LTS – Tiến Sĩ Uwe Siemon-Netto sinh năm 1936 và có 57 năm trong vai trò phóng viên quốc tế. Sinh trưởng tại miền Ðông nước Ðức, ông trốn khỏi chế độ cộng sản, và là một trong những phóng viên tường thuật việc xây dựng bức tường Bá Linh chia đôi nước Ðức năm 1961, trong vai trò phóng viên của hãng AP. Các đề tài lớn trong cuộc đời làm báo của Uwe Siemon-Netto có thể kể đến cuộc khủng hoảng hỏa tiễn Cuba (1962), vụ ám sát Tổng Thống Kennedy (1963), các phong trào dân quyền tại Mỹ, khủng hoảng Trung Ðông, và chiến tranh Việt Nam từ 1965 đến 1969, rồi 1972. Ông có mặt, và tận mắt chứng kiến chiến sự, tại cả Sài Gòn và Huế trong biến cố Mậu Thân 1968. Hiện ông đang viết hồi ký, và dành hẳn ba chương (13, 14, 15) kể lại những gì đã chứng kiến trong biến cố Mậu Thân. Hồi ký có tựa đề “Ðức: A Reporter’s Love for a Wounded People.” Ông có bằng Cao Học về Thần Học tại Chicago và bằng tiến sĩ Thần Học, Xã Hội Học về Tôn Giáo từ Boston University. Ông hiện sinh sống tại Nam California. Người Việt đăng tải nhiều kỳ nội dung các chương 14 và 15, với sự đồng ý của tác giả và dịch giả, Lý Văn Quý và Nguyễn Hiền.
Tác giả: Uwe Siemon-Netto
Dịch giả: Lý Văn Quý & Nguyễn Hiền
Anh ta dẫn tôi vào sân trong, lấy chiếc Honda ra, nổ máy xe, chỉ tôi cách sang số và sau đó nhìn tôi lái đi chập chờn về phía trước như một con cào cào mỗi lần tôi nhả dây số ra.
Hình bìa tác phẩm “Ðức: A Reporter’s Love for a Wounded People” của Giáo Sư Uwe Siemon-Netto. (Hình: Tác giả cung cấp)
Anh không bao giờ hỏi tôi tiền thuê hay đòi tôi phải đặt cọc cho chiếc xe quý giá của anh. Vài tháng sau, tôi hỏi anh, “Bộ anh không sợ là tôi không mang về lại chiếc Honda nguyên vẹn cho anh hay sao?”
“Tôi nghĩ là có 50-50 phần trăm xác suất,” anh trả lời, “Nhưng lúc đó anh cần phương tiện di chuyển và tôi không biết có cần cái xe gắn máy đó nữa hay không trong hoàn cảnh những chuyện đang xảy ra ngày Tết. Vì vậy tôi cho là vụ để anh mượn cái xe Honda là chuyện đáng làm.”
Thật là điều lạ lùng các nhân chứng thường nhớ lại những biến cố lớn của thế giới một cách khác nhau, hay nói đúng hơn, những mặt nào của các biến cố đó đã lưu lại trong tâm trí họ một cách mạnh mẽ nhất. Về phần tôi, tôi bị xúc động sâu xa đối với những hành động nhân ái căn bản nhất, lòng độ lượng và sự dũng cảm tôi đã chứng kiến được trong cái ngày đầu đó của Tết Mậu Thân 1968. Hasso Ruedt von Collenberg và anh quản gia là hai ví dụ đầu tiên đáng ghi nhớ nhưng còn nhiều hơn nữa. Ngày hôm nay tôi tin tưởng là tôi đã mang ơn cứu mạng từ những người dân thường Việt Nam đã không quản gian nguy để bảo vệ tôi.
Con đường đến nhà Josephine rất quen thuộc nhưng lần này nó trở thành một đoạn đường ngoằn ngoèo vô định chung quanh những thây ma Việt Cộng và các khoảng giao tranh trong từng căn nhà một. Trong lúc tôi đang lái chậm chạp, núp theo vách tường qua một con đường im vắng một cách rùng rợn thì một người đàn ông đứng tuổi nhảy chồm ra từ một cánh cửa nhà, đẩy tôi bật ra khỏi chiếc Honda và giữ tôi nằm im dưới đất. Ông ra lệnh một cách nhẹ nhàng nhưng cương quyết bằng tiếng Pháp, “Nằm im đừng nhúc nhích!”
Ông ta bò tới chiếc xe gắn máy mà bánh xe còn đang quay tít trên không, tắt máy xe, bò lại phía tôi thì thầm, “Việt Cộng,” tay chỉ về các cánh cửa sổ của các căn nhà nằm sâu hơn trong xóm. Sau đó ông kéo tôi vào trong nhà, bỏ mặc cái Honda ngoài đó. 20 phút sau, ông ta ra ngoài lần nữa, trở lại báo, “Việt Cộng đi rồi. Ông đi được rồi. Nhưng tìm đường khác mà đi. Con đường này nguy hiểm lắm.”
Lạ lùng thay là chiếc Honda gần như không hề hấn gì. Trong lúc lái lòng vòng, tôi được báo động ba lần nữa, hai lần bởi những người phụ nữ Việt Nam và một lần bởi con nít hét lên, “Việt Cộng, Việt Cộng,” rõ ràng là thách thức mục tiêu Việt Cộng xác nhận Tổng công kích Tết Mậu Thân là phát động một cuộc nổi dậy quần chúng chống lại “Mỹ Ngụy,” từ mà bọn Cộng sản đã sử dụng. Qua những gì mà tôi đã chứng kiến, cuộc tấn công đã mang lại kết quả ngược lại. Như sau đó cả thế giới đều biết không một ai trên toàn cõi miền Nam Việt Nam đã nghe theo lệnh của Cộng sản.
Josephine đứng ngoài cổng căn nhà nhỏ của mẹ nàng, bồng một đứa bé trên tay, còn hai đứa con trai từ người chồng trước thì bám vào quần ngủ.
“Em biết là anh sẽ đến,” nàng nói.
“Sao em biết?”
“Em tự nhiên biết, không giải thích được.”
“Em có sao không?”
“Vâng, bây giờ thì em yên tâm rồi. Em thấy bọn Việt Cộng ngoài cửa nhưng họ không vào nhà. Cảm ơn Chúa điện thoại vẫn xài được. Chồng em đã gọi báo sáng sớm nay. Anh ấy sẽ đến ngay để đón mẹ con em di tản đến chỗ an toàn.”
“Chồng em sẽ mang em ra ngoại quốc phải không Josephine?”
“Vâng em nghĩ vậy, có lẽ đi Singapore. Chồng em người Hoa và quen biết nhiều ở Singapore.”
Nàng quay vào nhà một lát trao đứa bé cho mẹ trông và trở ra để chào tạm biệt tôi.
“Như biển cả, như bầu trời… (Comme la mer, comme le ciel…) nàng nói bằng tiếng Pháp một cách nhẹ nhàng, giống như nàng đã nói ba năm trước đây khi chúng tôi tắm biển chung tại Bãi Trước Vũng Tàu.
Sau đó thì nàng trở vào nhà. Từ đó tôi không bao giờ gặp lại nàng nữa.
Lái lòng vòng về lại Continental, tôi ghé qua Trung Tâm Báo Chí để ghi tên vào danh sách hành khách cho một chuyến bay Không Lực Hoa Kỳ vào sáng hôm sau.
“Làm sao tôi đến phi trường Tân Sơn Nhất được?” Tôi hỏi viên trung sĩ tiếp vận.
“Chúng tôi sẽ đón ông tại khách sạn vào lúc 3 giờ sáng mai,” anh ta trả lời.
Trong phòng khách sạn Continental tôi viết vội một câu chuyện ngắn trước khi đi ra ngoài ăn tối với Freddy. Chúng tôi lang thang qua những con đường vắng lặng đến tiệm Royal và không ngạc nhiên chút nào khi thấy nó vẫn còn mở cửa; không có điều gì có thể ngăn ông già Ottavi dọn một bữa ăn ra bàn được.
“Tất cả những gì tôi có thể cung cấp cho quý vị là a-ti-sô tươi từ Ðà Lạt, bánh mì cũ và món bánh Soufflé au Grand Marnier đặc biệt của tôi,” ông ta tuyên bố.
“A-ti-sô tươi từ Ðà Lạt! Ông kiếm a-ti-sô ở đâu ra vậy?” Freddy hỏi, “Ðà Lạt rơi vào tay Việt Cộng rồi phải không?”
Ottavi mỉm cười một cách bí hiểm và nói, “Vâng, chúng tôi có cách của chúng tôi.”
A-ti-sô là món rau ưa thích của tôi trong những ngày ở Việt Nam, thích nhiều đến nỗi bạn bè người Anh gọi tôi là “A-ti-sô Charlie từ Hamburg.”
Ngấu nghiến mỗi đứa sáu cái a-ti-sô, Freddy và tôi thỏa thuận là hắn sẽ thủ trại tại Sài Gòn trong khi tôi sẽ bay lên mạn trên tới Ðà Nẵng và Huế. Sau này chúng tôi sẽ đổi ngược lại vai trò để cho hắn đi xuống đồng bằng sông Cửu Long.
Trên thực tế thì tôi phải chờ đợi mấy ngày trời trước khi bắt đầu một cuộc phiêu du mà sau này đã trở thành cuộc hành trình đau thương nhất trong cuộc đời nghề nghiệp của tôi.
(Còn tiếp)





















































































































































