Ngô Nhân Dụng
Chúng tôi đã làm việc chung trong nhiều tờ báo ở Sài Gòn, trước năm 1975. Có thể kể ngay từ lúc tờ báo Sống của Chu Tử đang lên; các bạn trong tòa soạn có Trần Dạ Từ, Ðằng Giao, Nguyễn Thụy Long. Chúng tôi tham dự từ bên ngoài, vì quen thân với Trần Dạ Từ trong nhiều năm trước đó. Có lẽ thời gian chúng tôi làm báo hăng hái nhất là khi nhật báo Sóng Thần ra đời.
Tờ báo in xong, mỗi ngày mọi người đều ngóng chờ tin tức, từ Chu Tử, Uyên Thao, là người điều khiển tờ báo, cho tới hai chúng tôi. Thứ nhất là coi tờ báo có bị tịch thâu hay không; thứ nhì là xem hôm đó bao nhiêu tờ báo được phát hành. Chỉ lo làm sao cho báo sống được; nhưng chúng tôi không ngờ nó đã sống rất mạnh. Tôi nhớ năm đó có cuộc bầu cử tổng thống, báo Sóng Thần có lần in bức hình thời sự. Trong hình là cảnh một gia đình sống trong một cái ống cống lớn bày bên cạnh đường trước khi đem chôn xuống đất. Nhưng bên trên cái ống cống là hình bích chương tranh cử của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu dán trên tường. Hình như năm đó chỉ có mình ông Thiệu tranh cử sau khi hai ông Kỳ và ông Minh rút tên, báo chí gọi là “Bầu cử độc diễn.” Bức hình được họa sĩ Ðằng Giao trình bày, lớn gần nửa trang báo “đập vào mắt,” đăng kèm theo một bản tin ngắn về bầu cử. Cho in bức hình đó rồi; báo đã in xong, ai cũng lo. Bộ Thông Tin có thể lấy cớ này nọ tịch thu tờ báo. Nhưng may quá, họ không làm gì cả. Ðộc giả tất nhiên thích cái ý mỉa mai cay đắng ngầm trong bức hình này.
Sau báo Sóng Thần, chúng tôi lại cùng làm với báo Ðại Dân Tộc của dân biểu đối lập Võ Long Triều. Ðỗ Ngọc Yến làm việc nhiều, chạy tin và nộp bài trực tiếp với Chú Tư Cầu, nhà văn Lê Xuyên. Ðây có lẽ là thời gian đầu tiên Yến sống với số lương làm báo, tháng tháng đem một chút về đưa cho vợ, phụ vào số lương cô giáo của chị Lã Phương Loan. Còn tôi chỉ ngồi ở nhà viết, mỗi ngày có một em bé chạy xe đạp đến lấy bài. Hồi đó tôi ký tên là Vương Hữu Bột, mà sau này tôi còn dùng khi viết cho báo Người Việt và Thế Kỷ 21. Tôi trở lại nghề báo sau khi Ðỗ Ngọc Yến quyết tâm lập ra và điều khiển nhật báo Người Việt năm 1978; rồi Lê Ðình Ðiểu chủ trương tờ Thế Kỷ 21 vào đầu năm 1989. Nhưng từ năm 1995 tôi mới thật sự làm báo chung với Ðỗ Ngọc Yến; di cư từ Montreal xuống California, làm việc thường xuyên và lãnh lương của báo Người Việt. Trong hơn mười năm đó, cho tới khi Ðỗ Ngọc Yến qua đời, tôi mới có dịp đụng chạm với Ðỗ Ngọc Yến, một nhà báo. Sau khi Yến mất, tôi đã nhớ lại những kỷ niệm nghề nghiệp của ông bạn mình, trong đó có quan niệm của Yến về việc làm báo. Tôi ghi lại những kỷ niệm này để các bạn trong thế hệ mới đang làm Người Việt và Người Việt Online thông cảm với những điều tâm huyết của người chủ nhiệm sáng lập.
Ðỗ Ngọc Yến tự học nghề báo, từ khi lớn lên Yến hầu như không bao giờ làm một công việc nào khác ngoài nghề báo – trừ mấy năm đầu mới sang Mỹ phải làm đủ thứ việc để sinh nhai; như đã làm cán sự xã hội trong một vài năm. Yến ham làm báo như người ta ham đá banh, ham trồng hoa lan, chứ không nghĩ đến tiền. Một phần cũng vì Yến sinh ra trong một gia đình khá giả, không lo lắng về việc kiếm tiền để sống như bọn chúng tôi, Trần Dạ Từ, Nguyễn Thụy Long, Tú Kếu hay Dương Nghiễm Mậu, nhóm bạn bè thời niên thiếu. Không quan tâm đến khía cạnh kinh doanh, cho nên nếu Ðỗ Ngọc Yến tha thiết với cái nghiệp làm báo, đến danh tự, đạo đức của nghề, điều đó cũng dễ hiểu. Yến được đào tạo trong môi trường Hướng Ðạo cho nên cũng thừa hưởng một nền móng đạo lý của phong trào này. Những quy tắc đạo lý mình sống theo thì cũng trở thành những quy tắc mình giữ khi làm báo.
Nhiều lần Ðỗ Ngọc Yến, Lê Ðình Ðiểu và chúng tôi đã bàn nhau có nên viết ra những quy tắc nghề nghiệp chính thức cho nhật báo Người Việt để anh em cùng theo đuổi hay không. Lê Ðình Ðiểu rất quan tâm đến vấn đề này, và nghiêng về ý kiến phải viết ra thành văn bản, giống như những tờ báo bên Mỹ. Yến và tôi thì phân vân, vì thấy tờ báo mình còn nhỏ quá không so sánh với các tờ báo Mỹ in mỗi ngày hàng triệu số. Như một gia đình, có gì anh em bàn luận, khuyên bảo lẫn nhau cũng được; chưa cần và có thể chưa chắc đã theo được đúng các quy tắc mà mình muốn ghi lại. Sau cùng cả ba quyết định là chưa cần viết. Vì hầu hết các tờ báo lớn trên thế giới đều đã viết những bản quy ước nghề nghiệp như vậy, mình chỉ cần nghiên cứu và đem ra thảo luận, châm chước mà theo là đủ. Các trường dạy nghề báo đều có những khuyến cáo đáng nghe, anh em nào có học thì tự khắc biết. Sau khi Lê Ðình Ðiểu qua đời, Ðỗ Ngọc Yến bệnh nặng, Yến mới đề nghị tôi viết trong Sổ Tay Người Việt một số quy tắc về đạo đức nghề nghiệp để anh chị em cùng theo, nhưng viết trong một cuốn “Sổ Tay” thì không long trọng như viết những lời tuyên ngôn hay phát nguyện.
Yến chưa bao giờ viết ra các quy tắc nghề nghiệp, nhưng Yến thường hay nói, rất chịu khó nói, không ngại nói. Và những điều Yến nói ra thường dựa trên những câu chuyện cụ thể, các quyết định trước mắt bắt buộc phải lựa chọn, chứ không tự nhiên đặt ra như những vấn đề trừu tượng và tổng quát. Yến không có khuynh hướng bàn chuyện lý thuyết, mặc dù anh hay nêu lên những quy tắc tổng quát khi quyết định điều gì. Cả hai chúng tôi đều thích triết học, thích đọc lịch sử, đủ thứ sách lịch sử có trong tay. Nhưng các ý kiến nghề nhiệp của Yến thường dựa trên căn bản là phương cách cư xử phải chăng, lối sống khôn ngoan của người Việt mà từ nhỏ chúng ta đã học trong nhà trường, ngoài xã hội cũng như ngay trong làng báo Việt Nam ngày xưa.
Chẳng hạn như đối với các đồng nghiệp. Yến chủ trương không bao giờ gây tranh cãi, báo Người Việt thường không tham dự các vụ tranh cãi trong cộng đồng. Có những lúc người Việt ở nước ngoài bàn tán, tranh luận sôi nổi về một đề tài nào đó, bao nhiêu tờ báo tham dự, đứng về phía bên này hay bên kia, Yến đều khuyên anh em nên đứng ngoài. Thí dụ như khi có hai hoặc ba ban chấp hành Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại, hay khi các đoàn thể và các báo tranh luận vụ một nhà văn người Việt tị nạn kiện một trường đại học ở Boston, hay là những vụ nhỏ hơn như Cộng đồng người Việt ở Nam California có hai người đều nhận là chủ tịch, các hội cựu học sinh Gia Long, Trưng Vương cũng có lúc như thế. Bao nhiêu tờ báo đăng các bài tranh luận xem bên nào phải, bên nào trái, ai cũng có những lý luận sắc bén cả, báo Người Việt thường không có ý kiến. Không những thế, Yến đề nghị Người Việt không đăng cả những bài lai cảo người ta gửi tới, bàn về các vấn đề đó.
Nhiều bạn bè có lúc đã tới tận tòa báo, thẳng thắn công kích báo Người Việt “hèn” không dám bày tỏ thái độ về các vấn đề sôi nổi cả cộng đồng. Nhưng Người Việt vẫn giữ thái độ đứng ngoài. Một lý do mà Yến thường nêu lên là tờ báo không cần phải tỏ thái độ về tất cả các câu chuyện đang được dư luận tranh cãi. Im lặng cũng là một thái độ, nó có ý nghĩa là tờ báo coi đó chỉ là những đề tài nhỏ đã bị thổi phồng lên mà thôi, cứ để một thời gian sẽ chìm vào quên lãng. Cứ chờ, sẽ có ngày ai cũng thấy đó là những vấn đề nhỏ, không cần làm to chuyện. Yến hay nói, mình không nên bắt độc giả phải bận tâm về những vấn đề như vậy. Ðỗ Ngọc Yến cũng hay nêu lý do biện minh cho thái độ này, là chúng ta không nên đề cao những vấn đề mà nêu lên chỉ làm chia rẽ cộng đồng. Cứ để yên, một xã hội phức tạp và căng thẳng như khối người Việt di tản đã đủ chia rẽ nhau lắm rồi, không nên để cho đồng bào thấy nhiều cảnh chia rẽ bêu riếu hơn nữa. Cuối cùng, đa số anh em đồng ý thái độ đó là phải.
Có lúc nhiều người chê là Ðỗ Ngọc Yến và nhật báo Người Việt “tròn” quá, có thái độ “cầu an” trước các cuộc tranh cãi đầy sóng gió. Nhiều anh em trong tòa báo cũng cảm thấy máu nóng lên, muốn “tỏ thái độ” cho thiên hạ biết là “báo mình” không “trốn tránh.” Nhưng cuối cùng, lựa chọn của Ðỗ Ngọc Yến vẫn được mọi người chấp thuận. Bây giờ nghĩ lại, phải thấy đó là một lựa chọn khôn ngoan. Một câu hỏi mà Yến thường đặt ra là nếu như nhật báo Người Việt đứng về một phe trong các cuộc tranh cãi mà chọn một thái độ nào đó, thì có chắc chắn lựa chọn đó mới lẽ phải, là sự thật duy nhất, ý kiến đúng nhất hay không? Khi có nhiều người bất đồng ý kiến một cách sôi nổi trên một vấn đề như vậy, người viết báo có nên nêu ý kiến riêng của mình ra, dùng một cơ quan ngôn luận mà mình kiểm soát để chinh phục độc giả đồng ý với mình hay không? Nếu đó lại chỉ là những chuyện cá nhân, không phải là những vấn đề thực sự trọng đại về đạo đức, về chính trị, không thể có những câu trả lời dứt khoát, thì mình có nên bắt độc giả phải nghe ý kiến riêng của mình hay không? Tại sao phải mang ý kiến của một nhóm người làm báo gây ảnh hưởng trên dư luận độc giả? Ðỗ Ngọc Yến có một quan niệm rõ ràng là một tờ báo phải là một định chế công ích, của chung tất cả mọi người chứ không phải của các chủ nhân, cũng không phải của các người viết báo. Những người có quyền viết, quyền in báo phải nhớ không để tư ý, tư lợi lên trên công việc thông tin trung thực, khách quan, vô tư mà độc giả có quyền hưởng. Có như thế mới giữ được lòng tin của độc giả.
Có những tờ báo lấy việc công kích nhật báo Người Việt là một việc thường xuyên. Yến thường bảo: Anh em họ là một tờ báo nhỏ, phải ngoi lên để sống, họ chửi bới, công kích mình cũng vì nhu cầu làm báo cả. Cứ để đó, bao giờ báo họ khá lên họ không cần chửi nữa, họ sẽ thôi. Mà quả thật đó là thái độ nhường nhịn, bao dung Yến vẫn giữ trong cuộc sống hàng ngày. Chưa thấy Ðỗ Ngọc Yến giận ai bao giờ. Hồi 1966 ở Sài Gòn có một tờ báo lôi Ðỗ Ngọc Yến ra công kích liên tiếp, gọi cả bọn chúng tôi là làm tay sai Mỹ khi đứng đầu Chương trình Hè 65. Tờ báo đó do một cựu đoàn sinh Hướng Ðạo của chúng tôi làm chủ bút. Ðỗ Ngọc Yến không giận, còn an ủi: Anh em cần chứng tỏ họ họ chống Mỹ thì họ phải viết như vậy. Mà trong các bài chỉ trích Chương trình Hè 65 họ không hề viết một lời nào tỏ ra họ nghi ngờ mình gian lận, ăn cắp tiền của Chương trình, như vậy chứng tỏ họ vẫn kính trọng tinh thần Hướng Ðạo của mình, thế là tốt lắm rồi! Về sau này cũng vậy, Ðỗ Ngọc Yến vẫn vui vẻ giao thiệp với những vị chủ báo chửi báo Người Việt, khiến cho tất cả anh em trong tòa báo cũng lây cái tính hòa hoãn đó.
Một nguyên nhân khiến Yến không để cho nhật báo Người Việt cãi nhau tay đôi với các đồng nghiệp là vì anh đã học kinh nghiệm khôn ngoan của các vị đàn anh làm báo ở Sài Gòn năm xưa. Yến nhớ từng chi tiết những vụ báo này chửi báo khác hồi đó. Anh học được một điều là những tờ báo lớn đã có địa vị rồi thì không bao giờ “cãi nhau tay đôi” với những tờ báo nhỏ, nhất là những báo thích giật gân. Vì dính vào những vụ tranh chấp đó không ích lợi gì cả, chỉ giúp cho tờ báo nhỏ được nổi tiếng. Dù ai cũng biết những kinh nghiệm khôn ngoan đó, Yến là người thi hành được mãi, chỉ vì bản tính Yến rất ôn hòa, nhẫn nhịn, không tự kiêu. Và nhất là anh không để tự ái nhất thời ảnh hưởng tới hành động của mình. Trong cuộc sống hàng ngày Yến cũng thường như vậy, không để cho lòng tự ái lên cao.
Nhiều lần tờ báo Người Việt mắc phải những sơ suất khiến cho nhiều người hiểu lầm, có những cuộc biểu tình phản đối, nhiều người thuộc các đảng phái, các tổ chức chính trị dẫn đầu các cuộc biểu tình đó. Yến thường nhắc nhở tòa soạn rằng báo mình không bao giờ coi những người đang biểu tình chống mình là kẻ thù, nhất là vẫn phải kính trọng các đoàn thể của họ. Những tin tức liên quan đến các đoàn thể đó, tin tức đáng nghe thì vẫn phải loan tin.
Cũng vậy, khi thấy báo mình phạm lỗi nào vì sơ suất, Yến thường yêu cầu tờ Người Việt phải đính chính hoặc xin lỗi độc giả thật nhanh chóng. Có một thứ mà Yến rất quý, rất lo mình làm mất, là lòng tín nhiệm của độc giả. Yến tin rằng nói chung độc giả đều khôn chứ không dại như nhiều người tưởng. Ðó cũng là một niềm tin nền tảng của chế độ dân chủ tự do. Người làm báo không nên quá tự tin ở khả năng thuyết phục của ngòi bút mình dùng. Ðừng tìm cách chạy quanh, đừng giở thói biện bác để chạy tội. Mình có thể che giấu một lỗi lầm trong nhất thời, che giấu đối với một số người; hoặc mình tìm cách mở bài biện bác để chối cãi, không nhận lỗi vì không muốn mất thể diện. Nhưng về lâu dài thì sẽ không che giấu được đâu, người đọc sẽ biết hết ai nói thật, ai nói dối. Tài biện bác đem ra cãi trước tòa có thể thắng một vụ kiện, nghi can có thể được tòa tuyên bố vô tội; nhưng tòa án dư luận không xét xử như vậy. Phải mất nhiều năm một tờ báo mới tạo được niềm tin tưởng của công chúng, nhưng chỉ cần một bước sơ suất là sẽ làm mất tất cả lòng tin ngay, và muốn xây dựng lại tín nhiệm là việc rất khó.
Ðỗ Ngọc Yến qua đời, khi nhớ những ngày làm việc chung với Yến tôi vẫn nhớ hình ảnh một người khiêm cung. Trong các phiên họp Yến không bao giờ tìm cách áp đặt ý kiến của mình, không cố ý lôi kéo hoặc gây ảnh hưởng trên người khác. Trong nhiều cuộc thảo luận nội bộ, thường Yến chỉ ngồi im, để những người khác lý luận tranh cãi. Có lúc Yến chỉ nói một câu giản dị: “Báo Người Việt không làm như vậy,” thế là mọi người nghĩ lại. Những người đang nói ý kiến riêng, đối nghịch với nhau, lại tự đặt mình vào địa vị “Báo Người Việt,” một thực thể riêng, vượt trên thân phận của mỗi cá nhân.
Tự nhiên mình suy nghĩ sáng sủa, rõ ràng hơn; vì không còn bị vướng trong cái tổ kén cá nhân của mình nữa. Một mối quan tâm của Ðỗ Ngọc Yến cũng như Lê Ðình Ðiểu, là sau khi thế hệ này qua đời làm sao để “Báo Người Việt” sẽ giữ được như một thực thể vượt lên trên các cá nhân đã chung sức xây dựng lên nó. Tờ báo phải sống mãi như một định chế chung, nó thuộc về cả cộng đồng người Việt ở nước ngoài, chứ không phải của một nhóm anh em nào, bây cũng như mai sau. Và khi nào nước Việt mình được tự do làm báo, thì anh em phải giúp bà con xây dựng những tờ báo, những định chế trong ngành truyền thông đứng vững như một cách độc lập. Xây dựng lên những định chế như thế là một cách trả ơn tổ tiên, từ Chu An đến Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Ðình Chiểu, các sĩ phu còn nêu gương sáng; cho tới những Nguyễn Văn Vĩnh, Hoàng Ðạo, Nhượng Tống, Phan Khôi, những nhà báo đáng kính lớp trước.
Nghề báo cũng chỉ là một định chế của xã hội con người. Ðịnh chế nào cũng có thể tốt hay xấu tùy theo những người lãm việc trong đó. Nhưng khi người làm báo có ý thức tự coi trách nhiệm của mình là lớn, là có thể ảnh hưởng đến xã hội chung quanh, thì chính họ sẽ giúp cho nghề truyền thông có giá trị hơn. Ðỗ Ngọc Yến là một người như vậy. Mất anh rồi, nhiều người mới thấy tiếc, mới nhớ lại rằng khi có mặt anh là cả một điều đáng quý. Ðối với độc giả nhật báo Người Việt thì chắc mọi người cũng đang thẩm lượng coi sự vắng mặt của người chủ nhiệm sáng lập có gây ra những mất mát nào trên mặt tờ báo hay không. Chỉ mong là bà con vẫn thấy tờ báo tiếp tục trên con đường mà Ðỗ Ngọc Yến đã đi trước.




















































