Viễn Châu giúp hãng dĩa Hồng Hoa qua bài tân cổ giao duyên ‘Người Yêu Của Lính’

Ngành Mai

Bìa cuốn bài ca “Người Yêu Của Lính,” do hãng dĩa Hồng Hoa phát hành Tháng Mười, 1965. (Hình: Ngành Mai sưu tập)

Giữa thập niên 1960, cái thời mà dĩa hát tân cổ giao duyên ào ạt tung ra thị trường, đại lý các tỉnh đặt hàng liên tục vẫn không đủ đáp ứng nhu cầu cho khách hàng mộ điệu. Đó là do bài ca mới lạ, tình tiết câu chuyện diễm tình đầy cảm động đề cập đến người lính chiến và người em gái hậu phương.

Do vậy mà hãng dĩa lớn Hồng Hoa cũng chạy theo thời thế, thay đổi đường hướng sản xuất, và đã cho ra đời dĩa tân cổ giao duyên “Người Yêu Lính Chiến.” Tân nhạc của Song Linh, vọng cổ của Viễn Châu, do Thanh Tuyền ca tân nhạc và ca luôn phần vọng cổ.

Hãng dĩa Hồng Hoa là hậu thân của hãng dĩa Asia, nên đường hướng hoạt động làm ăn cũng chẳng khác hãng Asia bao nhiêu trong việc chọn cốt truyện sản xuất dĩa hát, mà thường là nhắm vào truyện cổ tích, dã sử, truyện Tàu, và chuyện… đâu đâu, có nghĩa câu chuyện không biết xảy ra thời nào, ở đâu.

Hãng Hồng Hoa có thời gian dài hốt bạc nhờ dĩa hát với các câu chuyện “Lương Sơn Bá-Chúc Anh Đài,” “Con Tấm Con Cám,” “Võ Đông Sơ-Bạch Thu Hà,” “Phạm Công-Cúc Hoa,” “Lâm Sanh-Xuân Nương”…

Thế nhưng, thị hiếu thính giả ở mỗi thời kỳ mỗi khác, các thế hệ trước ưa thích dĩa hát các câu chuyện xưa tích cũ như trên. Nhưng sang đầu thập niên 1960 thì thính giả thuộc thế hệ sau đã không còn muốn nghe các bài ca thuộc loại đời xưa ấy nữa, càng về sau thì các loại tuồng và bài vọng cổ “đời xưa” đã hết ăn khách, bán ế.

Người đại diện của hãng đi chào hàng dĩa mới, thì phần lớn đại lý các tỉnh từ chối nhận hàng. Có một bà chủ đại lý ở miền Tây đã thốt lên ngôn từ của nhà buôn sành sỏi, đanh đá: “Thôi đi ông ơi! Thời này mà còn ra dĩa hát ‘Lưu Kim Đính giải giá Thọ Châu,’ ‘Mạnh Lệ Quân thoát hài,’ thì chỉ có nước đem về kho tiêu, chớ có ma nào bỏ tiền ra mua đâu!”

Thế hệ sau họ ưa chuộng bài ca nói đến hoàn cảnh xã hội, tình cảm, kèm theo địa danh có thật ngoài đời như “Tình Anh Bán Chiếu,” “Gánh Nước Đêm Trăng,” “Mồ Em Phượng,” “Tiếng Đàn Trên Bắc Mỹ Thuận”…

Đến năm 1965 hãng dĩa Continental do nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông điều hành, ông là sĩ quan cấp tá trong quân đội, và đã chọn các bản nhạc nói lên nét kiêu hùng, tinh thần chịu đựng gian khổ của người chiến sĩ Cộng Hòa. Đồng thời đưa hình ảnh trẻ đẹp nhu mì người con gái hậu phương, mà tâm tư hướng về người chiến sĩ ngoài biên cương, nơi rừng sâu núi thẳm.

Loại dĩa hát này được giới trẻ hoan nghinh nên đã có mặt cùng khắp các tỉnh, đi đâu cũng nghe, đài phát thanh cũng cho hát hằng ngày. Do đó mà hãng dĩa Hồng Hoa đã bị ế hàng trầm trọng, và trong lúc chưa có phương thuốc chạy chữa thì soạn giả Viễn Châu, người cộng tác lâu năm với hãng Hồng Hoa, đã đề nghị hãng nên thay đổi đường hướng hoạt động, bằng cách ngưng sản xuất dĩa hát rút trong truyện Tàu, đồng thời chọn các bản nhạc nói về người lính và ông lãnh phần viết vọng cổ. Có như thế mới cạnh tranh nổi với hãng dĩa Continental của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông.

Và chẳng bao lâu thì dĩa hát tân cổ giao duyên “Người Yêu Của Lính” được tung ra thị trường.

Dưới đây là bài tân cổ giao duyên “Người Yêu Của Lính:”

Em nhớ tên anh nhiều đêm gió lộng,
Ngoài trời buồn hiu mưa hắt từng cơn,
Ngại ngùng vì anh sa trường chiến đấu,
Chống ngăn giặc thù mong đem chiến công,
Khi bóng chinh y mờ sau nắng chiều,
Là giờ ngùi say sưa bước người đi,
Bụi đời mờ hoen vai người anh dũng,
Chiến binh là đời đầy dẫy oai hùng.

Vọng Cổ:

1-Em nhớ tên anh qua nhiều đêm gió thoảng buồn mênh mang lắng đọng giữa tim sầu… nước chảy bèo trôi thầm lặng giữa chân cầu… mưa hắt hiu gieo buồn thôn xóm cũ những ngoại ngùng cho kẻ ở biên cương, một quãng đời sớm nắng chiều sương mà ly bôi đã cạn chén lâu rồi, bụi ven đường mờ lấp bóng chinh y anh hẹn buổi tao phùng với vần thơ khói lửa.

2-Quen cô đơn đã mấy mùa mưa lạnh gói trọn vào tim một bóng dáng oai hùng… bụi đường xa dày dạn bước phong trần… anh ra đi quyết đạp bằng gian khổ đợi anh về em khép chặt buồng xuân, trước Phật đài khấn nguyện lâm râm cầu anh được bình an ngoài trận tuyến, bởi người yêu của em là lính chiến buổi lên đường vẫn nhắc chuyện tình chung.

Thơ:

Em nhớ tên người trai chiến chinh,
Ngày đi còn hẹn tiếng ân tình,
Thương anh thương cả màu biên giới,
Có dãy cây rừng rặng núi xanh.

5-Nhưng người của em yêu là người lính chiến một chiều sương vác súng biệt khuê phòng… chí làm trai đâu vướng bận môi hồng… anh đã đi trong điêu tàn khói lửa chí râu mày đâu ngại gió mưa phong, em ở đây một nắng hai sương, mùa khói lửa đã quen nhiều cay đắng, nhưng lời hẹn ước đã ghi sâu vào tâm khảm khi hình dung một bóng dáng kiêu hùng.

Nhạc:

Đây chính yêu anh mà em gắng chờ,
Đợi ngày trùng lai em vẫn hằng mơ,
Một ngày nào xong quân dịch hiên ngang,
Ấy em nguyện rằng đời chỉ có chàng…

Gió lộng từng cơn đưa mưa buồn trước ngõ ngại ngùng ai nơi sương gió biên thùy… hẹn nhiều rồi há ngại gối chăn đơn, dù thuyền cũ chưa quay về bến hẹn.

Thơ:

Mưa rơi lạnh buốt đêm trường,
Chớp bể mưa nguồn, em vẫn nhớ tên anh.
(Ngành Mai)

Lưu ý: Để mở âm thanh, xin bấm vào nút muted icon imagephía góc phải bên dưới của khung video.

Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

Truyện chưởng Kim Dung của Trần Văn Tích: Từ hư cấu đến hiện thực

Dựa theo bối cảnh, sự kiện cũng như các nhân vật trong truyện chưởng Kim Dung, tác giả Trần Văn Tích lần lượt nêu lên nhiều chi tiết lý thú

Tại sao vĩ tuyến 17 mà không là vĩ tuyến khác?

Lê Công Tâm đã mang ra ánh sáng tại sao Việt Nam lại bị vĩ tuyến 17 chia đôi, phân cách mà không phải là một vĩ tuyến khác? Thí dụ 15 hay 18?

Viễn Châu và bài ca vọng cổ ‘Chim Vịt Kêu Chiều’

Dân đờn ca tài tử rất thích học bài “Chim Vịt Kêu Chiều” bởi vì đây là bài ca vọng cổ có xen vào nhiều lớp kịch.

‘Hồng bay mấy lá…’

Một bài thơ của Tản Đà, không có nhan đề, đúng ra nhan đề bài thơ ấy đã được dùng làm nhan đề cho cả cuốn sách, in ở ngoài bìa: hồng bay mấy lá

Tháng Ba, Đà Nẵng và Em – thơ Lê Tấn Dương

Ta vẫn nhớ thương về nơi ấy/ Những chiều nắng nhạt Ngũ Hành Sơn/ Nhớ đỉnh Sơn Trà trong gió lộng/ Tiếng oán than như tiếng gọi hồn.

Lê Công Tâm ghi nhận được những gì qua Hiệp Định Geneva 1954?

Luật Sư Lê Công Tâm cho rằng, ông thật may mắn khi có thể truy lục được các tài liệu liên quan về lịch sử Việt Nam, nhất là lịch sử cận đại.

Bài vọng cổ xưa ‘Nỗi Lòng Nàng Khương Nữ’ của Huỳnh Thủ Trung

Đến giữa thập niên 1950, soạn giả Huỳnh Thủ Trung đã dựa theo trang tình sử bi thảm của nàng Khương Nữ tìm chồng viết lên bài vọng cổ 12 câu

Nhìn lại một tạp chí miền Nam: Hiện Đại

Trong năm 1960 miền Nam Việt Nam xuất hiện tới ba tạp chí văn chương: Hiện Đại xuất bản vào Tháng Tư, tới Thế Kỷ Hai Mươi, và Sáng Tạo.

Tình muộn – thơ Thọ Khương

Giọt mưa buồn thánh thót/ Thu vàng gợi tình xưa/ Lá rơi chiều cúi mặt/ Thầm lặng đời lay đưa

Hành Tây Bắc – thơ Lê Tấn Dương

Ta đã lưu phương Tây Bắc này/ Hai sáu mùa, theo lá thu bay/ Hết năm, Xuân đến, hoa đào nở/ Mới thấy cuộc đời lắm đổi thay.