Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người. Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969. – Nguyễn Hữu Hiệu
Kỳ 24
Tôi hoan hỷ, tôi biết điều đó. Trong khi an hưởng hạnh phúc chúng ta khó lòng ý thức được hạnh phúc. Chỉ khi nào nó đã qua đi và chúng ta nhìn lại đằng sau chúng ta mới đột nhiên cảm thấy – đôi khi thảng thốt – chúng ta đã sung sướng biết chừng nào. Nhưng tôi, trên bãi biển Crete này, tôi sống trong hạnh phúc và tôi biết rằng tôi hạnh phúc.
Một vùng biển xanh thẫm, bao la, trải rộng đến tận duyên hải Phi Châu. Thường thường có một cơn gió nồm rất nóng, gió Livas, thổi từ miền cát cháy xa xôi tới. Buổi sáng, biển tỏa hương thơm như một trái dưa đỏ; buổi trưa, nó bốc hơi và lặng như tờ với những lượn sóng gờn gợn như bờ ngực mới nhú. Buổi chiều nó thở dài và có mầu của hoa hồng, của rượu nho, của cà dái dê, xanh thẫm.
Xế trưa, tôi đùa giỡn bằng cách bốc cát vàng và để nó luồn, nóng và mềm, qua những kẽ ngón tay. Bàn tay – một cái đồng hồ cát qua đó cuộc đời chạy trốn và hư mất. Nó tự hư mất. Tôi nhìn biển, chờ đợi Zorba và cảm thấy thái dương tôi nổ vỡ vì hạnh phúc.
Tôi nhớ một hôm, cháu gái tôi, Alka, một con bé bốn tuổi, trong lúc chúng tôi đang nhìn vào một cửa hàng đồ chơi vào tối hôm cuối năm, quay lại và nói với tôi nhận xét lạ lùng này: “Chú Ogre ơi, cháu sung sướng quá muốn mọc sừng đây này!” Tôi giật mình. Kỳ diệu thay cuộc đời và giống nhau làm sao mọi tâm hồn, khi cắm rễ thật sâu xuống, gặp gỡ và hòa hợp với nhau! Bởi tôi nhớ ngay tới một cái đầu Ðức Phật khắc trong gỗ mun mà tôi đã trông thấy trong một viện bảo tàng xa xôi. Ðức Phật đã giải thoát và thấm nhuần niềm hoan hỷ tối thượng, sau bẩy năm khắc khoải. Gân hai bên thái dương ngài căng phồng đến nỗi tung ra khỏi da và trở thành đôi sừng mạnh mẽ xoắn lại như hai cái lò so bằng thép.
Cơn mưa nhỏ tạnh vào lúc xế chiều, bầu trời trở nên quang đãng. Tôi đói và hân hoan vì đã đói, bởi bây giờ Zorba sắp đến, nhóm lửa và bắt đầu nghi lễ nấu nướng.
– Lại một câu chuyện bất tận nữa đây! Zorba thường nói khi đặt nồi lên bếp lửa. Không phải chỉ riêng đàn bà – quân khốn kiếp – mới là chuyện bất tận, cả cái việc ăn uống này nữa chứ.
Trên bãi biển này lần đầu tiên tôi cảm thấy cái thú của một bữa ăn. Buổi tối, Zorba nhóm lửa giữa hai tảng đá và làm bếp; chúng tôi nhập cuộc ăn uống, câu chuyện trở nên sôi nổi hào hứng; cuối cùng tôi ý thức được rằng ăn cũng là một chức vụ tinh thần và thịt, bánh, rượu là những nguyên liệu tạo nên tinh thần.
Sau một ngày làm việc cực nhọc, trước khi ăn uống Zorba buồn tẻ, gắt gỏng, gặng mãi mới moi được của hắn vài tiếng. Cử chỉ của hắn uể oải và khó thương. Nhưng khi hắn vừa ném than vào máy, theo lời hắn nói, toàn thể bộ máy trì trệ và mệt lử của thân thể hắn sống động trở lại, lấy trớn và bắt đầu làm việc. Mắt hắn sáng ngời, trí nhớ tràn trề, chân hắn mọc cánh và nhẩy múa.
– Hãy nói cho tôi biết anh làm gì với cái anh ăn, tôi sẽ nói cho anh biết anh là ai. Có kẻ biến đồ ăn thành mỡ và phân, kẻ biến nó thành công việc và khí sắc vui vẻ, và kẻ khác, thành Thượng Ðế, như tôi nghe người ta nói. Vậy có ba loại người. Tôi, tôi không thuộc loại tệ nhất cũng chẳng thuộc loại tốt nhất. Tôi ở giữa hai loại đó. Cái tôi ăn, tôi biến nó thành công việc và tính khí vui vẻ. Không đến nỗi dở lắm!
Hắn nhìn tôi một cách tinh quái và cất tiếng cười.
– Còn về phần ông, ông chủ, tôi nghĩ có lẽ ông cố gắng biến cái ông ăn thành Thượng Ðế. Nhưng ông không hoàn toàn thành công và điều đó dày vò ông. Trường hợp ông cũng giống như trường hợp con quạ.
– Trường hợp con quạ làm sao, Zorba?
– Ông biết chứ, trước kia nó đi một cách oai phong, thoải mái, như một con quạ vậy. Nhưng một hôm tự nhiên nó nẩy ra ý muốn vừa đi vừa vênh váo như con đa đa. Từ khi đó, con chim đáng thương quên ngay cả cách đi riêng của mình. Nó bị lẫn lộn hết, ông thấy không? Nó chỉ còn nước đi khập khiễng.
Tôi ngửng đầu lên. Tôi nghe tiếng chân Zorba đang lên khỏi đường hầm. Lát sau tôi thấy hắn tiến đến gần, mặt thuỗn ra, nhăn nhó, hai cánh tay dài đong đưa, thõng thẹo.
– Chào ông chủ! Hắn thều thào nói.
– Chào Zorba. Hôm nay công việc ra sao?
Hắn không đáp.
– Tôi đi nhóm bếp và làm cơm đây, hắn nói.
Hắn lấy một ôm củi trong góc, đi ra ngoài xếp những thanh củi một cách khéo léo thành một đống giữa hai tảng đá và nhóm lửa. Hắn đặt cái nồi đất lên trên, đổ nước, bỏ vào đó hành, cà chua và gạo và bắt đầu nấu. Trong thời gian đó tôi trải một tấm khăn lên cái bàn tròn thấp, cắt những lát bánh mì dầy, và rót rượu từ trong hũ ra cho đầy quả bầu trang trí nhiều hình vẽ mà bác Anagnosti đã tặng cho chúng tôi ít lâu sau khi chúng tôi đến đây.
Zorba quì gối trước bếp, mở mắt lớn nhìn ngọn lửa và giữ im lặng.
– Bác có con chưa, Zorba? Ðột nhiên tôi hỏi hắn.
Hắn quay lại:
– Tại sao ông lại hỏi tôi điều ấy? Tôi có một đứa con gái.
– Lập gia đình chưa?




























































































