa căn nhà của ông bà Smith, nơi hướng Nam của thành phố Liberal. Nhà ông bà Smith đúng là một căn nhà nông thôn, mảnh sân rất to rộng phía trưóc trồng trọt dưa hấu, xung quanh nhà những cây lê, cây táo, cây đào lần lượt thi nhau nở hoa. Nhưng được trồng nhiều nhất là cây táo. Tôi không có ai để chơi ngoài John hay sang nhà trò chuyện, mấy đứa em tôi cũng thích xúm vào hóng chuyện và cũng là cách để chúng tôi tập luyện tiếng Anh. Thỉnh thoảng tôi cũng chạy sang nhà John, nhất là vào những lúc cây có trái chín trên cành. Ôi, tôi mê những cây táo vào mùa Thu quá, có loại mọc thẳng, cành vươn cao và trái cũng ở trên cao, có loại cành mềm, khi đậu trái thì chĩu cành lòa xòa sát xuống đất đến nỗi tôi chỉ việc ngồi xổm mà tha hồ hái trái… Lại còn vườn dưa hấu trước sân tôi hay cùng John háo hức vạch tìm trong đám lá những trái dưa hấu nhỏ vừa hiện ra và thích thú theo dõi chúng cho đến khi lớn lên to tròn vươn lên khỏi đám lá. Không gì ngon ngọt bằng trái dưa hấu vừa cắt cuống trong vườn, bổ ra ăn ngay tại chỗ trong một buổi trưa Hè mà John thường làm cho hai đứa cùng ăn.

John nói chuyện với tôi đủ thứ, từ những chuyện hàng ngày của anh cho đến những ước mơ mai sau, anh lấy vợ thì sẽ về sống ở một nông trại. Anh say sưa tả cái nông trại của gia đình anh trước kia ở tiểu bang Texas, có một căn nhà gỗ bề ngang dài, bên cạnh là chuồng bò bằng hàng rào gỗ sơ sài. Anh khoe biết cách vắt sữa bò. Anh đã chạy rong trên cánh đồng cỏ khô hay đi trên con đường đất mà mỗi khi gió mùa Hè lồng lộng thổi làm tung bụi mịt mù và cả những khi mấy con bò đua nhau về chuồng cũng làm bụi mù tung lên như gió đã thổi.

Đất Texas có nhiều nơi khô cằn gần như sa mạc, cả mấy chục acre đất nhà anh với nhiều bụi xương rồng rải rác và những bụi cây đã là to lớn vĩ đại với thằng bé lên 10 như anh thuở đó. Anh yêu thích ở nông trại, một trời một cõi như của riêng mình. Tôi cũng say sưa nghe John kể, như đi lạc vào một cảnh trong phim ảnh, vì nó xa lạ với tôi, chứ tôi chẳng đời nào thích sống ở những nơi khỉ ho cò gáy như thế. Tôi luôn mơ nước Mỹ với những thành phố nhộn nhịp phồn hoa như New York mà tôi đã thấy trong phim ảnh làm tôi thích thú, tôi sẽ dạo bước trên những vỉa hè có những cửa hàng sang trọng. Cuộc sống sẽ là một chuỗi ngày vui.

Hai năm sống ở Liberal thì cha mẹ tôi quyết định sẽ dọn đi tiểu bang khác, vì tương lai của mấy chị em tôi, để chúng tôi được sống ở thành phố lớn, học ngôi trường lớn và có cộng đồng người Việt Nam đông hơn. Tôi quá chán thành phố Liberal nhỏ bé này rồi và đã đợi chờ quyết định này của cha mẹ từ lâu. Thành phố gì mà chỉ có 1 phi trường nhỏ xíu, chỉ đủ cho mấy chiếc máy bay nhỏ thỉnh thoảng đến rồi đi, lặng lẽ, buồn hiu. Muốn đầy đủ tiện nghi, người ta phải đến phi trường ở thành phố Wichita hay Amarillo.

Ngay chiều hôm đó, tôi hí hửng chạy sang nhà John để báo tin vui này. Đó là một buổi chiều mùa Hè đầy nắng. Tôi quen thuộc thò tay vào trong mở chốt cánh cổng rào bằng gỗ ngoài sân, mỗi lần đến nhà John tôi đều nhanh nhẩu làm thế, tự nhiên như nhà mình, và đi bộ trên con đường dài mà hai bên là vườn dưa hấu đang độ chín, trước khi đến căn nhà nhỏ bằng gỗ khiêm nhường. May quá John có nhà, mà mấy khi John đi vắng đâu, anh thích ở nhà giúp cha mẹ làm vườn, ngoài những khi thỉnh thoảng theo cha mẹ đi truyền đạo trong thành phố vào dịp cuối tuần.

Trời nắng nên tôi và John  không hẹn mà cùng bước về phía những cây táo trồng quanh mảnh sân trước, nơi mà chúng tôi thường đến đó tán gẫu và ngắm hoa táo nở đẹp vào Tháng Năm hay hái táo vào cuối Tháng Chín, cùng ăn, cùng chia nhau nếm thử quả táo ngọt với niềm vui thích. Tới một cây táo to lớn, cành rậm rạp, tháng này táo đang kết trái sau một mùa hoa xum xuê. John ngồi xuống trước rồi đến tôi. Tôi chẳng thèm ngắm những trái táo xanh nhỏ dễ thương trên cành mà lên tiếng hớn hở khoe ngay:

-Anh John ơi, gia đình tôi sắp rời khỏi thành phố này rồi.

Mặt John hoảng hốt như vừa nghe một tin kinh khủng lắm:

-Sao? Em sẽ đi… có thật không?

-Thật đấy, bố tôi nói cuối tuần này sẽ dọn đi. Ngày mai cha mẹ tôi sẽ sang từ giã cha mẹ anh. Bây giờ tôi cũng sang để chào tạm biệt anh.

Giọng John vẫn bàng hoàng:

-Em sẽ trở lại đây không?

Thấy gương mặt buồn lo của John, tôi tội nghiệp hứa liều không cần suy nghĩ:

-Chắc chắn tôi sẽ trở lại thăm John và cha mẹ của John chứ. Vì cha mẹ John là người đã giúp đỡ gia đình tôi rất nhiều khi mới đặt chân đến Mỹ mà.

John bỗng vụt đứng dậy:

-Hãy đợi anh ở đây, anh sẽ trở lại ngay trong giây lát.

John chạy bay vào nhà và lại chạy bay ra chỗ cây táo, không để tôi phải đợi lâu, anh đưa cho tôi một mảnh giấy nhỏ có ghi sẵn tên John và số điện thoại nhà anh, mà chắc là anh vừa ghi vội, giọng anh tha thiết như năn nỉ:

– Em hãy giữ lấy số điện thoại này, khi nào đến nơi ở mới thì liên lạc với anh. Em hứa đi!

Tôi cảm động, một lần nữa tôi hứa liều:

-Vâng, khi có nơi ở mới tôi sẽ gọi cho anh.

-Đừng thất lạc nhau nhé. Em hứa đi!

-Vâng, không bao giờ!

***

Nhưng khi đến California thì tôi bận rộn với cuộc sống mới và những lời hứa vội vàng với John bỗng chỉ là một trò đùa, tôi vứt đi mảnh giấy mà anh đã kỳ vọng trao vào tay tôi, đã dặn dò tôi và chắc là đã chờ đợi mỏi mòn kể từ ngày tôi rời thành phố nhỏ. Nối lại nhịp cầu liên lạc với John làm gì trong khi ở cái tuổi 17 tôi mơ hồ hiểu John đã yêu thích tôi, mà tôi dù có cảm tình với anh thì tôi cũng không thể nào lấy anh, vì mộng ước của anh và tôi hoàn toàn trái ngược. Đành rằng gia đình anh là người ơn của gia đình tôi, họ hiền lành đạo đức, John sẽ là người chồng, người cha tốt như tấm gương của cha mẹ anh, nhưng tôi không thể lấy người chồng ít học làm nông trại và tôi chỉ quanh quẩn sống với chồng trong mấy chục acre đất hoang vu, chốn đồng khô cỏ cháy với mấy con gà, con bò như anh đã vẽ ra. Tôi đã từng nghe chuyện nhà nông khốn khổ, trồng 1 acre bắp chỉ bán được khỏang 80 đồng theo giá sỉ, hay những vụ cam trúng mùa ở Florida, giá cam bán ra mà như cho không, chỉ 50 cent cho một thùng cam và những vụ khoai tây trúng mùa ở Idaho cũng xuống giá rẻ bèo như thế. Giấc mơ tuổi mới lớn của tôi là giàu sang phú quý, lấy người chồng có địa vị, học cao hiểu rộng. Ở thành phố mới tôi đã miệt mài học hành, chính bản thân tôi cũng sẽ vươn cao. Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi đi làm và kén chọn người chồng tương lai. Tôi đã bỏ qua nhiều cơ hội lập gia đình vì chê họ không xứng đáng với tôi, cho đến khi gặp người chồng hiện tại. Năm ấy tôi đã 30 tuổi, chồng tôi là một người thành đạt trong học vấn và trong kinh doanh. Tôi đã đạt được ước mơ và vui hưởng  hạnh phúc trong những năm đầu.

***

Vì rảnh rỗi và tò mò tôi quyết định thuê xe để lái từ thành phố Wichita đến thăm thành phố Liberal, nói cho đúng hơn để thăm lại gia đình ông bà Smith và John của ngày xưa xem họ thế nào? Tôi hình dung ra ông bà Smith đã già, họ đã nghỉ hưu không đi truyền giáo nữa. Còn John đã có vợ con và đang sống ở một trang trại nào đó, anh John sẽ là hình ảnh ông Smith nông dân chất phác và hiền hậu ngày xưa, anh chăm chỉ lao động nuôi bò, trồng trọt, các con anh sống và lớn lên ở nông trại, chúng biết cách vắt sữa bò và bám lấy nông trại không dám đi đâu xa giống như anh.

Sau 4 giờ lái xe, tôi đã trở về nơi chốn cũ. Thanh phố nhỏ, đường kính lớn khỏang hai miles thì có gì là khó mà không tìm ra ngôi nhà của ông bà Smith nơi cuối phố, dù tôi đã xa cách 30 mấy năm rồi. Nhưng tôi vẫn hỏi thăm, có vẻ như gia đình Smith có uy tín với cư dân ở đây lắm. Người ta nói nhà Smith vẫn ở chỗ cũ. Khi tôi xuống xe, đứng ngẩn ngơ nơi cánh cổng rào gỗ năm xưa, bỗng thấy ngậm ngùi, có thể cánh cổng gỗ đã từng hư cũ, từng được thay đổi, làm lại cái khác nhiều lần rồi, và cái chốt mở cửa không phải là miếng gỗ mà tay tôi đã từng chạm vào năm xưa, nhưng vẫn giống thế, và như thể vẫn chờ đợi tôi trở về để chạm tay vào. Tôi run run thò tay vào mở chốt cửa, lại ngậm ngùi hơn vì ngẫu nhiên bây giờ đang là mùa Hè, hai bên lối đi của mảnh sân vẫn trồng dưa hấu, lá xanh rậm rạp và xung quanh vẫn là những cây đào, cây lê, cây táo… dù có thể những loại cây này năm xưa đã già, đã cằn cỗi, được thay thế bằng  những cây trồng sau này.  Thế giới đổi thay bao nhiêu thứ mà nhà ông bà Smith dường như không hề thay đổi. Khu vườn của họ vẫn là những hình ảnh cũ.

Tôi đi vội trên con đường dài, hồi hộp nhìn chăm chăm vào ngôi nhà trước mặt đang đóng cửa, không còn tâm trí nào nhìn ngắm vườn dưa hấu xem có nhiều trái hay không. Rồi tôi gõ cửa, chờ đợi. Mãi sau mới có tiếng mở cửa, hiện ra trước mặt tôi là bà Smith, bà đã già đi – dĩ nhiên. Sau vài phút ngỡ ngàng nghe tôi tự giới thiệu thì bà đã nhận ra tôi, bà mời tôi vào nhà, rưng rưng nước mắt bà trách móc:

-Thì ra là cô… Tại sao mãi hôm nay cô mới trở lại đây? John đã chờ đợi cô mấy năm trời.

Tôi ngạc nhiên và xúc động, nước mắt cũng rưng rưng như bà Smith:

-Thật thế sao? Tôi xin lỗi, tôi vô cùng xin lỗi vì đã không thực hiện điều đã hứa với John

-Cô đâu có biết, ngay khi gia đình cô đi được một tuần là John đã chờ đợi cô gọi phone về từng ngày.  Nó luôn tin tưởng cô sẽ gọi phone cho nó và một ngày nào cô sẽ trở về Liberal.

Bà Smith gục đầu xuống và khóc nấc lên, kể tiếp:

-Nó đau khổ và héo hon cho đến khi hoàn toàn tuyệt vọng…

-Trời ơi, tôi không ngờ.

Tôi cố ngăn giòng nước mắt, vuốt ve cánh tay bà an ủi như an ủi cho chính mình và hỏi thăm:

-Số phận tôi và John không thể gần nhau thôi mà. Bây giờ anh ấy ra sao?

-Sau đó John lấy vợ, Christine là con gái một nhà truyền giáo bạn thân của vợ chồng tôi, cô gái hiền lành ngoan ngoãn và rất yêu John, đã làm lành vết thương lòng của John. Nhà vợ chồng nó cũng ở gần đây.

-Thế anh ấy không sống ở nông trại như anh ước mơ sao?

Bà Smith lau nước mắt, thoáng một niềm vui:

-Đó chỉ là ước mơ của một thằng bé tuổi vị thành niên, một thằng bé nhà quê mà suốt thời thơ ấu sống nơi trang trại. Khi John và Christine yêu nhau, cả hai cùng vào đại học. Họ đã tốt nghiệp y khoa và đang hành nghề bác sĩ ngay tại thành phố Liberal này.

Tôi ngạc nhiên và vui mừng reo lên:

-Không ngờ John học giỏi và có chí đến thế!

-Tôi tin là nhờ có tình yêu của Christine.

-Với nghề nghiệp bác sĩ cả hai vợ chồng John có thể đi đến những thành phố lớn lập nghiệp dễ dàng, nhưng sao họ vẫn ở lại nơi đây?

-Chúng tôi đã quen sống ở thành phố nhỏ, từ ngày ông Smith mất đi, John càng không muốn xa mẹ. Nhưng nó dù bận hành nghề, vẫn không quên phụ giúp tôi gieo trồng và làm vườn mỗi khi mùa Xuân về. Đó là niềm yêu thích của John, của chúng tôi.

Họ thật thủy chung, bao năm qua vẫn ở nơi này, ở căn nhà này dù họ có điều kiện để thay đổi. Bao năm qua họ vẫn trồng trọt làm vườn như nhà nông khi đến mùa dù họ có là ai đi nữa. Tôi đứng dậy chào tạm biệt bà Smith. Bà bỗng nắm cánh tay tôi, lo lắng dặn dò:

-Phải đấy, cô nên về ngay đi và xin cô hãy hứa với tôi một điều.

Tôi nói với tất cả chân tình:

-Tôi xin hứa bất cứ điều gì tôi có thể.

-Cô hãy đi và đừng bao giờ trở về đây nữa… Bao nhiêu năm qua, vết thương lòng của John đã lành. Tôi tin là John đã quên cô, nó đang sống yên vui hạnh phúc bên vợ con. Nhưng nếu cô xuất hiện sẽ gợi lại nỗi đau cũ. Cô hãy hứa lại một lần nữa cho tôi yên lòng.

Tôi chậm rãi nói từng lời rõ ràng cho bà Smith nghe rõ:

-Tôi xin hứa đây là lần cuối cùng đến đây. Thôi, xin chào bà.

Tôi đi ra cửa, buớc trên con đường thân quen của thuở tôi 17 tuổi lòng đầy kiêu kỳ tham vọng và John 18 tuổi hãy còn ngây thơ ngốc nghếch, muốn tán tỉnh tôi mà đưa ra một ước mơ nghèo nàn, đơn giản. Tình yêu chân thật của anh John nhà quê chẳng mấy khi đi đâu xa khỏi cái tiểu bang Kansas với những cánh đồng lúa mì mênh mông chỉ là một trò cười đối với tôi.

Nhưng hôm nay, ở cái tuổi không còn trẻ nữa, khi mái tóc không còn xanh nữa, sau những vật chất phù hoa tôi đã nếm biết bao vị đắng, trải qua bao phũ phàng của tình nghĩa vợ chồng. Và sau cuộc trò chuyện với bà Smith, tôi chợt nhận ra một tình yêu hồn nhiên trong sáng của John dành cho tôi. Cái hạnh phúc mà bây giờ vợ của John đang hưởng tôi biết là vững chắc, đẹp đẽ biết bao nhiêu. Điều mà tôi không hề có. Tôi chợt nghĩ đến mấy câu thơ tôi đã đọc đâu đó và yêu thích:

Ngày mái tóc không còn xanh được nữa,
Ngày đôi tay thôi dệt mộng phù hoa,
Thì em sẽ vì anh mà mở cửa,
Trông lên trời đếm hàng vạn sao sa.

Giờ đây không có ai, không có một tình yêu nào để cho tôi thể hiện sự thủy chung đằm thắm đơn giản như thế… Khi ra đến ngoài cổng, tôi quay lại khép cánh cổng rào bằng gỗ. Tôi biết mình vừa khép lại một quá khứ, một bầu trời xanh và mất nó vĩnh viễn.  

(Nguồn: [email protected])


Thơ Đặng Quang Tâm

Tiếng lòng

Gió thổi từng cơn gió trở chiều
Tiếng ai trong gió tiếng buồn thiu
Chiều nay nhìn lá khô rơi rụng
Chiếc lá xa cành rơi hắt hiu

Bèo dạt về đâu người nhớ người
Tình quê theo vận nước nổi trôi
Bơ vơ đất khách người mỗi ngã
Buồn ở nơi này tôi với tôi

Lưu lạc xứ người mấy chục năm
Bạn bè đứa chết đứa biệt tăm
Đứa còn sống sót trong nhà lão
Đứa hẹn đi thăm chẳng kịp thăm

Hôm qua có đứa vừa mới mất
Bữa trước còn mày nhậu với tau
Bây giờ nằm ở trong lòng đất
Biết đến bao giờ gặp gỡ nhau

Có những đêm dài không dám ngủ
Mơ màng gặp lại bạn thân thương
Những đứa bỏ thây ngoài biển cả
Những tù cải tạo chết mục xương

Bây giờ mới biết khi thua cuộc
Là cảnh tang thương cũng bắt đầu
Khi chục người cười mười người khóc
Cuộc đời dâu bể biết về đâu

Chiều nay nơi xứ người xa lạ
Nhìn lá vàng rơi bay tả tơi
Ngồi đợi hoàng hôn qua vất vả
Tiếng buồn thăm thẳm tiếng lòng tôi

12.10.2019
(Nhóm Văn Nghệ Trăng Vàm Cỏ Đông Tây Ninh)
(Nguồn: sangtao@org)


Thơ Phạm Mạnh Tiến

Vào ngày

…Sáng đầu ngày
Ru nhẹ trái tim tôi
Đừng suy đoán
Bi thảm hóa cuộc đời
Lòng hướng thiện
Quên cái tôi u tối
Tìm an bình
Trong hạnh phúc quanh tôi.
(Nguồn: [email protected])


Thơ Huỳnh Minh Lệ

Văn nghệ miền Nam

nam kỳ lục tỉnh phèn chua…
mùi câu vọng cổ nắng mưa đến giờ
cây bần cây mắm nên bờ
cây xoài cây mít con đò thủ thiêm
phù sa châu thổ nổi chìm
nước ròng nước lớn con bìm bịp kêu
sài gòn hủ tíu bún riêu
tiếng ca buổi sáng buổi chiều còn đây
đi về gò vấp mưa bay
hoàng oanh thanh thúy ai tày mai sau
18.11.2019

Những chiều gió bấc

những chiều gió bấc
áo tơi ngoài đồng
con cua con ốc
bếp ấm ngày đông

những chiều hun hút
gió reo trong hồn
chân đời chậm lụt
xa mờ cô thôn
17.11.2019

(Nguồn: sangtao@org)


 

Thơ Phan Bá Thụy Dương

Trên nỗi tình người

1.
mấy ngàn dặm hai khung trời cách biệt
em một phương
và ta ở một phương
trăng tuyết ở đây sao cũng dị thường
như khơi động nỗi niềm người viễn xứ

lỡ mai mốt em về qua xóm cũ
ta lạc loài từ thuở dấy đao binh
đường xưa em đi cô lẻ một mình
ôm khắc khoải thẫn thờ trong dư ảnh

2.
mưa bên ấy –
chắc làm em thấm lạnh
gió Hạ buồn có làm tóc em bay
trời đất mang mang sông bể vơi đầy
ai đếm được con nước ròng, nước lớn

thôi nhé em –
góp chi từng sợi nắng
nuối tiếc gì bụi khói đã trôi xa
nhớ nhung nào năm tháng chẳng phôi pha
mà chợt khóc, chợt cười trong ảo mộng

3.
đốt lửa lên em, hâm thêm rượu nóng
để mình say quên bão táp vô tình
sao mắt em buồn như giọt sương đêm
tìm đôi bàn tay, cũng chưa thấy ấm

biết về đâu ta nửa đời phiêu lãng
giấu u tình trong cổ mộ hoang vu
có còn chăng bèo bọt với mây mù
và ủ ấp bóng người trong lặng lẽ

4.
sóng biển hỡi – xin vỗ về thật nhẹ
cát vàng ơi – thôi xóa dấu hài hoa
sỏi đá nào dòng nước đã trôi qua
sao heo hắt muộn phiền như rêu cỏ

gác chuông Bắc ta treo hồn trên đó
đợi em về hong tóc gọi đêm Thu
cho mưa nguồn giăng lá thắm sa mù
và em cất tiếng, ru ta ngàn kiếp.

đảo Rokko, Osaka, Nhật Bản
(Nguồn: [email protected])


Thơ Nguyễn Minh Phúc

Đâu những mùa xưa…

những mùa xưa đó em chải tóc
mây vắt ngang vai sợi mưa hồng
nắng e ấp đợi tay ngà ngọc
trên cánh môi chờ hương nhớ mong

ơi những làn sương quá mong manh
xỏa ngang vai nên ướt không đành
chân tôi bước khẽ chiều qua phố
chợt thấy hồn mình mộng nhuốm xanh

những mùa xưa có nắng lung linh
đậu xuống đời nhau những dấu tình
trên đôi tay nhỏ ôm trời rộng
tôi về mơ màu mắt thủy tinh

…giờ những mùa xưa xa rất xa
chiều nay ngồi với phố mưa nhòa
nhớ em tôi khẽ tìm trong gió
đợi chút hương thầm sương khói qua…

Nói với cô liêu

tôi ngồi ôm vết thương tôi
như con chim nhỏ mồ côi rã rời
chừng như ngày cũng qua rồi
còn đây lại cả một trời hoang vu

câu thơ giờ cũng mịt mù
bỏ tôi và những lời ru muộn phiền
chỉ còn lại những chung chiêng
bên ngày gió bão bên đêm chập chùng

hắt hiu sương khói muôn trùng
tôi nghe vọng lại mịt mùng đời tôi
vờ như thương tích qua rồi
mà nghe điếng cả một trời cơn đau

thôi còn gì với nghìn sau
cũng xin gửi lại úa nhàu đam mê
mốt mai trên lối đi về
một tôi với cả bốn bề cô liêu…

(Nguồn: sangtao@org)


Vô Danh

Đừng quên cảm ơn

“Không nghĩa vụ nào khẩn cấp hơn việc bày tỏ lòng biết ơn.” No duty is more urgent than that of returning thanks. (James Allen)

1- Một vị tổng thống hỏi bà cụ sống 104 tuổi về bí quyết sống lâu. Bà trả lời: một là dí dỏm, hai là học biết cảm ơn. Lấy chồng từ năm 25 tuổi, ngày nào bà cũng nói nhiều nhất là hai chữ “cảm ơn.” Bà cảm ơn chồng, cảm ơn bố mẹ, cảm ơn con cái, cảm ơn hàng xóm láng giềng, cảm ơn mọi sự quan tâm săn sóc dành cho bà, cảm ơn từng ngày sống yên lành, ấm cúng và vui vẻ. Mọi lời nói thân thiết của người khác đối với bà, mọi việc làm bình thường nhỏ nhoi dành cho bà, mọi nét mặt tươi cười hỏi thăm bà, bà đều không quên nói hai tiếng “cảm ơn.” Mọi người không những không ngán đối với vô số lần cảm ơn hàng ngày của bà, trái lại càng gần gũi thương yêu bà, thường cảm thấy nếu mình không thương yêu bà hơn nữa, sẽ có lỗi với từng lời “cảm ơn” của bà… 80 năm đã trôi qua, hai tiếng “cảm ơn” khiến bà vui vẻ lâu dài, hạnh phúc lâu dài, mạng sống lâu dài, “cảm ơn” có bao nhiêu, tình yêu có bấy nhiêu. Tình yêu có ngần nào, “cảm ơn” có ngần nấy.

2- Một lần đi xe buýt về nhà, trước mắt tôi có một cô bé 7, 8 tuổi, lưng đeo cặp sách, hình như vừa tan học. Khi lên xe em bước không vững suýt nữa ngã. Tôi vội vàng đỡ em một tay. Vừa đứng vững em giơ tay ra hiệu, không biết em định nói gì với mình. Thấy tôi không hiểu em rất bối rối. Ngồi được một bến, tôi sắp sửa xuống xe. Cô bé vội vàng chạy đến nhét vào tay tôi một mẩu giấy. Tôi cứ tưởng có chuyện gì, ai ngờ xuống xe nhìn mẩu giấy, chỉ thấy một dòng chữ xiêu vẹo “cảm ơn, cảm ơn chú!” Thì ra em bị câm điếc. Không hiểu sao trái tim tôi bỗng trào lên một tình cảm nóng bỏng không sao miêu tả nổi.

3- Ở một thành phố nọ, có cậu bé 14, 15 tuổi, vì lấy cắp một quyển sách của một hiệu sách, bị bảo vệ bắt quả tang. Bảo vệ quát mắng khiến cậu vô vùng xấu hổ. Những người khác cũng nhìn cậu với ánh mắt khinh bỉ. Bảo vệ cứ đòi cậu gọi bố mẹ hay thầy giáo nhà trường đến nhận người. Cậu bé sợ co rúm người, nét mặt xám ngoét. Đúng lúc có một phụ nữ đứng tuổi rẽ đám đông vây xem, đến bênh vực cậu bé đang hoảng sợ:

-Đừng đối xử với trẻ em như thế. Tôi là mẹ của cháu!

Và trước sự chứng kiến của đám đông, người phụ nữ nộp tiền phạt cho cậu và dắt cậu ra khỏi hiệu sách, khe khẽ giục:

-Mau về nhà đi… Từ nay trở đi con đừng bao giờ lấy trộm sách nữa, nghen!

Mấy năm đã trôi qua.Cậu bé luôn nhớ ơn người phụ nữ đứng tuổi không quen biết ấy, cậu luôn hối hận là đã không nói được hai tiếng cảm ơn trước mặt bà. Nếu không có bà, đường đời cậu có thể sẽ rẽ sang một lối khác.

Sau khi thi đậu Đại Học, cậu sinh viên đã thề nhất định tìm cho ra bà ấy. Nhưng biển người mênh mông biết tìm đâu? Thế là hàng năm, lợi dụng hai kỳ nghỉ Hè và nghỉ Đông, ngày nào cậu cũng đến gần hiệu sách chờ, hy vọng gặp lại được người phụ nữ đứng tuổi kia. Hy vọng này hết sức mong manh, nhưng dù mưa gió cũng không cản trở được, cậu ta đã không hề nao núng. Bởi vì cậu không bao giờ quên khuôn mặt hiền từ của bà ấy…

Cứ thế, cậu sinh viên đứng chờ trong nhiều năm sau.., và cuối cùng may mắn đã gặp lại được bà, cậu cất tiếng lên nói “cảm ơn,” hai chữ đã được ôm ấp trong lòng cậu bấy lâu nay…

ST.

(Nguồn: Nicolas TRAN: [email protected])

[jwplayer M48JKSI1-YzmDPLlM]

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT