Tài liệu văn học quí hiếm


Viên Linh


Tài liệu văn học quí hiếm đối với một người sưu tập, trong trường hợp riêng của tôi, một là sách vở hình ảnh vừa thoát khỏi bàn tay lục soát của mấy tên cán ngố, hai là vừa kịp thời tìm thấy dưới đáy tủ ẩm thấp, khi mấy chú mối mọt chưa kịp gặm vào. Hôm nay trong đầu không le lói một chút lửa sáng tạo nào, tôi ngồi lục lại ngăn dưới cùng của một tủ sách mà phía trên có một chậu hoa tươi, nhiều khi tưới vội vàng một chén nước, nào ngờ đã làm hư hại mấy tập bản thảo phía dưới.








Thi hào Vũ Hoàng Chương (1915-1976), hình chụp khoảng 1940, nay đã bị mối mọt, như bạn đọc thấy. Quí bạn nào phục chế được, vui lòng cho tác giả một bản, xin cảm ơn. Viên Linh: [email protected]. (Hình: Vũ Hoàng Ðịch, Hà Nội)


Tiếc thay, có một tấm hình đẹp trai chưa từng thấy của Vũ Hoàng Chương, (nay không còn nhớ ai gửi cho, chỉ biết tấm hình ấy do ông Vũ Hoàng Ðịch, em trai nhà thơ từ Hà Nội tặng bạn ở hải ngoại), và mừng thay, thấy lại vài bài thơ hiếm của ông, có người chép cho từ khoảng chục năm trước. Bài này nói về các tài liệu đã bị bỏ quên ấy, vì nếu không bí đề tài, không lục lọi, chỉ vài tháng nữa, mối mọt sẽ gặm nhấm tất cả; hay những giọt nước ẩm “lên men”, sẽ trở thành bụi đen như than, tất cả.


Lời nguyện chiều thu


Nước non vô tội bỗng lăng trì
Xương máu càng đau hận biệt ly
Nước bặt tăm rồi non chết ngất
Xương nằm trơ lại máu ra đi…
(Vũ Hoàng Chương)


Thơ Ðường luật, mỗi câu bảy chữ, là sở trường của tác giả Thơ Say, khi dùng chữ bác học, thì thật bác học, khi dùng tiếng nôm na hàng ngày, thì thật chọn lọc, tinh tế. Ngay câu đầu, chỉ có bảy chữ, mà thấy ngay một sự việc nếu diễn ra nghĩa cho đầy đủ, sẽ mất vài dòng, nếu không là cả chục dòng. Chữ “lăng trì” vốn xưa nay người viết bài này chưa thấy ở đâu dùng để chỉ một quốc gia, một nước. Lăng là xâm phạm, là lấn lướt, bức hiếp, trì là nắm giữ, lăng-trì, trong pháp luật, là “thứ hình phạt ngày xưa rất tàn khốc, đem người phạm ra, trước cắt tay chân, rồi xẻo thịt dần đần, làm cho chết” (Hán Việt Từ Ðiển Ðào Duy Anh). Hai tiếng này dùng trong câu thơ “Nước non vô tội bỗng lăng trì” thì chỉ có người Việt Nam hiểu được, và chỉ có thi hào Việt Nam biết mà dùng được. Có một đất nước nào bị coi là phạm pháp phải lấy mã tấu lưỡi lê dao kéo và nhất là búa liềm ra cắt xẻo cưa xén cho đến khi nước đó chết, chỉ có nước Việt Nam.

Nhìn ngược đường lịch sử, nước ta là như thế: Triều đại này lên giết chóc nhân vật chế độ cũ đã đành, thậm chí chặt đầu, cưa ngang lưng, đào mả lấy cái xương sọ làm bô đái, nghiền xương bỏ vào nòng súng bắn cho tan… xương; còn tàn phá các vật thể vô tri ngày trước cho mất tăm mất tích, – hành động như căm thù đến ba đời, tru di như huyết hận cả hai kiếp – thành ra một nước con cháu cứ xưng tụng là có hơn bốn ngàn năm văn hiến, hỏi đâu, văn hiến đó đâu, nhìn quanh thì chẳng thấy dăm ba chứng tích. Thơ văn hiếm hoi, mấy ngàn năm nay chỉ tìm ra in được một hai ngàn trang, lẫn lộn cả “câu thơ thi xã = con thuyền Nghệ An”.

Bài trên có tám câu, song ta qua bài khác:


Ðã bao giờ


Ðã bao giờ có hạc vàng đâu?
Ðể có người tiên, để có lầu?
Ðã tưởng hạc bay mây trắng ở
Lầm Thôi Hiệu trước, Nguyễn Du sau…


Năm tháng hão huyền như khói sóng
Nồi kê chưa chín nghĩ mà đau.
Vũ Hoàng Chương


Ðúng thế, năm tháng văn hiến hão huyền như khói sóng.

Trên đây cũng lại là một bài Ðường luật, thể thơ phú sở trường của thi hào. Xấp giấy bị thấm nước tưới cây, tờ trên dính vào tờ dưới, “lên men” đen như bụi than – (chợt nhớ trong bảng màu sắc các vật thể, nước được ghi là có màu đen ố biển mới được ghi là có màu xanh) – bóc ra thì không còn đọc được mấy câu giữa. Hồ sơ thấm nước gồm tài liệu của các tác giả có tên vần C, ngoài Vũ Hoàng Chương, còn có Văn Cao, Hiếu Chân, Phạm Trọng Cầu, Hà Huyền Chi, Nguyễn Hùng Cường (chuyên gia thư tịch), Dương Hùng Cường, nhà viết văn ố phiếm, v.v… Tuyệt vời thay, còn thấy một bài thơ do Vũ Hoàng Chương dịch, chữ viết lại là chữ của người viết bài này. Bèn nhớ ra, đây là bài dịch nhà văn Mặc Thu (đã quá cố) đọc qua điện thoại cho tôi chép lại thời gian Mặc Thu từ Việt Nam qua quận Cam thăm con gái, con rể Mặc Lan và Chử Vương Anh. Khi gặp thì Mặc Thu thế nào cũng khui Martell (cảm ơn ông con rể, nay đã quá cố). Một hôm không đến được, anh đọc và bình mấy bài thơ qua điện thoại.

Tôi chép mà sơ ý không thấy nhan đề, có khi là vì người đọc không nhớ, nên không có mà ghi, nên nhìn bài thơ phiên âm không đầu không cuối, giống như một người mặc quần áo nghiêm chỉnh, mà không mũ không giầy:


Lạc phách giang hồ tải tửu hành
Sở yêu tiêm tế chưởng trung khinh
Thập niên nhất giám Dương Châu mộng
Thụ đắc thanh lâu bạc hạnh danh.


Vũ Hoàng Chương dịch như sau:


Rượu Hồ quảy gánh Giang Nam
Lưng ong gái Sở đã nhàm vòng tay
Mười năm chợt tỉnh cơn cười
Lầu xanh được tiếng con người Sở Khanh.


Còn nhớ sau đó gặp nhau, anh Mặc Thu xuýt xoa mãi về tài dịch của Vũ thi hào. Ông cựu chủ nhân trà thất Anh Vũ Quán trên đường Bùi Viện, Sài Gòn những năm cuối thập niên ’50, một hai năm đầu thập niên ’60, nơi có hát cô đầu, rất tâm đắc mấy chữ “lưng ong gái Sở”. Gái Sở là gái Việt, Bách Việt, các nước ở phía Nam sông Dương Tử, trong có Lĩnh Nam. Hai tiếng “rượu Hồ” theo Mặc Thu, là chỉ anh chàng Bắc phương, Sở Khanh, gã ở phía Bắc sông Dương Tử, tức là Trung Hoa. Vũ Hoàng Chương dịch tuyệt hay vì không những tiếng Việt tuyệt luân, mà vì chữ Hán cũng thâm hậu.

Năm tháng hão huyền như khói sóng
“Âm công cán mối” nghĩ mà đau.

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT