Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.
Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.
Nguyễn Hữu Hiệu
Kỳ 76
Mặt trời nóng gay gắt, chúng tôi lui vào bóng mát. Gã thầy tu nồng mùi mồ hôi chua ra trầm hương. Gã sắp tan thành nước trong ánh mặt trời và Zorba phải lôi gã vào chỗ râm mát nhất để gã đừng bốc mùi hôi thối quá.
Zorba lúc này đã ăn uống no nê và muốn nói chuyện phiếm, hắn hỏi:
– Bạn trở thành tu sĩ như thế nào?
Gã thầy tu cười khẩy:
– Có lẽ bạn cho là vì thánh thiện? Chắc vậy! Vì nghèo đói, bạn ơi, vì nghèo đói! Tôi không có gì để ăn, vì thế tôi tự nhủ: “Ta chỉ còn nước đi vào tu viện để khỏi chết đói mà thôi!”
– Và bạn có mãn nguyện không?
– Lạy Chúa! Tôi khao khát than thở luôn luôn, nhưng xin bạn đừng để ý tới điều đó. Tôi không khao khát những chuyện trần gian, những cái đó, tôi i… vào, xin lỗi bạn, ngày nào tôi cũng i… vào. Nhưng tôi khao khát thiên đàng! Tôi kể chuyện khôi hài và tôi nhảy nhót làm bọn thầy tu cười. Tất cả đều bảo tôi bị quỉ ám và nhục mạ tôi. Nhưng tôi thầm nhủ: “Không thể được, chắc chắn Thượng Ðế phải ưa sự đùa giỡn.” “Vào trong này, chú hề nhỏ bé của ta, vào trong này!” Tôi biết một ngày kia ngài sẽ nói với tôi như vậy. “Ðến làm trò cười cho ta!” Tôi sẽ vào Thiên Ðàng như một tên hề vậy đó.
– Bạn ơi! Tôi tin rằng cái đầu bạn vít đúng chỗ đấy! Zorba vừa nói vừa đứng dậy. Thôi đi kẻo tối!
Gã thầy tu lại đi mở đường. Trong khi leo núi tôi có cảm tưởng đang leo lên những cấp bậc tinh thần trong tôi, đi từ những lo âu đê hạ tầm thường tới những mối bận tâm cao cả hơn, từ những chân lý tiện nghi của đồng bằng với những lý thuyết hiểm trở.
Ðột nhiên gã thầy tu dừng lại.
– Ðức Bà Trừng Phạt! Gã la lên, tay chỉ một giáo đường nhỏ mái tròn duyên dáng.
Gã quì xuống và làm dấu thánh giá.
Tôi xuống la và bước vào nhà nguyện. Trong một góc tường có một tượng Thánh Mẫu cổ kính, ám khói và đầy đồ mã: những tấm bạc mỏng trên đó những bàn chân, bàn tay, những đôi mắt, những trái tim… được khắc một cách thô sơ. Một ngọn đèn chầu bằng bạc trước thánh tượng duy trì một ánh sáng không bao giờ tắt.
Tôi lặng lẽ lại gần: một tượng Thánh Mẫu dữ dội, hiếu chiến, khuôn cổ mạnh mẽ và tia mắt nghiêm khắc, xao xuyến của một trinh nữ, giữ trong tay, không phải Chúa hài đồng mà là một cây giáo dài thẳng băng.
– Khốn cho kẻ nào xúc phạm tới tu viện! Gã thầy tu kinh sợ nói. Bà sẽ lao vào hắn và cây giáo của Bà sẽ xuyên qua người hắn. Ngày trước quân Algérie đến đây đốt tu viện. Nhưng hãy coi chúng bị trừng phạt thế nào, những quân vô lại ấy; lúc chúng đi qua giáo đường này, đức Mẹ Ðồng Trinh từ tượng Thánh Mẫu nhẩy xuống và lao ra ngoài và bắt đầu đập bằng cây giáo, đập tứ tung; Ðức Bà giết chết hết cả bọn. Ông nội tôi nhớ trông thấy hài cốt chúng ngổn ngang khắp cánh rừng. Bắt đầu từ đó, người ta gọi Ðức Bà là Ðức Bà Trừng Phạt. Trước kia người ta gọi bà là Ðức Mẹ Nhân Từ.
– Tại sao Ðức Bà không làm phép lạ trước khi chúng đốt tu viện, thưa cha Zaharia? Zorba hỏi.
– Bề-Trên muốn như vậy! Gã thầy tu vừa trả lời vừa làm dấu ba lần.
– Ðồ-Bề-Trên! Zorba lẩm bẩm, hắn trèo lên yên. Lên đường.
Chẳng bao lâu, trên một cao nguyên, người ta thấy tu viện Ðức Mẹ Ðồng Trinh hiện ra giữa núi đá và thông. Thanh thản, tươi sáng, cách biệt thế gian, nằm lọt thỏm trong hẻm của đèo cao xanh tốt này, hòa hợp một cách sâu thẳm sự cao nhã của đỉnh cao và sự dịu dàng của đồng bằng, đối với tôi tu viện này là một nơi ẩn dật tuyệt vời nhất cho sự trầm tư nhân loại.
“Nơi đây, tôi nghĩ, một tâm hồn giản phác và dịu dàng có thể đào luyện một hứng khởi tôn giáo xứng hợp với tầm vóc con người. Không phải là một đỉnh cao cheo leo, siêu nhân, cũng chẳng là một đồng bằng lười biếng, tham dục, nhưng chỉ là cái gì cần thiết cho tâm hồn vươn lên mà không đánh mất vẻ ôn nhu nhân loại của mình. Một cảnh giới như thế này, tôi tự nhủ, sẽ không tạo ra anh hùng cũng chẳng sinh sản ra heo chó. Nó sẽ đào luyện ra con người.”
Nơi đây hoàn toàn xứng hợp với một đền thờ cổ Hy Lạp duyên dáng hay một thánh đường Hồi giáo vui tươi. Thượng Ðế phải giáng xuống đây trong hình thể nhân loại đơn giản của ngài. Ngài phải đi chân trần trên cỏ xuân và chuyện trò lặng lẽ với con người.
– Kỳ diệu thay! Cô đơn thay! Hoan lạc thay!
Chúng tôi xuống la, đi vào cửa giữa vòng tò vò, trèo lên phòng khách, nơi người ta mang đến cho chúng tôi khay rượu raki, mứt và cà-phê cổ truyền. Cha phụ trách tiếp khách đến, các tu sĩ vây quanh chúng tôi và người ta bắt đầu nói. Những cặp mắt tinh quái, những cặp môi tham lam, những chòm râu ria, và những cái nách hôi mùi dê đực.
– Các ông không mang báo tới sao? Một tu sĩ băn khoăn hỏi.
– Báo ư? Tôi ngạc nhiên hỏi lại. Các Cha làm gì bằng báo ở đây?
– Thưa huynh, một tờ báo để biết tình hình thế giới dưới kia! Hai ba tu sĩ tức giận la lên.
òng khách, nơi người ta mang đến cho chúng tôi khay rượu raki, mứt và cà-phê cổ truyền. Cha phụ trách tiếp khách đến, các tu sĩ vây quanh chúng tôi và người ta bắt đầu nói. Những cặp mắt tinh quái, những cặp môi tham lam, những chòm râu ria, và những cái nách hôi mùi dê đực.
– Các ông không mang báo tới sao? Một tu sĩ băn khoăn hỏi.
– Báo ư? Tôi ngạc nhiên hỏi lại. Các Cha làm gì bằng báo ở đây?
– Thưa huynh, một tờ báo để biết tình hình thế giới dưới kia! Hai ba tu sĩ tức giận la lên.



























































































