Những ‘Tế Bào Gốc’ trong thơ Luân Hoán

 


Ở những trang viết trước, tôi trích dẫn khá nhiều thơ liên quan tới chiến tranh của Luân Hoán. Ðó là những bước tới (của thơ), sau khi bàn chân trái của ông đã vĩnh viễn gửi lại nơi chiến địa. Ðiều đó không có nghĩa tôi có chủ tâm phân chia từng mảng thơ của Luân Hoán/Lê Ngọc Châu thành những ốc đảo biệt lập.



Tôi hiểu có nhiều cây bút khi phê bình thơ, thường có thói quen phân vùng, chia khu, đánh đai cho cõi giới thi ca của một số tác giả mà họ đề cập.


Tôi cũng hiểu sự chia khu, phân vùng đó, sẽ giúp cho người đọc dễ tiếp cận từng mảnh vườn mà, nhà thơ kia đã lao tác cực lực, kinh qua nhiều giai đoạn nổi trôi đời người. Nhất là với những nhà thơ có số lượng sáng tác phong phú, giầu có, như trường hợp của Luân Hoán/Lê Ngọc Châu.


Tuy nhiên, ở một mặt nào khác, tôi cho sự thuận tiện, dễ dàng nọ, không thích ứng lắm với những kênh mạch tình cảm phức tạp của họ Lê.


Trong ghi nhận của riêng tôi thì, Luân Hoán không chỉ thả vào dòng sông thi ca của ông một lượng chữ, nghĩa dồi dào mà, dòng sông chữ, nghĩa của ông còn chảy qua nhiều tâm cảnh khác nhau – Như những nét cắt sắc, sâu của một nhân chứng sống, giữa thời hoang, loạn.


Không ít người đã từng xếp bài thơ nhan đề “Vết Thương” của Luân Hoán vào kênh thơ tình. Có lẽ bởi vì bài thơ là một đối thoại mang tính tự hỏi/đáp của tác giả với đối tượng người yêu (giả thiết hiện diện) của ông.


Riêng tôi, tôi không thấy dù chỉ thấp thoáng chút lãng mạn (ngay cả lãng mạn thương đau) trong những khổ thơ mở đầu bằng những câu hỏi (hay tự hỏi) của Luân Hoán, như: “Em không hỏi vì sao ta bỏ cuộc / Em không hỏi vì sao ta bất lực /…”


Người đọc có thể cảm nhận được tính chất tha thiết, lòng chân thành muốn giãi bày tâm sự của tác giả, với người con gái ông gọi bằng “em” trong bài thơ…


Nhưng, rốt ráo, những câu tác giả tự hỏi cũng chỉ là cái cớ để ông bộc bạch cái nhìn của ông về thế sự thăng trầm. Luôn cả người con gái được Luân Hoán chọn nhân xưng đại danh tự ngôi thứ hai “em” (có thể hiểu là người bạn đời của ông,) cũng chỉ là cái cớ để họ Lê nói được một cách tự nhiên những cảm nghĩ thật của một người lính được giải ngũ, trở về với gia đình, sau thương tích.


Thí dụ, những câu thơ như:


…Giữa chợ đời không bán nốt lương tâm.


Hay:


…Ngồi bó gối chờ đợi áo cơm em.


Hoặc nữa:


…Rượu đã hết xin cho ta giọt lệ


Giọt mồ hôi em đổ sáng sang chiều.


Tôi cũng không tìm thấy những chỉ dấu lãng mạn hay, thơ mộng nào trong bài thơ dài nhan đề “Ðôi mắt ngã tư Ba La,” của Luân Hoán, để có thể gọi đó làm một bài thơ tình thuần chất.


Tâm bão hay nội dung bài thơ này, theo tôi là hệ quả tự thân của chiến tranh. Sự nhìn lại trần truồng, không ma mị, không nhân danh một lý tưởng to lớn nào, để “mỹ viện hóa” sự trần trụi, sần sùi, hầm hố… nhân sinh kia, khi ông viết:


 …Ta bỗng hiện nguyên một thằng thua cuộc


ngồi mé ngã tư, đứng dựa ngã ba


thơ thẩn bỗng không hơn gì giấy lộn


đắp mặt không xong, phủ lòng xót xa


 định mệnh bất ngờ giúp nhau mở lối


trái mìn oan khiên như vị cứu tinh


em chợt vội vàng làm cô dâu mới


vợ đã yên lòng nuôi gã thương binh.


 


Ta phỉnh ai đâu, phỉnh ta đấy chứ


cho đến bây giờ ta vẫn phỉnh ta


nhớ nước sông Trà quay bờ xe nước


lòng đậu hay trôi ngã tư Ba La?


(Trích “Ðôi mắt ngã tư Ba La”)


 


Cách khác, tôi muốn nói, tôi thấy không nên phân loại thơ Luân Hoán một cách máy móc. Kiên cưỡng. Tôi không thấy đó là một bài là thơ chiến tranh thuần túy.


Trong thơ chiến tranh của Luân Hoán, không chỉ có súng, đạn, địch, ta. Mà trong thơ tạm gọi là chiến tranh của Luân Hoán vẫn thấm đẫm tình yêu. Như chiếc bóng mơ hồ của bi kịch.


Cũng thế, trong thơ tình Luân Hoán, tôi vẫn thấy những phân tranh, những cuộc chiến cam go giữa chân/giả. Giữa thất vọng và, niềm tin. Giữa dối trá hôm qua và, ngày mai ký thác trăm năm.


Tôi thấy, tất cả mọi kênh, mạch ý niệm, kinh nghiệm sống, chết của họ Lê, đã trộn lẫn trong thơ ông. Như máu, thịt. Tuồng chúng đồng nhất thể. Bất khả phân ly.


Chưa kể, cường lực sáng tác của Luân Hoán rất sung mãn. Nó không bị sút giảm theo thời gian. Và, thật đáng kể, nếu chúng ta nhớ rằng, môi trường sống ở những xã hội Tây phương vốn dị ứng – Nếu không muốn nói là khắc tinh của những rung cảm cần thiết, cho những ấu trùng văn chương nở thành những cánh bướm rực rỡ!


Nhiều người không giải mã được hiện tượng nghịch chiều này, nơi tác giả “Nén Hương Cho Bàn Chân Trái.”


Cá nhân, tôi nghĩ, ngoài nguồn mạch tình yêu, thủy chung dành cho người bạn đời của mình, sinh-phần thơ Luân Hoán còn có những tế-bào-gốc: Tế-bào-gốc-quê-hương. Tế bào gốc tình yêu ân nghĩa. Tế-bào-gốc-bằng-hữu…


Một cách ngắn gọn, tôi muốn gọi chung là: Tế-bào-gốc-Luân-Hoán/Lê Ngọc Châu.


Tôi không nghĩ tình cảm riêng tư của tôi, vốn có những góc khuất, những điểm mù khi viết những điều trên.


Thực tế cho tôi thấy, có những thi sĩ thành công với loại thơ đối kháng nhưng, thất lạc ở tự trào. Cũng có những nhà thơ nhuần nhuyễn với loại thơ khẩu khí; nhưng vẫn có thể gập ghềnh khi bước vào thể loại thơ khác.


Thực tế cũng cho tôi thấy, có những nhà thơ xuất sắc với loại thơ nói về một cuộc chiến, dù đứng ở góc độ nào (lên án chiến tranh/giễu cợt kẻ thù/trào phúng chính mình, như một sinh vật bất lực tội nghiệp trước những mù lòa súng đạn/thậm chí tố cáo tội ác đối phương…) nhưng không có gì bảo đảm rằng, họ sẽ tiếp tục gặt hái hoa, trái tốt tươi khi trầm mình trong thế giới tình yêu đôi lứa.


Luân Hoán, ngoại lệ. Ông làm thơ dễ dàng. Phong phú. Thơ ông, như những cánh diều chữ nghĩa, tâm tưởng, bay được với bất cứ thời tiết nào. Dù cho đó là những dằn xóc hay, mịt mờ, u ám của những khoảng đất trời bất trắc thiên nhiên.


Người đọc có thể thích/không thích lượng thơ tuôn trào như thác đổ của ông, những năm quê người.


Người đọc có thể cảm/vô cảm trước những bài thơ ông viết xuống một cách hồn nhiên với mọi sinh hoạt diễn ra chung quanh đời sống hàng ngày của ông.


Nhưng, bằng vào những tế-bào-gốc như đã nói, dòng chảy của thơ Luân Hoán đã và, sẽ còn tiếp tục chảy tới. Với thời gian, chúng vẫn cuộn xiết những nụ cười tự trào. Ân nghĩa. Và, những đôn hậu tình bằng hữu…


Du Tử Lê


(Calif. Tháng 9, 2012)

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT