Phác họa mấy thời kỳ lục bát và, thơ Cung Trầm Tưởng

 


Du Tử Lê


(Tiếp theo kỳ trước)


 


Là người Việt Nam, ai cũng biết lục bát là một thể thơ truyền thống, đặc biệt của riêng văn học Việt Nam. Mặc dù gần đây, có người đưa ra “phát kiến” cho rằng, không chỉ Việt Nam mà, một vài đân tộc khác, cũng có thơ lục bát hoặc một thể thơ tương tự như vậy.










Từ trái qua: Thanh Tâm Tuyền, Cung Tiến, Tô Thùy Yên, Cung Trầm Tưởng.


“Phát kiến” này, theo tôi không có cơ sở vì hai yếu tính căn bản sau đây


Thứ nhất, vì đặc tính của ngôn ngữ Việt Nam là Ðơn âm/Monosyllabic, nên lục bát mới có thể giữ đúng cấu trúc 6 chữ cho câu thứ nhất và, 8 chữ cho câu thứ hai.


Thứ nhì, ngoài Việt Nam, chúng ta biết, có ngôn ngữ của một số dân tộc khác, cũng là loại đơn âm. Nhưng, vì những ngôn ngữ đơn âm kia, không có 5 dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng (như của Việt Nam,) để ứng hợp với luật Bằng/Trắc căn bản, bắt buộc mà, thể thơ lục bát đòi hỏi. Chúng ta cũng biết, các chữ có dấu huyền hoặc không dấu, thuộc “Vần Bằng.” Những chữ có dấu sắc, hỏi, ngã nặng thuộc “Vần Trắc.”


Cụ thể, luật thơ lục bát được quy định như sau:


1. Bằng bằng, trắc trắc, bằng bằng (cho câu sáu.)


2. Bằng bằng, trắc trắc, bằng bằng, trắc, bằng (cho câu 8.)


Tuy nhiên, luật thơ lục bát cho phép người làm thơ được miễn trừ luật bằng, trắc ở những chữ thứ nhất, thứ ba và, thứ năm. (Giới làm thơ quen gọi là luật “nhất, tam, ngũ bất luật.”


Thí dụ hai câu thơ mở đầu “Ðoạn trường tân thanh” của Nguyễn Du:


Trăm năm trong cõi người ta


Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau.


Tóm lại, với niêm luật bắt buộc để lục bát là… lục bát, tôi không nghĩ và, cũng không tin có một nền văn học nào khác trong nhân loại, cũng có một thể thơ lục bát, giống Việt Nam.


Khi nói, lục bát là một thể thơ truyền thống, đặc biệt của riêng người Việt Nam, tôi muốn nhấn mạnh, thể thơ này xuất hiện rất sớm trong lịch sử văn học của chúng ta hàng nghìn năm trước. Nó xuất hiện dưới dạng ca dao, tục ngữ khi chữ quốc ngữ trở thành phổ thông.


Nhưng, chúng ta vẫn phải đợi tới khi Nguyễn Du Tiên sinh chọn thể thơ lục bát để ký thác tâm sự mình, qua trường thiên “Ðoạn Trường Tân Thanh,” (dân gian quen gọi là “Truyện Kiều,”) lúc đó, lục bát mới chính thức trở thành một thể thơ có đầy đủ tính văn học ở mọi khía cạnh.


Ðặt qua một bên nghệ thuật tả cảnh, tả tình, tâm lý, triết lý, tâm sự, phản ảnh xã hội, thời đại sống của mình v.v… căn bản lục bát của Nguyễn Du Tiên sinh là “kể chuyện.” Vị cha già của lục bát Việt Nam, (nếu tôi được phép gọi như vậy,) là một nhà văn kể chuyện (Story Teller) cực kỳ tài hoa, uyên bác.


Nói cách khác, Lục bát của Nguyễn Du Tiên đã sinh trở thành “khuôn vàng thước ngọc” ảnh hưởng vào dòng chảy lục bát của văn học Việt mấy trăm năm sau. (3)


Tiêu biểu cho sự kiện này là nhà thơ Nguyễn Bính, một nhà thơ nổi tiếng từ thời Tiền chiến. (4)


Không kể những bài lục bát dài hàng trăm câu trở lên, như bài “Lỡ Bước Sang Ngang,” ở những bài lục bát khác ngắn hơn, như bài “Trăng Sáng Vườn Chè,” vỏn vẹn chỉ có 10 câu, nhưng nó vẫn là dạng kể một câu chuyện.


Một trong những bài lục bát cuối cùng của sự nghiệp thi ca đồ sộ của tác giả “Lỡ Bước Sang Ngang,” bài “Tỉnh Giấc Chiêm Bao,” đăng trong giai phẩm “Trăm Hoa,” Hà Nội, 1956, cũng vẫn ở dạng kể chuyện, rất có lớp lang, thứ tự:


Chín năm đốt đuốc soi rừng,


Về đây ánh điện ngập ngừng bước chân.


Cửa xưa mành trúc còn ngân


Góc tường vẫn đọng trăng xuân thuở nào…


Tuy nhiên, cùng thời gian đó, khi Huy Cận, tác giả “Lửa Thiêng” xuất hiện thì, ông đã cho lục bát một gương mặt, một chiếc áo mới. Nói cách khác, lục bát Huy Cận, đóng vai trò chấm dứt chu kỳ lục-bát-kể-chuyện kéo dài từ thời Nguyễn Du.


Lục bát Huy Cận chẳng những không nhắm mục đích kể lể thứ tự các sự việc mà, nó cũng không mô tả một biến chuyển tâm sinh lý nào. Nó là một chuỗi hình ảnh nối tiếp nhau qua tương tác rất máu thịt với chữ, nghĩa. Tôi muốn nói tới nỗ lực vận dụng những con chữ một cách tân kỳ, sáng tạo. Ðể tự thân hình ảnh và, chữ nghĩa sẽ mang tới cho người đọc những cảm ứng sâu, rộng khác nhau, tùy tâm hồn, trình độ mỗi người đọc.


Với lục bát mới của Huy Cận, độc giả không còn bị nhốt trong những ý, tình được định hướng sẵn bởi tác giả. Người đọc cũng không bị trói tay, chân trong một không gian với một khí hậu bất biến.


Vì không gian trong lục bát Huy Cận là không-gian-mở, nên những liên ảnh (link-image) trong thơ của tác giả “Lửa Thiêng” cũng không diễn biến theo một trật tự cố định nào.


Thí dụ, Huy Cận mở đầu bài “Thu Rừng” của mình bằng hai câu:


Bỗng dưng buồn bã không gian,


Mây bay lũng thấp giăng màn âm u.


Rồi bất ngờ ông “giới thiệu” với những người đọc, một sinh vật:


Nai cao gót lẫn trong mù


Xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về.


Con nai trong hai câu thơ trên, không hề là hình ảnh đại diện hay “thay mặt” cho tác giả. Nó cũng không giữ một vai trò mang tính ẩn dụ (metaphor) nào. Nó là chính nó. Nó là một phần của cái “không gian buồn bã” – Như một điểm nhấn (making a point) sinh động trong bài thơ (bức tranh) đẫm ướt mùa thu này.


Cũng thế, mở đầu bài thơ “Thuyền Ði,” Huy Cận viết:


Thuyền đi, sông nước ưu phiền;


Buồm treo ráng đỏ giong miền viễn khơi.


Sang đêm thuyền đã xa vời;


Người ra cửa biển nghe hơi lạnh buồn.


Ông dẫn người đọc đi thẳng vào bài thơ (đúng hơn vào không gian thơ) của ông mà, không cần một rào đón, chuẩn bị tâm lý nào cho người đọc. Suốt bài thơ, người ta cũng không thấy dù thấp thoáng chủ thể (nhân vật) như lục bát cũ.


Ngay bài “Buồn Ðêm Mưa,” một trong vài bài lục bát được nhiều người biết đến nhất của Huy Cận thì, nhân xưng đại danh tự “Ta,” xuất hiện duy nhất một lần trong bài thơ, cũng không phải là cái “Ta” của chủ thể. Hay cái “Ta” của nhân vật. Mà cái “Ta” phiếm-chỉ trong bài thơ, chỉ là chiếc cầu nối, giữa trời đất, và cảm thức nhỏ bé của con người trong bao la mà thôi. Người đọc không thấy một Huy Cận riêng tư nào trong toàn thể bài thơ:


Ðêm mưa làm nhớ không gian,


Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la…


Tai nương nước giọt mái nhà


Nghe trời nặng nặng, nghe ta buồn buồn…


Lại nữa, nếu phải đi tìm một “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt cõi giới lục bát Huy Cận thì đó là tinh thần hoài cổ, rất gần với khí hậu thơ Bà Huyện Thanh Quan thuở trước:


Ðồn xa quần quại bóng cờ


Phất phơ buồn tự thời xưa thổi về


(Trích “Chiều Xưa,” Huy Cận)


Nó đúng như tinh thần hai câu thơ nổi tiếng của ông:


Một chiếc linh hồn nhỏ


Mang mang thiên cổ sầu.


(Trích “Ê Chề,” Huy Cận.)


Theo tôi, đó là những nét đặc thù trong lục bát Huy Cận. Còn lục bát Cung Trầm Tưởng thì sao?


Du Tử Lê


(Còn tiếp 1 kỳ)


 


Chú thích:


(3): Theo Wikipedia thì tác giả Truyện Kiều sinh năm 1765, mất năm 1820. Ngoài Truyện Kiều, Nguyễn Du còn để lại một số tác phẩm tiêu biểu như: Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh. Văn Tế Sống Hai Cô Gái Trường Lưu. Thác Lời Trai Phường Nón (bằng chữ Nôm). Ba tập thơ chữ Hán là: Thanh Hiên Thi Tập, Nam Trung Tạp Ngâm, và Bắc Hành Tạp Lục.


(4): Nhà thơ Nguyễn Bính tên thật là Nguyễn Trọng Bính. Ông sinh 1918, mất năm 1966.


(5) Nhà thơ Thế Lữ tên thật là Nguyễn Thứ Lễ. Ông sinh năm 1907, mất năm 1989.


(6) Nhà thơ Huy Cận tên là Cù Huy Cận. Ông sinh năm 1919, mất năm 2005.

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT