“Khu Rừng Lau” là bộ trường thiên tiểu thuyết được Doãn Quốc Sỹ viết nhằm tái hiện giai đoạn bi thảm nhất của lịch sử cận đại Việt Nam. Nhưng lấp lánh đâu đó, giữa những trang văn của ông, vẫn là niềm tin nơi con người, nơi dân tộc. Nó chịu được sự đọc lại, không chỉ hôm nay mà còn với nhiều thế hệ mai sau.
Kỳ 104
III
Quán tranh thấp nhưng có vẻ ấm cúng. Trong cùng kê hai giường tre cho khách trọ ngả lưng, giữa nhà kê bốn bàn gỗ, mỗi bàn gỗ có bốn ghế đầu gợi hình ảnh một mẹ bốn con, ngoài cùng là quầy hàng có bày các thức ăn. Ðậu, thịt kho bày trên đĩa; su hào hành, tỏi, giò heo, thịt bò… treo lủng lẳng trên móc. Trong quán, ngồi bên chiếc bàn gỗ mộc ở bên phải phía ngoài là một thanh niên dáng người quắc thước, trán rộng, mắt sáng, nước da trắng hồng. Căn cứ vào cách ăn mặc – quần si-mi-li xám, áo lót mình kẻ vuông – người đó muốn chừng mới ở “bên kia” sang thì phải.
Hiển đương định tìm cách làm quen thì chàng thanh niên đã tiến tới hỏi ba người:
-Tôi xin lỗi hỏi thì không phải, các đồng chí là bộ đội cả thì phải?
Hiển đáp:
-Vâng, chúng tôi cùng trong bộ đội cả. Còn đồng chí mới tự trong Thành ra?
Chàng thanh niên nhìn Hiển Kha bằng con mắt thán phục và thèm muốn rồi mới đáp:
-Ðúng ạ. Kể ra thì tôi bắt được liên lạc ngoài này đã từ ba tháng rồi, nay mới thoát được. Ðồng chí dẫn tôi còn đi lấy giấy tờ, chắc chỉ sớm mai lại trở lại đây.
Kha hỏi:
-Tình hình bên đó ra sao?
-Bỉ ổi! – Chàng thanh niên đáp gọn như một tiếng nổ công phẫn, tựa hồ đã từ lâu chàng chỉ đợi hỏi thế để đáp thế.
-Tinh thần dân ta ra sao? – Kha hỏi tiếp.
-Tinh thần dân ta thì ở đâu cũng một lòng lo lắng đến tương lai tổ quốc, nhưng thối nát ở tụi cầm quyền. Biết rằng có thể gọi chúng là “tụi cầm quyền” được không, vì sự thực chúng làm gì có quyền! Chúng tuyên bố ầm ĩ là Pháp đã trả độc lập cho Việt Nam, kỳ thực bao quyền hành chính vẫn gọn thon lỏn trong thực dân. Nhất là về kinh tế lại càng bi thảm. Các đồng chí hãy tưởng tượng vào thành phố Hà Nội, chao ôi, lớn từ chiếc xe ô to, nhỏ đến chiếc đinh đóng guốc đều là hàng ngoại hóa. Các đồng chí hãy tưởng tượng vào một công sở, thôi thì bóng đèn nê-ông sáng xanh, máy chữ, cặp giấy, cặp sách, bút mực, bút chì… thầy đều nhập cảng tự ngoại quốc. Mình nhìn thấy thì đau lòng, trong khi lũ cao cấp, chúng đua nhau nịnh hót quan thầy, chúng biết chỉ là nhục, chúng, lũ không óc!
Miên rụt rè hỏi:
-Nghe nói phụ nữ Hà Nội tiến lắm phải không ạ?
-Chà như đầm! – Chàng thanh niên vừa thở phào, vừa mỉm cười đáp – Tôi không phản đối việc Âu hóa của họ, điều đáng buồn là họ chỉ Âu hóa được cái hình thức. Chẳng riêng gì phụ nữ, các giới khác cũng vậy, họ như những chai dò đáy, bên ngoài dán nhãn hiệu Tây phương bên trong rượu nồng của ông cha đã chảy hết, chỉ còn chai rỗng.
Kha chợt hỏi:
-Thế còn văn chương nghệ thuật?
Người thanh niên cười rũ:
-Cơ quan liên lạc đưa những người tự thành vào hậu phương thiết lập ngay dưới mũi địch là một làng tại Gia Lâm. Trước khi từ giã Hà Nội, tôi ra ngắm hồ Gươm một lần nữa. Máy phóng thanh khoảng gần nhà Khai Trí Tiến Ðức ông ổng một bài nhịp slow ảo não nhưng lời ca toàn những: “Ra đi, chiến đấu, quyết diệt thù…” Quân thù nào? Quân thù là lũ thực dân ở ngay trước mắt chứ còn ai nữa.
Người thanh niên cúi đầu, ngón tay trỏ gãi trán, dáng điệu càng khôi hài, tiếp:
-Cùng lúc với bài slow “Quyết diệt quân thù” hòa điệu với hình ảnh bác xích lô ghếch xe ven đường rồi tiến tới một gốc cây lớn, vén quần, hơi khuỵu hai đầu gối tè!
Chàng thanh niên lại cười rũ một hồi, rồi mới tiếp:
-Tôi phải xin lỗi nữ đồng chí đây vì tôi không thể thuật lại sự thực đó một cách thanh nhã hơn, nhưng âm thanh slow với lời ca “quyết diệt quân thù” hòa điệu với hình ảnh bác xích lô khuỵu hai đầu gối tiểu tiện dưới gốc cây, quả thực đã tượng trưng trọn vẹn cho hiện tình văn nghệ Hà Nội dưới danh nghĩa một nền độc lập giả hiệu.



























































































