“Khu Rừng Lau” là bộ trường thiên tiểu thuyết được Doãn Quốc Sỹ viết nhằm tái hiện giai đoạn bi thảm nhất của lịch sử cận đại Việt Nam. Nhưng lấp lánh đâu đó, giữa những trang văn của ông, vẫn là niềm tin nơi con người, nơi dân tộc. Nó chịu được sự đọc lại, không chỉ hôm nay mà còn với nhiều thế hệ mai sau.
Kỳ 04
II
Sau vụ mười ba liệt sĩ lên đoạn đầu đài (1930) “sinh hoạt văn nghệ” của làng nghèo nàn lắm, tiếng ngâm sa mạc những bài ca ái quốc không còn. Chỉ còn tiếng đàn bầu ngày một não nuột của chú Phan, tiếng nhị réo rắt của bá Phấn và đặc biệt tiếng sáo vô cùng thê lương của cậu Vinh cùng tiếng hồ chao ôi là âm thầm của anh Pháo, đến mỗi người làng đã phải nức nở khen bằng câu thành ngữ: “Hồ Pháo, sáo Vinh”. Về văn chương chỉ còn những câu đối vặt, những bài văn tế sáo, những bài vè chế riễu nông cạn. Cụ Tỉnh cùng xóm có tậu một khoảng vườn hoang. Cụ tậu khoảng vườn này để làm dành phần cho đứa con thứ hai. Ðối diện với nhà cụ chỉ cách có con đường xóm, sát với thửa vườn đó là nhà Hương Chỉ, một người trạc ngoài tứ tuần, ương gàn và tham lam. Mỗi lần rào lại nhà, Hương chỉ lại lấn sang vườn cụ Tỉnh một ít. Cụ Tỉnh bèn viết hai vế câu đối chữ nôm lên tường đối diện với cửa ngõ nhà Hương Chỉ để bày tỏ quan niệm triết lý nhân sinh của cụ đối với việc Hương Chỉ lấn đất.
Ðất hỡi trời ơi sống tham đất
Giời soi đất xét chết giả trời
Mỗi khi làng có ông già bà cả nằm xuống, người nhà thường đến xin bài văn tế tại nhà cụ huyện Từ- cụ đậu cử nhân rồi được bổ nhậm ngay tại huyện nhà- Từ Sơn. Tại chức chưa đầy một năm thì cụ cố mất, cụ treo ẩn từ quan về quê thọ tang và từ đấy thôi không ra làm quan nữa. Cụ có ba phòng: Cụ bà Cả hiền lành sinh được mấy cậu ấm cô chiêu cũng hiền lành. Cụ bà Hai đẹp đài các, biết làm thơ, cháu một vị Tam Nguyên, làng vẫn mệnh danh là “bà huyện Thanh Quan” sinh hạ được một trai một gái đều đẹp và thông minh. Bà Ba trẻ hơn cả, dáng cao lớn, không đẹp nhưng chắc chắn hồi trẻ phải gợi tình lắm; mồm mép bẻo lẻo người làng gọi đùa là “bà lắm chuyện”, bà nổi tiếng khéo chiều chồng, một điều bẩm quan lớn, hai điều bẩm quan lớn. Bác Tử cười ranh rách nói riễu: “Thấy quan lớn tiểu tiện chắc bà vội vã chạy lại xin nâng bàn thấm cho khỏi rớt!” Một hôm khác có đông đủ thầy và ba bác, nhân thoáng thấy bóng bà qua ngõ, bác Ký nói: “Kìa bà lắm chuyện vừa đi qua!” bác Tử ứng khẩu đọc bốn câu vè:
Chuyện ông huyện để g… ra,
Bà huyện tưởng quả cà vác bát lại xin.
Ông huyện vừa quát vừa rên:
Rằng đây cái g… của min đó mà.
Bác Thạc cười gập người lại, mặt đỏ như mào gà. Bác hiền lành ít nói nhưng khi thích chí thì cười thực tình.
Người làng vẫn đến xin bài văn quan huyện từ vì cụ là người trung hậu, bài văn chỉ cả ngợi công đức và bày tỏ lòng hiếu của con mong được đền ơn sinh thành (như chính cụ đã treo gương) chứ không hề dùng văn chương để móc máy gia chủ như mấy ông đồ bất đắc chỉ. Tân có ông cậu rất ham đi ả đào Khâm Thiên hay Ngã Tư Sở. Ông ngoại Tân mất đúng vào ngày ba mươi Tết, phải quàn quan ván đợi đến mồng sáu Tết mới phát tang mà làm ma linh đình. Ông cậu Tân có nhờ ông đồ Ba (gọi vậy vì ông đỗ tam trường) làm cho một đôi câu đối khóc cha. Vế đầu ông viết đại ý: Hơn một ngày không ở kém một ngày không đi nên cha mất vào ngày tất niên; vế thứ hai ông hạ rất thâm thúy, Tân còn nhớ nguyên vẹn vế đó:
Xót xa lòng hiếu tử, đêm Xuân trằn trọc trống năm canh.
Vừa có nghĩa tả lòng xót xa thương cha của người con hiếu, vừa có nghĩa là: “Người con hiếu” đó đã trằn trọc không ngủ được, sốt ruột vì tiếng trống (trống cô đầu) rộn rã suốt đêm Xuân.
Ðáo để nhất trong số các nhà nho bất đắt chí phải kể đến ông tú Mền (ông đỗ ba lần tú tài), không ai dám đến xin ông câu đối hay hoành phi. Ông hay chữ và nguy hiểm đến có thể xếp cùng hạng với các bậc bất hủ Trạng Quỳnh, Tú Xuất ngày xưa; tỷ như chỉ cần cho hai chữ hoành phi “Ðại Lại” là đủ đánh gia chủ một đòn chí tử về tinh thần; rõ ràng hai chữ hoành phi đó là ca ngợi họ Lại lớn nhưng lại ngầm móc ông tổ ba đời nhà họ Lại làm nghề lái lợn (Ðại Lại = Lớn Lại = Lái Lợn), người hiền nhất trong số các nhà nho làng Lại Vũ là ông Ðồ Thinh, ông chỉ thích kim Dịch và xem tử vi, ông hiếm hoi có một cậu con trai tên là Chủy mà số tử vi lại không được tốt lắm cho nên ông hơi buồn. Chúng ta sẽ có dịp gặp lại ông đồ Thinh và Chủy sau này.
Ấy đại loại không khí văn nghệ làng Lại Vũ từ sau vụ mười ba liệt sĩ lên máy chém ở Yên Bái để nợ nước là như vậy: “Tiếng sáo véo von, tiếng nhị réo rắt, tiếng hò tiếng đàn bầu buồn thảm, câu đối, thơ, vè nói móc nhau…”



























































































