Kỳ 267
Hải Phòng ngày…
Khi vĩnh biệt anh, em còn giữ được một tờ bản thảo, em muốn giữ bút tích anh, hôm nay mới giở ra, qua những dòng rập rập xóa xóa em đọc:
“Tôi cất tiếng cười cùng với chuông nhà thờ rền rĩ; tôi nghĩ đến những người mất tự do vì muốn độc quyền Thượng Ðế.
Nàng ca sĩ trẻ tuổi, buổi đầu thất bại. Nàng ngã vào tay người yêu tìm an ủi. Tôi yêu người con gái mảnh khảnh đó, đôi mắt đen bỡ ngỡ làm ngỡ ngàng cả bóng chiều, nàng mặc áo sọc xanh nhạt, ngồi nép mình trên phản nghèo. Tình yêu nuôi tự do!”
Nàng ca sĩ nào đó, anh? Em ghen! Em ghi thêm tư tưởng của em:
“Trong chín mươi chín lần khổ tất nhiên cũng có lần sung sướng, lần sung sướng đó thường làm quên hết chín mươi chín lần lận đận kia. Chân hạnh phúc dưới bất cứ hình thức nào đều cho ta cảm giác vượt khỏi cái sống chết.”
Hôn anh
Em.
Hải Phòng ngày…
Anh yêu dấu,
Anh còn nhớ đêm nào anh và em cùng sực dậy lắng nghe tiếng muỗi và anh nói: “Tiếng muỗi trong đêm khuya nghe xa vắng lạ, như tiếng than van của tạo vật thuở còn cô độc chưa có bóng người, chưa có nghệ thuật.”
Ðêm nay em cũng thức giấc như vậy, một mình lắng nghe rất lâu tiếng muỗi, bụng em thót lại… em rùng mình ớn lạnh. Ðúng thế anh ạ, tiếng muỗi trong đêm khuya nghe xa vắng lạ, như tiếng kêu chới với từ một tiền kiếp nào vẳng lại. Ðã có một đêm anh nói với em giữa hai cái hôn dài: “Tình chúng ta chỉ có im lặng mới nói hết được.” Chao ôi, nhưng nếu giữa cái im lặng phì nhiêu đó của đêm khuya lại có tiếng muỗi? Trong khi mắt em mở trân trân trong bóng tối, tiếng muỗi – tiếng tiền kiếp – du em vào miền hư không, tim em đập trong hư không, đôi tay em nắm vào hư không, sự vỡ lở của hạnh phúc thế nhân tan rời êm lặng trong hư không. Em nhớ lại những đêm Hè Tháng Năm Tháng Sáu thuở còn con gái, về quê không ngủ được: không một sợi gió, thấp thoáng ánh trăng qua khe cửa và trong màn em cũng lắng nghe tiếng muỗi cô độc não nùng chập chờn bên ngoài…
Em đã vùng dậy bật đèn ngồi vào bàn viết những dòng chữ của bức thư cuối cùng này, vâng bức thư cuối cùng anh ạ, bức thư thứ tư thì phải, mai em về Hà Nội sớm, em không thể ở lại đây lâu hơn được nữa. Bây giờ thì em có thể kể thẳng vì sao em đã vội vã xuống đất Cảng tìm anh.
Hiệp định Genève ký, đoàn thể giữ khéo con em lại và cử em về Hà Nội để thuyết phục những người thân. Em đến tòa báo Văn Hóa hỏi thăm tin tức về anh, đúng lúc anh Khiết vừa tiễn một người bạn tới cửa, câu cuối cùng người bạn đó nói với anh Khiết:
“…Tớ ở lại chúng nó không giết tớ đâu, các cậu cứ vào Nam, ai làm được cái gì thì làm, nhưng tớ ở lại, giờ phút này mới là bắt đầu kháng chiến!”
Trở vào tòa báo anh Khiết cho em hay anh đã xuống Hải Phòng để chờ ngày cùng người bạn gái làm ở nhà thương cùng vào Nam bằng đường thủy. Có lẽ anh Khiết cho rằng dĩ nhiên em cũng sẽ đưa me em di cư vào Nam nên ghi cho em địa chỉ của anh, của cô Miên ở Hải Phòng và cả địa chỉ tòa báo Văn Hóa tại Sài Gòn mà anh Khóa vào trước đã thu xếp cho.
Cả ngày hôm đó me em kêu nhức đầu, buổi chiều người xây xẩm mặt mũi ngã ngất. Em về đúng lúc để săn sóc người, hình như người đã cố gắng gượng chỉ để đợi em về. Anh Khiết lại thăm, em thú thực với anh là hoàn cảnh buộc em ở lại, me em cũng không vào Nam mặc dầu thư gởi sang Pháp em phải nói ngược lại cho anh Hãng yên lòng. Lần đó anh Khiết nói chuyện với em lâu bằng một giọng tâm sự. Ðể em thuật lại gần đúng như lời anh Khiết đã nói với em hôm đó.
“Theo ý tôi – lời anh Khiết – ngoài những trường hợp đặc biệt hoặc bất khả kháng như trường hợp của bác và của cô đây, ở lại còn bốn hạng người chính. Thoạt phải kể đám đa số quần chúng chưa biết gì về Cộng sản, họ mừng nhất. Tội nghiệp!
Ba hạng sau này, có ý thức mà ở lại, tôi đều có bạn điển hình:
Người bạn thứ nhất, anh Lâm theo Ðảng, tin Ðảng thuần bằng tình cảm, có công cướp chính quyền ở Hải Phòng năm 1945, được Ðảng đặt vào làm nhân trong Dân Chủ Ðảng, từng là ủy viên trong Ủy Ban Hành Chính Hải Phòng. Kháng chiến, được ủy vào làm trong cơ quan văn hóa của công an Liên Khu III. Chứng kiến một người bạn thân trong Dân Chủ Ðảng bị thủ tiêu giữa sông, kế tiếp đó còn được chứng kiến bao hành vi bạo tàn khác, vỡ mộng, chán chường, vì quá tin tưởng mà thành chán chường, cái chỗ mình tin là xán lạn nhất lại hóa ra tăm tối nhất. Con người tình cảm đó đã trót cho hết, cho hết tuổi hoa niên đẹp nhất, cho hết niềm tin tưởng nồng nhiệt nhất, cho đến khi nào thành chỉ còn là con người trống rỗng, ghê tởm chính giới, thây kệ những danh từ Tự Do Ðộc Lập giả trá, mình tự cho mình chút ít sinh thú nhỏ mọn: làm một chân thư ký quèn, ăn một miếng cơm, yêu một người bạn, ở độc thân, nuôi thằng cháu nhỏ mồ côi cho đi học, đầu tháng mà dư tiền thì mua chai vang nhắm với thịt lợn sữa quay, cuối tháng hụt tiền thì mua một cút rượu ngang với mấy đồng bạc tai heo. Không xét mình mà cũng chẳng xét người. Giờ đây Cộng sản sắp về thì về, biết rằng bão sắp đến thì ngồi chờ bão. Muốn tránh bão tất phải chạy – thiết gì chạy! Kẻ ra đi là để tiếp tục tìm kiếm, mà đổi mới, xây dựng, mình thì còn gì nữa đâu mà tìm kiếm, mà đổi mới, mà xây dựng ? Và Lâm nói với tôi: “Nếu không sống được thì anh cứ tin rằng tôi tự tử, cái quyền đó chúng không lấy được của tôi!”







































































