Tháng Hai-Ba và Thiếu Tá Phạm Văn Hồng

Phạm Kim

Thiếu Tá Phạm Văn Hồng. (Hình từ Youtube “Ngàn Người kể”)

Tôi đang xem và nghe Thiếu Tá Phạm Văn Hồng kể trong cái Youtube của “Ngàn Người Kể” (1)… và nhớ lại rằng Ngày 15 Tháng Giêng, 1974, anh cầm đầu phái đoàn VNCH đi ra đảo Quang Hòa (Hoàng Sa) thám sát việc xây cất một phi trường thật nhỏ, trên cái đảo mỗi bề dài khoảng 1km, bề ngang khoảng 600 mét (chu vi của đảo là 3,200 mét).

Thời gian thấm thoát, đã 45 năm qua vụt nhanh… từ khi tôi theo ông Tướng HQ Lâm Nguơn Tánh đi đón 45 chiến sĩ VNCH về từ trại giam Quảng Đông, vào trưa ngày 27 Tháng Hai, 1974. Đấy là lần đầu tôi gặp Thiếu Tá Phạm Văn Hồng trong nhóm đó.Hôm ấy tại Phi Trường Khải Tắc Hồng Kông, trời trong vắt như nắng đẹp Miền Nam… Phạm Văn Hồng vốn là thanh niên một thời xuất thân trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt… và lúc ấy anh là trưởng toán tù binh vừa được trao trả tự do sau đúng 40 ngày bị giam giữ. Anh dẫn đầu đoàn người trở về, đi bộ từ hướng xa tắp, từ từ tiến đến…

Hôm ấy sau thủ tục chào đón, tay bắt mặt mừng, khi mọi người ngồi trong lòng chuyến máy bay đặc biệt Hàng Không Việt Nam – “Air Con Rồng,” về Sài Gòn… Anh em mới trở được đón tiếp thật nồng hậu, bằng champaigne, bia 33 và các thức ăn ngày Tết, thật vui… Anh em quân nhân VNCH trong đồng phục công nhân Tầu lục địa màu xanh lục vải kaki còn sắc nếp gấp – khó gây thiện cảm, rộng thùng thình… Món quà mà anh em cho tôi là tấm hình 43 chiến sĩ do quản giáo các trại tập trung chụp. Đó là toàn bộ gồm các chiến sĩ Địa Phương Quân trên đảo khoảng 20 người, 4 người từ đài kiểm báo, một toán anh em Hải Quân từ chiến hạm cũng mới chân ướt chân ráo đổ bộ vào đảo, những anh em người nhái cũng mới từ chiến hạm đổ xuống, cùng 4 người còn lại của phái đoàn đi khảo sát để chuẩn bị việc xây Phi Trường. Riêng người cố vấn Mỹ không có mặt… Họ cũng kể ra một vài ghi nhận về trận giao tranh “kinh thiên động địa, có lẽ là trung thực, đáng tin cẩn… nhất về cuộc tấn công của quân Trung Cộng vào 11 giờ trưa 19 Tháng Giêng, 1974. Theo đấy, tôi còn nhớ lại lính tiền trạm trên đảo dưới quyền chỉ huy của Trung Úy Địa Phương Quân Phạm Hy toàn bộ chỉ có thế, chứ không phải là con số hàng ngàn lính chiến, như sự tưởng tượng của những người chưa hề biết đến các đảo nhỏ này!…

Tháng Ba, 1974, sau khi mới ghé đảo vài ngày, nghiên cứu địa thế để xây phi trường, thì anh Phạm Văn Hưởng đã bị bắt và được thả về từ trại giam, rồi lại về tiếp tục phục vụ tại thành phố Đà Nẵng. Ở những ngày cuối Tháng Ba, Đà Nẵng ngộp thở vì số lượng cả hằng triệu đồng bào khắp nơi di tản về khắp đường phố, nghẹt người chan hòa cùng cái nắng của những ngọn núi vây quanh vẫn tỏa hơi nóng đến mức… loay hoay không biết phải làm sao!

Ngày cuối cùng của Đà Nẵng 29 Tháng Ba, 1974, Thiếu Tá Võ Bị Phạm Văn Hồng đã cố cưu mang gia đình mình cùng các con của người anh ruột là một trung đoàn trưởng, giờ phút ấy họ cũng ở cách phi trường không xa. Còn tôi là kẻ từ Sài Gòn ghé qua đấy chỉ một-hai ngày. Thế mà tôi đã may mắn hơn anh Hồng, còn tìm được đường về lại Bộ Tư Lệnh HQ ở Sài Gòn, vì công tác vừa xong và được phép rời thoát khỏi ngay nơi này: Định mệnh đã cho tôi may mắn gặp được một người lính gác phi trường tay vẫn thủ M-16, anh ta độ lượng kéo tay tôi từ đám đông chen lấn, lên chiếc C-130  Rồi C-130 đóng cửa sau và động cơ chuyển động dữ dội. Lúc ấy tôi không còn biết gì hết, sau này mới nghe nói là anh Hồng đã bị bỏ sót lại tại phi trường Đà Nẵng… 45 năm sau, vào Tháng Hai năm nay, 2019, như bao lần rồi, tôi cố tìm trong các phương tiện có thể truy tìm lại tên của anh qua trang Google, v.v…

Là kẻ rất muộn màng, tôi thấy hiện lên hình ảnh của anh Phạm Văn Hồng qua nhiều phóng sự đã được rất nhiều người xem… Và hôm nay thì bao nhiêu hình ảnh cũ liên quan tới anh lại hiện về… Trong vòng hơn 20 phút, bao nhiêu câu chuyện kể lại với chị Triều Giang – chuyện thật ghi lại từ “Ngàn Người Kể” – Những nhân chứng mà tôi từng biết, từng gặp. Họ là những người một thời có duyên nợ với Trường Sa chính là “người chỉ huy đảo” Đào Tiềm-Trường Sa, sau này có một thời sống cùng anh em chúng tôi ở Trảng Lớn, với Phạm Hy – trấn thủ Hoàng Sa, v.v… Hôm nay như xem chiếu lại cuốn phim đã nhòa nhạt của một thời biển đảo, một thời làm nhân chứng cho những thăng trầm mênh mang..

Ngồi trước màn ảnh, tôi nhớ lại phi trường Khải Tắc trưa ngày 27 Tháng Hai, 1974, rồi đến phi trường Đà Nẵng 45 năm xưa (ngày 29 Tháng Ba, 1975)… Và hôm nay người cựu thiếu tá xuất thân Trường Võ Bị đang xuất hiện trên màn ảnh kia: Giọng nói đầy thiết phục, chân tình, tha thiết, anh vẫn mang nét quắc thước đĩnh đạc… Anh vẫn  như ngày nào bước chân đầy tự tin, đi đầu trong số trên 40 người đi trong nắng gió, trong tiếng chim hải âu oang oác gọi nhau trong nắng và gió…

(Nguồn: [email protected])

(1) Xin xem và nghe chi tiết từ: https://www.youtube.com/watch?v=dJMYhtYwwJM&app=desktop;

Video: Tin Trong Ngày Mới Cập Nhật

Copyright © 2018, Người Việt Daily News

Lưu ý: Để mở âm thanh, xin bấm vào nút muted icon imagephía góc phải bên dưới của khung video.

Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

Tháng Ba, Đà Nẵng và Em – thơ Lê Tấn Dương

Ta vẫn nhớ thương về nơi ấy/ Những chiều nắng nhạt Ngũ Hành Sơn/ Nhớ đỉnh Sơn Trà trong gió lộng/ Tiếng oán than như tiếng gọi hồn.

Lê Công Tâm ghi nhận được những gì qua Hiệp Định Geneva 1954?

Luật Sư Lê Công Tâm cho rằng, ông thật may mắn khi có thể truy lục được các tài liệu liên quan về lịch sử Việt Nam, nhất là lịch sử cận đại.

Bài vọng cổ xưa ‘Nỗi Lòng Nàng Khương Nữ’ của Huỳnh Thủ Trung

Đến giữa thập niên 1950, soạn giả Huỳnh Thủ Trung đã dựa theo trang tình sử bi thảm của nàng Khương Nữ tìm chồng viết lên bài vọng cổ 12 câu

Nhìn lại một tạp chí miền Nam: Hiện Đại

Trong năm 1960 miền Nam Việt Nam xuất hiện tới ba tạp chí văn chương: Hiện Đại xuất bản vào Tháng Tư, tới Thế Kỷ Hai Mươi, và Sáng Tạo.

Tình muộn – thơ Thọ Khương

Giọt mưa buồn thánh thót/ Thu vàng gợi tình xưa/ Lá rơi chiều cúi mặt/ Thầm lặng đời lay đưa

Hành Tây Bắc – thơ Lê Tấn Dương

Ta đã lưu phương Tây Bắc này/ Hai sáu mùa, theo lá thu bay/ Hết năm, Xuân đến, hoa đào nở/ Mới thấy cuộc đời lắm đổi thay.

Tết mẹ tôi – thơ Phùng Hiếu

Sáng nay theo Xuân xuống phố/ Em lì xì ta nụ cười/ Hình như Mai chưa khoe sắc?/ Tết về Tết trải muôn nơi

Những điều nhỏ nhặt – thơ Yên Nhiên

Này hòn sỏi nhỏ giữa đường đi/ Lăn lóc đơn côi có nghĩa gì/ Phải chăng giã từ viên đá tảng/ Trải mình lót lối khách chuyển di

Tết đầu tiên ở Mỹ – Tết cuối cùng ở Việt Nam

Thày u tôi rời làng quê ở Nam Ðịnh di cư vào Nam sau Hiệp Định Genève 1954. Khi mới vào, thày u ở Khu 7 xứ Nghĩa Hòa, Ngã Ba Ông Tạ

Bắt đầu một ngày mới – thơ Trần Vấn Lệ

Hôm nay, ngày mưa tầm tã/ đó là dự báo mà thôi!/ Sáng thấy mặt trời lên rồi/ ngày Xuân, ngày vui đang tới...