Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.
Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.
Nguyễn Hữu Hiệu
Kỳ 12
Mụ thở dài, châm một điếu thuốc mới từ điếu của Zorba.
– Tôi yêu một thủy sư đô đốc. Crete đang trong thời kỳ cách mạng và hạm đội của các cường quốc thả neo trong hải cảng Suda. Mấy hôm sau tôi cũng cắm neo tại đây. A! Thật tuyệt vời! Các ông phải thấy bốn thủy sư đô đốc: Anh, Pháp, Ý, Nga. Tất cả đầy vàng, giầy bóng, mũ gài lông. Hệt như những con gà trống. Những con gà trống lớn mỗi con nặng từ tám mươi đến một trăm kí-lô. Và râu ơi là râu, ria ơi là ria! Quăn, óng mượt, nâu, vàng, xám, hung, thơm tho làm sao! Mỗi người có một hương thơm riêng, vì thế tôi có thể phân biệt được họ trong đêm tối. Nước Anh có mùi eau-de-Cologne, nước Pháp mùi đổng thảo, nước Nga mùi xạ và nước Ý, a! nước Ý mê ly long-diên-hương! Chúa ơi! Râu ơi là râu, ria ơi là ria!
“Thường thường, chúng tôi họp nhau trên soái hạm và bàn bạc về cách mạng. Tất cả binh phục đều được cởi bỏ, còn tôi chỉ còn một tấm áo chemise cộc tay dính vào da thịt, bởi vì các ông tướng đã đổ champagne lên đó. Chúng tôi bàn bạc về cách mạng, chuyện trò nghiêm trang đứng đắn, tôi túm lấy râu họ và xin họ đừng pháo kích đám dân Crete thân yêu khốn khổ. Chúng tôi có thể nhìn thấy họ qua ống nhòm, trên một mỏm đá, gần La Canea. Trông họ nhỏ, nhỏ li ti như những con kiến, với những cái quần cụt xanh và giầy ống vàng. Và họ kêu la, kêu la, và họ cầm một lá cờ…”
Dẫy lau sậy rào giậu quanh sân lay động. Người nữ chiến già dừng lại, sợ hãi. Trong đám lá, những cặp mắt tinh quái sáng rực. Ðám trẻ trong làng đánh hơi thấy bữa tiệc xa hoa của chúng tôi, đang rình mò xem.
Người ca sĩ cố gắng đứng lên nhưng đứng không nổi: mụ đã ăn uống quá nhiều, mụ ngồi xuống, toát mồ hôi. Zorba lượm một hòn đá. Lũ trẻ vừa chạy vừa la làng.
– Nói tiếp đi, người đẹp của tôi, nói tiếp đi, cưng! Zorba nói và xích lại gần mụ hơn chút nữa.
– Vì thế tôi nói với thủy sư đô đốc Ý, người thân mật với tôi nhất, tôi nắm lấy râu lão và nói: “Canavaro của em – tên lão – Canavaro yêu quí của em, đừng làm bum! Bum! Ðừng làm bum! Bum!”
“Biết bao lần người đàn bà mà các ông đang thấy đây đã cứu dân Crete khỏi chết! Biết bao lần súng đại bác sẵn sàng nhả đạn và tôi đã nắm lấy râu viên thủy sư đô đốc và tôi không để lão làm bum! Bum! Nhưng có ai nhớ ơn tôi không? Tôi có được một cái huy chương nào không…”
Mụ Hortense nổi giận vì lòng vô ơn bạc nghĩa của con người. Mụ già nắm bàn tay mềm và nhăn nheo đập xuống bàn. Và Zorba, xòe hai bàn tay lão luyện đặt lên hai đầu gối dang ra của mụ, nắm lấy, giả vờ xúc động, kêu lên:
– Bouboulina* của tôi, cho tôi xin, đừng làm bum! Bum!
– Bỏ tay xuống! Mụ quang quác nói. Ông coi tôi là hạng người nào?
Và mụ đờ đẫn liếc nhìn hắn.
– Dù sao cũng còn trời cao kia, lão quỉ quyệt nói. Ðừng giận dỗi, Bouboulina của tôi. Có chúng tôi đây, đừng sợ!
Mụ kiều nữ già ngước đôi mắt xanh gay gắt nhìn trời; mụ nhìn thấy con két xanh lè của mụ đang ngủ trong lồng.
– Canavaro của em, Canavaro yêu quí của em! Mụ thì thầm một cách âu yếm.
Con két nhận ra giọng nói của mụ, choàng mở mắt, bám lấy nan lồng và bắt đầu kêu bằng cái giọng khàn khàn của một người chết đuối!
– Canavaro! Canavaro!
– Có mặt! Zorba vừa kêu lớn vừa đặt tay lên hai đầu gối đã được xiết bao thờ phụng một lần nữa, như thể hắn muốn chiếm hữu lần này.
Mụ ca sĩ quằn quại trên ghế và lại mở cái miệng rúm ró ra:
– Tôi cũng can đảm sát cánh chiến đấu… Nhưng những ngày đen tối bắt đầu… Crete được giải phóng, những hạm đội được lệnh triệt thoái. “Còn tôi, tôi sẽ ra sao? Tôi vừa la vừa nắm lấy bốn hàm râu. Các ông sẽ bỏ tôi nơi đâu? Tôi đã quen với quyền cao chức trọng, tôi đã quen dùng rượu champagne với gà rô-ti, tôi đã quen với những chú lính thủy kháu khỉnh chào tôi kiểu nhà binh. Tôi sẽ ra sao? Bốn lần góa bụa hay sao, các quan thủy sư đô đốc ơi!”
“Ô hô”, họ cười hô hố. A! Ðàn ông! Họ thích cho đầy bảng Anh, lire Ý, rúp Nga và đồng napoléons. Tôi nhét trong vớ, trong ngực áo và trong giầy. Buổi tối cuối cùng, tôi khóc lóc kêu gào đến nỗi các ông đô đốc phải mủi lòng thương hại tôi. Họ đổ champagne vào đầy bồn tắm, ẵm tôi dìm vào đó – chúng tôi rất thân mật nhau, ông thấy chưa – và sau đó, họ uống tất cả champagne trong bồn để tỏ lòng quí trọng tôi và họ say khướt. Sau đó, họ tắt đèn…
“Buổi sáng hôm sau, tôi ngửi thấy đủ mọi hương thơm lớp lớp chồng lên nhau: mùi đổng-thảo eau-de-Cologne, xạ hương và long-diên-hương. Bốn đại cường – Anh, Pháp, Nga, Ý – tôi đặt ở đây, đây này, trên đầu gối tôi, và tôi điều khiển họ, nhìn đây, như vậy đó!”
* Anh thư của cuộc tranh đấu giành độc lập Hy Lạp (1821-28) đã anh dũng chiến đấu trên các mặt biển Canaris và Miaulis. (N.H.H)









































































































