Alexis Zorba con người chịu chơi (Kỳ 55)

Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.


Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.


Nguyễn Hữu Hiệu


 


Kỳ 55


 


“Tôi không có một nguồn vui nào. Có chứ, một nguồn vui: làm việc. Với thân thể và tinh thần tôi, nhất là với thân thể. Tôi thích mệt lả, vã mồ hôi, nghe xương tôi kêu răng rắc. Một nửa tiền của tôi liệng đi, tôi phung phí bằng cách nào và ở bất cứ nơi nào tôi thích.


 Tôi không là nô lệ của tiền bạc: tiền bạc là nô lệ của tôi. Tôi là nô lệ của công việc, tôi kiêu hãnh nói thế. Tôi đốn cây: tôi ký giao kèo với bọn Ăng Lê. Tôi chế tạo thừng; bây giờ, tôi trồng cả bông nữa. Ðêm qua, giữa đám da đen của tôi, hai bộ lạc Wa’yao và Wa’ngoni – đánh nhau vì một mụ đàn bà: một con đĩ. Vì tự ái, anh thấy không. Hệt như ở bên Hy Lạp. Chửi rủa, huyên náo, tai vạ bất ngờ, máu đã đổ. Bọn đàn bà đang đêm chạy đến đánh thức tôi đến phân xử. Tôi nổi giận, tôi bảo chúng cút đi cho rảnh, rồi tới cảnh sát Anh. Nhưng chúng không chịu đi, đứng suốt đêm ngoài cửa nhà tôi kêu gào. Sáng sớm, tôi đi ra và làm trọng tài phân xử.


“Sáng sớm mai, Thứ Hai, tôi sẽ trèo lên rặng Usumbara, với rừng, núi, nước mát và cỏ xanh vạn niên. Thôi, đồ Hy Lạp đê tiện, bao giờ mi mới chịu bỏ rơi Âu Châu, con đĩ ngồi trên những sông ngòi lớn, kẻ gian dâm với tất cả vua chúa của trần gian”? Khi nào mi mới chịu đến để chúng ta cùng trèo lên rặng núi hoang vắng và trinh tuyền này?


“Tôi có một đứa con với một mụ da đen: một đứa con gái. Mẹ nó, tôi đã đuổi đi rồi: mụ cho tôi mọc sừng công khai, giữa thanh thiên bạch nhật, dưới mỗi cây xanh hàng xóm. Tôi chán mụ quá và tôi đã đuổi mụ đi rồi. Nhưng tôi giữ lại con nhỏ; nó được hai tuổi. Nó đi, nó bắt đầu nói và tôi dạy nó nói tiếng Hy Lạp; câu đầu tiên tôi dạy nó là: “Tao nhổ vô mặt các người, quân Hy Lạp, tao nhổ vào mặt các người quân Hy Lạp!”


“Nó giống tôi, con ranh con. Nó chỉ có cái mũi tẹt, rộng là giống mẹ nó thôi. Tôi yêu nó, nhưng giống như anh yêu một con chó hay một con mèo. Ðến đây và kiếm một đứa con trai với một mụ đàn bà Usumbara. Chúng ta sẽ cho chúng nó cưới nhau một ngày kia, để làm vui lòng chúng ta, và để làm vui lòng chúng nó nữa.


Thôi, chúc ma quỉ đi với anh, và với tôi, bạn thân mến!


Carayannis, Servus diabolicus Dei.


Tôi để lá thư mở rộng trên đầu gối. Ước vọng ra đi mãnh liệt một lần nữa lại xâm chiếm tôi. Không phải tôi cần đi. Tôi hoàn toàn thoải mái trên bờ biển Crete này, tôi cảm thấy sung sướng và tự do. Tôi không thiếu gì hết. Nhưng tôi luôn luôn bị dầy vò bởi một ước vọng mãnh liệt: thấy và sờ mó đất đai và biển càng nhiều càng hay trước khi tôi chết.


Tôi đứng dậy, thay đổi ý kiến và thay vì trèo núi, tôi vội vàng rảo bước xuống bờ biển. Tôi cảm thấy lá thư kia trong túi áo trên chiếc áo khoác ngoài, và tôi không cầm lòng được nữa. “Ðủ rồi, tôi nghĩ, tiền vị của nỗi hân hoan ngọt ngào và kinh hoàng này kéo dài đủ rồi.”


Tôi về đến lều, nhóm lửa, pha café, ăn bánh với bơ, mật ong và mấy trái cam. Tôi cởi quần áo nằm dài trên giường và mở lá thư:


“Sư phụ và đệ tử tân tòng của tôi!


“Ở đây tôi có nhiều việc nặng nề và khó khăn, đội ơn “Thượng Ðế” – tôi nhốt chữ nguy hiểm giữa hai ngoặc kép (như nhốt một con mãnh thú giữa chắn song sắt), để thầy khỏi bực mình ngay sau khi giở lá thư của tôi. Vâng, một công việc rất khó khăn, đội ơn “Thượng đế”! Một nửa triệu dân Hy Lạp đang nguy khốn ở miền Nam nước Nga và trong rặng Caucasus. Ða số chỉ biết nói tiếng Thổ Nhĩ Kỳ hay tiếng Nga, nhưng tim họ nói tiếng Hy Lạp một cách cuồng tín. Họ là nòi giống ta. Chỉ cần nhìn họ – cách cặp mắt họ sáng lên, tham lam vô độ, tọc mạch, vẻ tinh quái và đầy nhục dục của môi họ khi họ cười, cách họ thu xếp để trở thành chủ nhân và có nông nô làm việc cho họ trên lãnh thổ mênh mông này của nước Nga – là thầy đủ hiểu họ đúng là con cháu của Odysseus thân yêu của thầy. Bởi thế ta đến đem yêu thương cho họ và không thể để họ bị tiêu diệt.


“Bởi vì họ đang bị họa tiêu diệt. Họ đã mất tất cả những gì họ có, họ đói khát, trần truồng. Một mặt họ bị bọn Bolchevik theo dõi; một mặt bị dân Kurds rình mò. Khắp nơi, dân di cư lũ lượt đổ dồn về định cư tại một vài tỉnh ở Georgia và Armenia. Không có thực phẩm, thuốc men, quần áo. Họ tập trung trong những hải cảng, lo lắng, đăm đăm hướng về phía chân trời xem có tầu Hy Lạp đến đón họ trở về với Mẹ – Hy Lạp. Một phần của nòi giống ta, nghĩa là một phần tâm hồn chúng ta đang trong cơn khủng hoảng.


“Nếu ta phó mặc họ với số phận họ, họ sẽ bị tiêu diệt. Chúng ta cần phải có nhiều tình thương yêu và hiểu biết, nhiệt tâm và đầu óc thực tiễn – những đức tính mà thầy mong muốn thấy đoàn kết xiết bao – để đi đến cứu họ và bứng họ trồng trong mảnh đất tự do của chúng ta, nơi sẽ ích lợi nhất cho nòi giống ta – nghĩa là trên biên thùy Macedonia, và xa hơn nữa, trên miền biên giới Thrace. Ðó là cách duy nhất khiến chúng ta cứu vớt được hàng trăm ngàn dân Hy Lạp và chúng ta sẽ cứu vớt được chúng ta cùng với họ. Bởi vì ngay sau khi đến đây, tôi vẽ một vòng tròn, theo cách thầy dạy tôi, và gọi vòng tròn đó là: “Bổn phận của tôi.” Tôi nói: “Nếu ta cứu vớt được cả vòng tròn này ta sẽ được cứu vớt; nếu ta không cứu vớt được nó, ta sẽ hư mất!” Mà, trong vòng tròn đó có năm trăm ngàn dân Hy Lạp!

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT