Thơ viết cho Đà Lạt – thơ Trần Vấn Lệ

Em có mái tóc dài đẹp nhất trên Đà Lạt.
Chiều nay gió thơm ngát, anh nhớ em biết bao…
Đà Lạt mình hoa đào Tháng Giêng sao đỏ rực.
Em là người duy nhất, anh nhớ về quê hương…
Có thể ai đó buồn? Mạ Ba, anh không nói,
bà con không thăm hỏi, trường xưa không ngó qua…
Em à, anh ở xa, chuyện gần thì tha thiết…
Anh biết ngày ly biệt, anh mất, mất hết rồi…
Cả dòng suối xanh, trôi… Cái cầu cây thông ngã…
Bà Thượng cõng bó lá về che lại túp lều…
Mấy đứa nhỏ chạy theo… con chó nhỏ lí lắc…
Cái gì còn cũng mất… cái chưa mất là còn…
Là em nhé, là thương! Cái gần anh trước mặt:
một Đà Lạt tím ngắt nắng chiều hồ Xuân Hương…
Mái tóc em: nguồn thơm của con khe xã Lát,
nước chảy chưa về thác, róc rách nghe vui vui…
Anh nhặt bỏ vào gùi sương trời, anh nói tóc…
và em ơi, anh khóc… tóc em kề bên anh…

Chiều nay nắng long lanh đọng trên từng nhánh liễu,
anh nhớ em yểu điệu như nàng Tiên Bích Câu…
Bích Câu chừ ra sao? Đồi Cù ai lượm bóng… ai
thấy lòng xúc động như anh từng thấy em?

***

Anh muốn nối dài thêm bài thơ này… bất tận.
Nhưng em ơi, giọt nắng rớt đầy trong mắt anh!
Tóc em gió vờn quanh… Chỉ là cơn mộng tưởng…
Ngôi trường xưa thấp thoáng… Em tan trường tung tăng!
Ôi tất cả giai nhân chỉ mình em con gái…
Thơ anh bài để lại là bài nhớ về em!
Về em… một bóng chim mịt mờ trang cổ tích!

Quê hương là gì

Quê hương là gì? Là gì?
Là nơi chốn để mình về nếu xa!
Quê hương là một mái nhà,
hoặc lợp bằng ngói hoặc là mái tranh…
Quê hương là một vườn chanh,
“Thầy U mình vốn cái tình chân quê”! (*)

Quê hương có suối, có khe,
có sông bát ngát, biển kề bao la…
Quê hương trong trái tim ta,
trái tim còn đập, Mẹ Cha còn chờ…
Biển dâu là chuyện không ngờ…
thương ơi là mả là mồ Tổ Tiên!

Ai làm trái đất này nghiêng,
cái ân cái oán, nhãn tiền ai ơi…

Quê hương nằm ở trên môi,
ở dòng máu chảy, mồ hôi chan hòa…
Quê hương dẫu bị xóa, nhòa,
đạn bom một thuở không là Thiên Thu!
Người đi qua Mỹ, qua Âu,
người đi qua Úc… năm châu lại về…
Chải xuôi nhé, mái tóc thề…
Ngủ ngoan nhé, anh nằm kề bên em!

Cuối cùng là Tiếng Trái Tim…
Cuối cùng dù nửa trái sim cũng về… (**)

(*) Thơ Nguyễn Bính
(**) Ca dao

(Nguồn: [email protected];

Chiến tranh thương mại giảm, Dow Jones lên 669 điểm

Comment Disclaimers / Policy

Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

Truyện chưởng Kim Dung của Trần Văn Tích: Từ hư cấu đến hiện thực

Dựa theo bối cảnh, sự kiện cũng như các nhân vật trong truyện chưởng Kim Dung, tác giả Trần Văn Tích lần lượt nêu lên nhiều chi tiết lý thú

Tại sao vĩ tuyến 17 mà không là vĩ tuyến khác?

Lê Công Tâm đã mang ra ánh sáng tại sao Việt Nam lại bị vĩ tuyến 17 chia đôi, phân cách mà không phải là một vĩ tuyến khác? Thí dụ 15 hay 18?

Viễn Châu và bài ca vọng cổ ‘Chim Vịt Kêu Chiều’

Dân đờn ca tài tử rất thích học bài “Chim Vịt Kêu Chiều” bởi vì đây là bài ca vọng cổ có xen vào nhiều lớp kịch.

‘Hồng bay mấy lá…’

Một bài thơ của Tản Đà, không có nhan đề, đúng ra nhan đề bài thơ ấy đã được dùng làm nhan đề cho cả cuốn sách, in ở ngoài bìa: hồng bay mấy lá

Tháng Ba, Đà Nẵng và Em – thơ Lê Tấn Dương

Ta vẫn nhớ thương về nơi ấy/ Những chiều nắng nhạt Ngũ Hành Sơn/ Nhớ đỉnh Sơn Trà trong gió lộng/ Tiếng oán than như tiếng gọi hồn.

Lê Công Tâm ghi nhận được những gì qua Hiệp Định Geneva 1954?

Luật Sư Lê Công Tâm cho rằng, ông thật may mắn khi có thể truy lục được các tài liệu liên quan về lịch sử Việt Nam, nhất là lịch sử cận đại.

Bài vọng cổ xưa ‘Nỗi Lòng Nàng Khương Nữ’ của Huỳnh Thủ Trung

Đến giữa thập niên 1950, soạn giả Huỳnh Thủ Trung đã dựa theo trang tình sử bi thảm của nàng Khương Nữ tìm chồng viết lên bài vọng cổ 12 câu

Nhìn lại một tạp chí miền Nam: Hiện Đại

Trong năm 1960 miền Nam Việt Nam xuất hiện tới ba tạp chí văn chương: Hiện Đại xuất bản vào Tháng Tư, tới Thế Kỷ Hai Mươi, và Sáng Tạo.

Tình muộn – thơ Thọ Khương

Giọt mưa buồn thánh thót/ Thu vàng gợi tình xưa/ Lá rơi chiều cúi mặt/ Thầm lặng đời lay đưa

Hành Tây Bắc – thơ Lê Tấn Dương

Ta đã lưu phương Tây Bắc này/ Hai sáu mùa, theo lá thu bay/ Hết năm, Xuân đến, hoa đào nở/ Mới thấy cuộc đời lắm đổi thay.