Khu Rừng Lau (Kỳ 33)


“Khu Rừng Lau” là bộ trường thiên tiểu thuyết được Doãn Quốc Sỹ viết nhằm tái hiện giai đoạn bi thảm nhất của lịch sử cận đại Việt Nam. Nhưng lấp lánh đâu đó, giữa những trang văn của ông, vẫn là niềm tin nơi con người, nơi dân tộc. Nó chịu được sự đọc lại, không chỉ hôm nay mà còn với nhiều thế hệ mai sau.


 


Kỳ 33


 


Kể ra ở hoàn cảnh như vậy mà ba anh em nàng cũng ăn học khả dĩ tạm gọi là đến nơi đến chốn cũng là điều hiếm có trên đời. Nguyên do sau ngày mẹ nàng chết trong rừng, cha nàng vừa phiền muộn lo âu vừa cố công gắng sức trong nhiều công việc nên phát bệnh tê thấp.


 Căn bệnh hành hạ ông một năm giời liền. Thoạt những buổi sớm Mùa Ðông rét cắt ruột ông vẫn đi rừng làm củi. “Không đi để con chết đói sao?” – Ông tự nhủ thầm vậy. Và theo tiếng gọi của linh tính ông ra công làm gấp, dành dụm được một số tiền nhỏ. Rồi căn bệnh hành ông liệt giường trong một tháng, số tiền để dành đủ nuôi ba con bằng cơm độn ngô rưới nước tương. Rồi ông hấp hối… Ai cũng tưởng chỉ qua đêm là ông tắt nghỉ nhưng ông đã hấp hối năm ngày liền. Hình như ông chờ… Và ông tắt thở vào đúng khoảng nửa đêm về sáng cùng với ngày mà hai năm trước đây vợ ông sinh thằng út rồi chết ngay trong rừng làm củi. Khi đó Hiển, người anh đầu lòng vừa lên chín, Miên lên năm và Mẫn lên ba. Ba anh em mồ côi được bà hàng xóm góa chồng giàu và nhân đức – bà quản Mão – nhận nuôi.


Ông quản Mão đi lính khố đỏ tự bao giờ không ai rõ chỉ biết ông có sang Tây đánh trận 1914-1918. Khi vừa vào lính ông tuyên bố với các bạn đồng đội: “Tôi chỉ học ba tháng là khối chữ!” Không ai hiểu phương pháp ông học ra sao nhưng quả ba tháng sau ông đã cãi nhau văng mạng với lính Tây bằng tiếng Tây, tiếng Tây bồi lẽ cố nhiên, nhưng với tất cả sự phản ứng mau lẹ, sự am hiểu đối tượng câu chuyện cùng tinh thần ngoại ngữ đó. Năm 1917 ông bị bắt làm tù binh, ông hón miệng huýt một tiếng sáo rồi nói với các bạn đồng hội đồng thuyền: “Khó đếch gì tiếng Ðức, tôi chỉ học ba tháng là khối chữ!” Rồi người ta thấy mỗi khi giao thiệp với tên cái tù Ðức – tên này khi nói tiếng Ðức khi nói tiếng Pháp – ông giở sổ ghi ghi chép chép. Cũng chỉ trong vòng ba tháng ông đối đáp tiếng Ðức với tên cai tù Ðức, chiếm cảm tình tên này, và được y cất nhắc lên chức phụ tá, giúp y trong việc phân phát thực phẩm, phân phát dụng cụ làm việc hàng ngày và phân phát cả thư từ nữa. Năm 1918, Ðức thua trận thành ra đương ở cương vị “thằng tù” ông lên địa vị “ông tù” để quân Ðức phải thù phụng. Ông lại được thăng lon tù đội lên phó quản. Ông và mấy trăm bạn đồng ngũ còn ở lại ăn hại nước Ðức ngót hai năm sau nữa. Trong thời gian đó ông lấy một người vợ Ðức. Nhưng khi được gọi về Pháp để xuống tàu về nước ông không một chút bịn rịn với người đàn bà tóc vàng mắt xanh, cũng hiền hậu, cũng chịu khó, không khác gì bà Quản ở quê nhà. Ông nhớ quê nhà lắm! Ông quý quê nhà lắm! Tuy là đi lính cho Tây, đánh Ðức cho Tây, lĩnh lương của Tây mà ông vẫn một điều gọi chúng là “thằng Tây”, hai điều gọi chúng là “thằng lõ”, ông yêu quý quê nhà hồn nhiên như thế nào, đi lính hồn nhiên như thế nào thì ông cũng ghét Tây hồn nhiên như thế ấy. Bà Quản đã xin được thẻ căn cước để vào tận Sài Gòn đón ông lại bến tàu. Ông Quản được đóng ngay ở Sài Gòn! Gặp lại bà Quản, ông không hối hận về việc mình đã lấy vợ Ðức vì ông nghĩ rằng: “Cũng may chưa có giây có rễ gì với nó” – (chưa có con)! Chuyến đi đón chồng của bà Quản vô tình lại hóa hay; bà gặp một người chị em bạn đương buôn bán ở Sài Gòn, người đó rủ bà buôn chung, bà bèn cho đón hai cô con gái còn ở ngoài Bắc vào Nam để bà yên chí sinh cơ lập nghiệp tại đây. Thời ấy ở Sài Gòn buôn bán dễ lắm, chỉ cần chịu khó chút xíu là được, mà bà Quản lại là con gái huyện Lập Thạch, quê của những người đàn bà Bắc đảm có tiếng, đảm đến nỗi dư luận đã thốt thành ca dao:


Nửa đêm ân ái cùng chồng,


Nửa đêm về sáng gánh gồng ra đi.


Bà Quản buôn bán thịnh vượng, ba năm sau, ông Quản tự ý xin giải ngũ để về giúp việc bà! Ông giúp việc bà được hơn bốn năm thì một buổi chiều kia ông kêu rức đầu, rồi ông ho mấy tiếng, mười giờ tối tiếng ông nói hơi khàn khàn và mười giờ sáng hôm sau ông ra đi vĩnh viễn, người vẫn béo tốt. Người ta bảo ông đứt mạch máu. Cả cuộc đời của ông thực hồn nhiên cho đến lúc chết!


Ông Quản mất đi, bà Quản còn nán lại Sài Gòn hơn một năm nữa nhưng thấy chán buôn chán bán, bà thu xếp mang ba con về Bắc (một con bà sinh ở Sài Gòn). Về tới quê, làng Hạc Thủy, bà tậu ruộng và xoay sang nghề nông. Bà trông nom cầy cấy cũng đảm như bà buôn bán vậy. Ngoài căn nhà cũ ở giữa làng mà bà sửa sang làm nhà ở và cũng đồng thời là nơi thiết lập bàn thờ ông Quảng, bà còn lập một cái trại chăn nuôi gà, lợn, trâu, bò ở trên đỉnh một ngọn đồi nhỏ giữa đồng làng.

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT