Không biết từ đời thuở nào tôi đã vô cùng ái mộ nền văn minh Hy Lạp. Hy Lạp với những đền đài uy nghi tráng lệ song lại rất giản đơn, thanh nhã. Hy Lạp với những thần linh uy mãnh song lại mỹ miều như những con người ngọc và đầy đam mê rất người. Và rồi dưới ảnh hưởng của Nietzsche, tôi biết ái mộ thêm tinh thần sáng lóa, tinh khôi của thiên tài Hy Lạp, biểu lộ một cách bi tráng, lẫm liệt qua những bi kịch gia vĩ đại, những triết gia độc đáo tiền Socrates, Plato. Cuối cùng, Henry Miller với cuốn du ký tuyệt vời “The Clossus of Maroussi” đã đưa tôi vào những vườn olive, vườn chanh thơm ngát bên bờ biển, gặp gỡ những người Hy Lạp đầy sức sống, nồng nàn tình người.
Với tình yêu Hy Lạp đó tôi đã dịch Alexis Zorba vào năm 1969.
Nguyễn Hữu Hiệu
Kỳ 79
Khi tôi bước qua ngưỡng cửa giáo đường trở lại thì mặt trời đang lặn. Tôi ngồi dưới gốc cây cam sung sướng. Mái nhà thờ đỏ hồng như thể bình minh đang lên. Các tu sĩ trở lại phòng riêng nghỉ ngơi.
Ban đêm họ không ngủ, họ phải lấy lại sức. Ðêm nay Chúa bắt đầu trèo lên Golgotha và họ phải trèo lên đó với Ngài. Hai con lợn nái vú hồng đang nằm thiu thiu ngủ dưới một cây minh-quyết. Những con bồ câu đang giao cấu và kêu gù gù trên mái. Tôi nghĩ thầm: “Ta có thể sống và tận thưởng sự dịu dàng này của trái đất, không khí, sự yên lặng và hương cam đang độ cho đến bao giờ?” Một thánh tượng của thánh Bacchus mà tôi chiêm bái trong một giáo đường đã khiến tâm hồn tôi dạt dào hạnh phúc. Tất cả những cái làm tôi xúc động sâu xa nhất: sự vững vàng trong nỗ lực, bền bỉ trong ước vọng một lần nữa lại phát lộ trước mắt tôi. Cảm tạ thánh tượng thanh niên Cơ Ðốc giáo nhỏ bé duyên dáng với những búp tóc xõa xuống trán như những chùm nho này. Dionysos, tửu thần và thần say sưa ngây ngất khôi vĩ và thánh Bacchus hợp nhất trong tôi, cùng mang một khuôn mặt. Dưới những phiến lá nho và dưới tấm áo chùng của tu sĩ, run lên nhịp đời của cùng một thân thể, thiêu đốt dưới ánh sáng mặt trời – Hy Lạp.
Zorba trở lại và hấp tấp nói với tôi:
– Tu viện trưởng đã đến. Chúng tôi đã nói chuyện một lát. Phải tán tỉnh nịnh hót lại lão mới chịu: lão nói lão không muốn nhượng cánh đồng vì một giá rẻ mạt; lão đòi hỏi nhiều hơn chúng ta định nhiều, thằng chó đểu, nhưng tôi sẽ thu xếp xong xuôi.
– Tại sao phải tán tỉnh nịnh hót? Mình với họ đã chẳng thỏa thuận với nhau rồi sao?
– Ông đừng xen vào, ông chủ, xin ông đó! Zorba khẩn khoản. Ông chuyên môn làm hư công việc không. Ông ở đó mà nói tới giao kèo cũ, cái đó đã hủy bỏ từ lâu rồi! Ông đừng cau mày, cái đó đã hủy bỏ rồi, thật đấy! Chúng ta sẽ có cánh rừng với giá nửa tiền.
– Nhưng bác còn đang âm mưu cái gì nữa đó, Zorba?
– Ông đừng quan tâm, đó là việc riêng của tôi. Tôi đang cho dầu mỡ vào công việc cho nó trơn tru, ông nghe thủng chưa?
– Nhưng tại sao mới được chứ? Tôi không hiểu.
– Bởi vì tôi đã tiêu quá lố ở Candia, đó! Bởi vì Lola đã nuốt của tôi, nghĩa là của ông, một số tiền không nhỏ. Ông tưởng tôi quên sao? Ai cũng có lòng tự ái chứ? Không thể có một vết nhơ nào trên danh thơm của tôi! Tôi tiêu, tôi trả. Tôi tính toán: Lola đã làm tôi tốn mất bẩy ngàn drachma, tôi sẽ xoay vào giá cánh rừng. Chính lão tu viện trưởng, tu viện, Ðức Mẹ Ðồng Trinh phải trả cho Lola. Ðó là kế hoạch của tôi. Ông đồng ý không?
– Không đồng ý chút nào hết. Ðức Mẹ phải chịu trách nhiệm về những sự hoang phí của bác ở cái khổ nào?
– Bà phải chịu trách nhiệm và trác nhiệm hơn hết. Này nhé: Bà đã tạo ra Chúa. Chúa đã tạo ra tôi, Zorba, và ngài cho tôi những đồ nghề – ông hiểu ý tôi muốn nói gì. Và những đồ nghề trời đánh đó khiến đầu óc tôi điên đảo và mở túi tiền ra bất cứ nơi nào tôi gặp cái giống cái. Ông nghe thủng chưa? Vì vậy, Ðức Thánh Mẫu phải chịu trách nhiệm và trách nhiệm hơn hết. Ðể bà trả là phải rồi!
– Tôi không thích vậy, Zorba.
– Ðó là chuyện khác, ông chủ. Trước hết hãy vớt vát lại bẩy ngàn đồng đi đã sau đó, chúng ta sẽ thảo luận! “Hôn cô trước đi, cưng, ta sẽ lại là cô cháu sau…” Ông biết bài hát đó?
Cha phụ trách tiếp đãi khách to béo hiện ra:
– Xin mời vào, ông ta nói bằng một giọng ngọt ngào của tăng lữ, bữa ăn đã dọn xong rồi.
Chúng tôi đi xuống phòng ăn, một gian phòng lớn có những ghế dài và những cái bàn dài hẹp. Mùi dầu chua và hôi hôi phảng phất trong không khí. Cuối phòng, có một bức bích họa cổ vẽ Bữa Tiệc Cuối Cùng. Mười một tông đồ quây quần xung quanh Chúa như một bầy chiên, và, phía bên kia, đứng một mình một góc, tóc hoe, trán dô, mũi quặm là Judas, con chiên ghẻ. Và Chúa chỉ để mắt nhìn gã.
Cha phụ trách tiếp đãi ngồi xuống, đặt tôi bên phải Zorba bên trái ông ta.
– Bây giờ đang là tuần Chay, mong các ông thứ lỗi cho: không có dầu cũng chẳng có rượu, dẫu là cho khách đi nữa. Nhưng các ông đến thực quí hóa quá!
Chúng tôi làm dấu; chúng tôi lặng lẽ tự lấy cho mình ô-liu, hành xanh, đậu tươi và halva. Cả ba người liếm láp chậm chạp như mèo.
Cha phụ trách tiếp đãi nói:
– Cuộc đời ở dưới này như vậy đó. Khổ hạnh và trai giới. Nhưng hãy kiên nhẫn, các huynh hãy kiên nhẫn, ngày Chúa Sống Lại và Cứu sắp tới, Nước Thiên Ðàng sắp tới.
Tôi ho. Zorba lấy châm giẫm lên chân tôi như muốn nói: “Ông im!”
– Tôi đã được gặp cha Zaharia… Zorba nói để thay đổi câu chuyện.
Cha tiếp đãi khách giật nẩy mình:
– Chết chửa, tên quỉ ám đó tình cờ có nói điều gì với ông không? Ông ta lo lắng hỏi. Hắn có bẩy con quỉ trong mình, đừng nghe một lời nào của hắn cả! Linh hồn hắn nhơ bẩn nên chỗ nào hắn cũng chỉ nhìn thấy nhơ bẩn.



























































































