Xót xa


BÐQ Nguyễn Thế Ðỉnh


Hoành vừa từ khu phố Bolsa, nơi quần tụ của người Việt lưu vong, sau mấy giờ đi tha thẩn trong khu chợ hoa. Hoành đi đủ mấy vòng để có hy vọng tìm lại một vài cảm giác đã thật xa thật cũ biệt mù trong quá khứ, nhưng Hoành chợt nhận ra mình đã vô vọng, thôi về cho xong. Ðã mấy ngày rồi thời tiết u uẩn với những con gió chạy lao xao, ẩm lạnh.

Lưng trời những tảng mây xám đông đặc. Hoành chợt nhận ra bây giờ đã là cuối đông nơi quê nhà. Chỉ còn một tuần nữa là mùa xuân, khởi đầu cho một năm mới. Hoành chợt thấy xót xa. Nỗi nhớ như mũi dao đang cắm thật chậm trên da thịt. Nếu, ừ nếu. Hoành nói với chính mình trong tâm tưởng. Ừ nếu không có những đành đoạn chia lìa, không có những hận thù chất ngất, thì Dương và đứa con trai nhỏ của anh cũng đang vào ra tíu tít với những mua sắm những thứ cần cho ngày Xuân chứ đâu có biệt tăm trong lòng đại dưong. Hoặc ở nơi nào đó Hoành cũng đang cùng những người lính, những thằng em, những bạn bè hăm hở chuẩn bị cho một vài thú vui nhỏ gọi là cũng có mùa Xuân như mọi nhà. Hoành bây giờ đang bắt gặp chính mình trong nỗi quẫn bách tinh thần. Anh cố công tìm ở những giờ lang thang đặng xóa nhòa đi phần nào nỗi xót xa về những dòng chữ, nhữntg ảnh hình cũ mốc của dĩ vãng, nhưng Hoành đành thua. Quyết định trở về lại căn phòng hiu hắt của mình.


Bốn tấm hình đen trắng, hai cái đã cũ, còn lại hai tấm có lẽ mới chụp, nước hình sáng hơn. Bốn chiếc hình được đặt thành hàng ngang trên mặt bàn và lá thư viết trên giấy mỏng, trắng đục, bốn cạnh viền xanh lợt điểm thêm nhưng xọc xéo màu đỏ nhạt. Nét trang trí kệch cỡm và nhà quê. Những dòng chữ xiêu vẹo nghiêng bên trái, đá ngược bên phải, có lẽ người viết không quen với tờ giấy không dòng kẻ. Ðã hai hôm rồi, tù lúc nhận được thư, đọc và xem hình xong. Hoành cảm thấy như người mất trí, thần kinh bị lạc chưa tìm được lối về. Anh ngớ ngẩn, thỉnh thoảng lại thở dài, lúc thì phì mạnh hơi thở lên cao như con rắn hổ mang đất đang khè mồi – Rõ ràng là Hoành đang bị choáng vì tin nhận được. Người chiến hữu của Hoành, thằng bạn đánh giặc mà cứ làm như là mình đi dự đại nhạc hội, lúc nào cũng quần áo bảnh bao, cổ áo kéo cao che nắng – Thà đi đường vòng dẫu có xa hơn, nhất định làm biếng lội sình, vừa dơ vừa bẩn, lỡ đỉa nó đeo thì bỏ mẹ. Ðặc biệt hơn nữa ở bạn anh – Tuệ – hắn tên là Tuệ, được mệnh danh là Tuệ cải lương vì chỉ thích giọng ca Hoàng Oanh, dường như cu cậu thầm yêu trộm nhớ nữ ca sĩ này. Mỗi sáng Chủ Nhật, vào thời gian đó ở rạp Thanh Bình trên đường Phạm Ngũ Lão hay tại rạp Khải Hoàn, đường Cống Quỳnh thường hay có tổ chức chương trình tuyển lựa ca sĩ. Xen kẽ giữa những giọng ca dự thí, các ca sĩ nhà nghề như Duy Khánh, Hoàng Oanh, cũng ca hát cho khán thính gỉa thưởng thức. Phục vụ tại đơn vị tác chiến như BÐQ, lúc được nghỉ dưỡng quân một vài ngày đến cả tỉnh lẻ, thị xã của nó còn chả được vào, đóng quân ngoài vùng ven mà thôi.


Nào ai dám mơ đến Saigon, đến được vào xem đại nhạc hội. Thế nhưng Tuệ đã có cách, dù đang đi hành quân, hoặc đang án binh ở nơi nào đó, Tuệ cũng vẫn để cho lòng mình bay theo tiếng hát Hoàng Oanh. Trước đó, các đơn vị quân đội được cấp phát, mỗi trung đội một cái radio “Ấp chiến lược” do chính phủ Nhật Bản tặng, có một băng tần duy nhất, nhưng nghe BBC Luân Ðôn, VOA, hay thậm chí nghe đài cộng sản Hà Nội cũng rất rõ. Hoành đã từng chứng kiến Tuệ đánh mất hồn mình, bay đâu đó ngoài không gian lúc nghe người nữ ca sĩ này trình bày bài Hòn Vọng Phu cùng với Duy Khánh. Hoành nhìn bạn, cảm giác xót xa và thương yêu. Tội nghiệp nó, giữa những hiểm nguy, khổ nhọc. Nỗi chết đeo cứng sau lưng – Nó vẫn nhởn nhơ với một tình yêu lãng đãng như sợi mây mỏng vắt trên nóc rừng. Ngày và đêm ngủ cũng như thức, chỉ còn có nguồn vui thật rẻ, đơn giản là cái radio. Tuệ đã bảo người lính “tà lọt” ráng mang theo cái radio ấp chiến lược


– Ráng chút xíu đi em, không nặng lắm đâu. Có nó, tao và mày mới vui được chút đỉnh. Nghe Hoàng Oanh, tao thấy mình đang dạo phố Bonard hay đang trong cà phê La Pagode. Tao biết mày còn thích nó hơn tao.


Chú tà lọt nhe răng cười:


– Ông thầy quên mất là trước khi làm lính, em đã từng là kép cải lương. Em đi cùng với đoàn Dạ Lý Hương, không có em Hùng Cường sức mấy mà hát được.


– Vậy mày là gì? Ð.M, làm như bảnh toỏn lắm, không có mày thằng Hùng Cường nó ngọng à?


– Em hỏi ông thầy, nếu không có em kéo màn thì Hùng Cường cách nào bước ra để đóng tuồng?


Hai thầy trò cười ha hả, sảng khoái hết cường độ của nó, giản dị và rẻ như thế đấy. Những người lính khác trong ban chỉ huy có thể ngủ chỗ nào cũng được tùy theo sự bố trí nhưng riêng thằng Út ghẻ – tà lọt của Tuệ phải nằm gần Tuệ để dễ nhờ vả, nhờ cái này sai khiến cái kia, kế cạnh chỗ Ut ghẻ là mấy chú lính mang máy truyền tin. Cach khoảng một hai hầm là nơi ông thường vụ. Họ như một gia đình, trông nom săn sóc cho nhau, ruột thịt chắc cũng chỉ đạt đến mức đó.
Hoành đã chìm trong suy tư chẳng biết bao lâu. Tiếng mấy con quạ léo nhéo trên đọt cây ổi sau nhà khiến Hoành tỉnh lại, về thực tế. Vị đắng kết khối trong miệng, cổ họng cứng như khúc mía khô, Hoành cố nhép nhép để tìm chút nước được tiết ra, làm ướt và mềm cuống họng. Hoành chợt ho khan, anh đứng dậy ra phía sau để rót ly nước uống. Hoành mở cửa sau, ngước nhìn khung trời đang khoác chiếc áo mầu chì, vài mảng mây bay thật nhanh, xà thấp như muốn thò tay ngắt những chiếc lá còn sót trên ngọn cây trơ cành. Hai con quạ đang rỉa lông làm đẹp cho nhau, nghe tiếng động vỗ cánh bay đi không quên để lại vài tiếng kêu “quà quạ” giỡn mặt với người vừa mở cửa, Hoành dõi mắt theo cặp uyên ương quạ bay xa dần nơi cuối xóm. Hoành hỏi nhỏ một mình: “Tuệ, mày chết thật rồi à? Tao có lỗi với mày nhiều quá, lỗi cả với những thằng em quấn quýt, vui, buồn, hờn giận và nhất là những lúc bị bọn chó đẻ pháo như giã gạo trên đầu, chúng nó vẫn nhất định chơi đến cùng, những thằng em thân thương của mày như Út ghẻ có lẽ lúc cha nó lìa đời cũng không khóc lóc vật vã bằng lúc mày bị thương máu chảy đầm đìa cả cái quần trận. Thật ngộ nghĩnh, miệng thì lảm nhảm ông thày đừng “đi” nha, ông thày sẽ không sao đâu, đừng bỏ tụi em nha đại úy, nó vừa khóc vừa đưa tay mở nút quần vọc vào chỗ đó. Ngồi kế bên, tao hỏi nó “mày làm gì thế Út? Nó đáp tỉnh queo: “Ðể em rờ coi lỡ nó lấy mất mẹ nó ‘ông Võ nguyên Giáp’ của ông thày em thì chết sướng hơn.” Tao cũng phải bật cười dù đang lo rầu, đã hơn nửa giờ rồi, trực thăng tải thương vẫn chưa đến. Những đứa em thủy chung tận tụy như thằng Tân heo của tao, sáng sớm chưa thò chân xuống võng đã nghe nó la eo éo giọng con heo nọc: “Uống cà phê Thiên lôi, em pha nãy giờ, nguội lạnh rồi” hoặc tận tụy với công việc như hai khứa lão Thường vụ của mày, Thượng sĩ I Quý, Thượng sĩ Hợi của tao, mỗi lần đi hành quân, tao chẳng thấy ông ta sửa soạn, chuẩn bị cái gì cho cá nhân mình, mà chỉ thấy loay hoay chỗ này, chỗ khác hỏi đứa này, trình với ông quan kia về lương thực, đạn, mìn claymore, M 72 sẽ phải mang ra trận. Có một điều duy nhất tao nhìn thấy được là hai bên hông phải và trái của hai “thằng chả” là mỗi người mang kè kè hai bi đông rượu đế. Tao hỏi thì được trả lời, đi hành quân, mệt, khát nước làm một hớp đế nó “nên thuốc” lắm. Nên thuốc nên thang gì tao không hiểu, nhưng nếu tao chỉ cần nửa nắp bi đông đã bỏ mẹ rồi. Nhũng chiến hữu, những thuộc cấp, những thằng em coi chuyện lên mặt trận như đi đánh lộn với du đãng như thằng Hai Gạc Nai, bắn một trái M 79, nhìn thấy mấy thằng VC đang chạy lao về tuyến bố trí của mình, khựng lại, đổ vật xuống như những cây chuối bị chém ngang gốc. Thằng Hai gạc nai quên mất là mình đang đánh nhau với giặc, đang ở giữa trận chiến căng thẳng, địch đông như kiến, pháo như vãi sạn lên khu vực quân mình và đang xung phong để hòng tiêu diệt ta. Nó đã quăng cây súng M 79 xuống , đứng thẳng lưng, reo lên như đang dự một trò vui, nó la khoái chí: “Ê tụi bay, đ.m, tao vừa luộc mấy thằng chó đẻ, đó, đù mẹ tụi nó đang giãy giãy quờ quạng phía trước mình kia kìa. Lúc đó nhìn nó, tao thương vô cùng và cũng đang lo, liệu mình chống trả và đẩy lùi được tụi khốn nạn này không? hay là lại phải ‘di tản’, nhưng qua cái hồn nhiên của thằng Hai gạc nai, thằng Tân heo, mặt lạnh như nước đá, móc điếu thuốc Lucky trong túi áo tao, mồi lửa rồi đặt lên môi tao buông gọn ‘Hút ông thày.’” Thượng sĩ Hợi thong thả mở nắp bi đông uống từng hớp đế chẳng có vẻ gì là đang ở trận mạc làm tao vùa ngượng, vừa sùng bố và nghĩ thật nhanh, nói trong đầu với tụi VC: “Con C… tao sẽ cho chúng mày biết thế nào là đòn đau của Biệt Ðộng và sẽ cấp giấy phép cho mấy con xuống địa ngục cho mau, giờ thì cỡ nào ông cũng chơi. Tao gọi máy cho lệnh xung phong, dập M 79, M 72 tối đa, ghìm đấu chúng nó xuống, để cho mấy thằng em nhảy tới đưa bọn vịt con đi nhị tỳ. Những thằng bạn, từ chết đến sống, lúc nào quanh quẩn với nhau. Thậm chí lúc đi thăm chị Quý, chị Tình, chị Ðại cũng có lúc còn đi chung. Vậy mà, bấy lâu nay tao đã quên mày, quên luôn cả những thằng Út ghẻ, thằng Hai gạc nai,… và cũng chẳng nhớ gì đến hai ông ‘A La đanh cây đèn thần,’ biệt danh của Quý và Hợi – Họ đã về cõi thiên đường lâu rồi, chết mấy năm tao không rõ. Tao cũng chỉ nhớ sau lần bị thương chùt xíu mất ‘Võ Nguyên Giáp’, mày trở về đơn vị, rồi bị thương lần nữa và đi luôn, về đơn vị quản trị thương bệnh binh và từ đó, mày và tao cũng it gặp nhau cho tới ngày VC dầy xéo quê hương.”


Hoành nhìn thật kỹ tấm hình thứ tư, chụp một xác chết, được phủ một cái mền kín từ vai đến tận gót chân. Người chết được đặt trên cái chõng tre, sát ngay đầu là chiếc lon sữa bò dùng làm bình hương, ba cây nhang cháy nửa chừng. Kế bên là nải chuối xanh. Hoành cúi sát trên tấm hình, mở thật hết cỡ đôi mắt để cố tìm một chút gì của nét xưa, hình ảnh một thuở, làm người hùng của Tuệ cải lương – Chết cái tên ấy chỉ vì thầm yêu trộm nhớ, say mê tiếng hát Hoàng Oanh, Tuệ đã dùng để đặt danh hiệu truyền tin cho mình. Kẻ ác ý đặt Tuệ cải lương cho nó là thằng Minh Vồ (con nhà này ưa chôm bút của bạn bè, nên có thêm chữ vồ theo sau) – Hoàng Oanh-Metro cãi nhau trong lúc di chuyển hành quân không giữ đúng đội hình hàng ngang, đứa lên cao, đứa còn tụt tuốt tận sau lưng, để hở sườn, e VC đánh ngang hông. Sẳn dịp này con nhà Minh Vồ vốn có máu thành thị pha nông thôn bèn mang những danh hiệu truyền tin Hoàng Oanh, Lệ thanh, Minh Hiếu… ra diễu và gọi thằng Tuệ là cải lương, là đồ phường tuồng dĩ nhiên Tuệ cũng đâu chịu thua, hai thằng làu nhàu cho đến lúc ông xếp 54 phải can thiệp chúng nó mới chịu nín, nhưng rồi mỗi thằng có một biệt danh nghe đã lỗ tai đến tận ngày tan hàng.


Người quá cố là thằng Tuệ, thằng Tuệ sĩ quan của BÐQ, bản thân lúc nào cũng chải chuốt, phẳng phiu và tươm tất, ngay cả lúc ăn uống nó cũng khác đồng đội, nhiều khi quá kén chọn, gây phiền hà cho em ut rất nhiều. Bây giờ nó nằm đấy, tóc dựng đứng, râu cằm lởm chởm từng cụm không đều. Hai mắt trợn trừng không nhắm được. Nếu không có chiếc mền cũ bọc liệm thân xác còm cõi, mỏng dính, chắc còn thương tâm hơn nhiều. Hình hài người nằm đấy không còn một chút gì của quá khứ, mất hẳn dấu tích. Nhìn cái hình hài nhếch nhác, dính sát xuống chõng tre, ai có thể tin rằng thuở còn đi học, người này đã từng sánh ngang với Quý lỏi cha cha, Nguyên thuốc cam Hàng Bạc, với Khánh bebop ở những Party, ở vũ trường Văn Cảnh, Arc-en-Ciel, Melody, v.v… Và rồi đến tuổi trở thành người lính, lại lừng lững vào mặt trận, đi cùng đồng đội cùng thuộc cấp vào lửa đạn, cũng thản nhiên như rủ nhau đi đánh lộn của thời học trò. Có những lần trận đánh đã diễn ra thật ác liệt, vừa đánh vừa trông chờ viện binh, nỗi sợ hãi ùa ngập tâm tư lo quặn cả ruột. Và, sau đó trận chiến được giải tỏa, Lính Cộng sản chạy vào rừng sâu như chuột lủi vào hang. Người lính lại nhởn nhơ như chưa hề thấy mình vừa thoát chết. Bây giờ thì chẳng còn gì nữa. Hờn giận, thương đau, niềm vui (chắc hẳn là mày không có niềm vui từ lâu lắm. Nếu có thì mày đâu đã vội vàng đi như trốn thế hả Tuệ?). Mày tự kết liễu cuộc sống thì giải thích như thế nào nhỉ. Thôi thì cứ chấp nhận sự ra đi của mày là chính đáng, là đúng, bởi vì tao có phải là mày đâu, Cách gì tao hiểu được cái quay quắt, nỗi đòi đoạn hành hạ mày bấy lâu. Mày là đứa coi việc xẩy ra hàng ngày nhẹ tênh hư bông gòn. Chuyện nặng, việc nhẹ, lo âu hay gay cấn mày vẫn tỉnh như sáo, nếu có hỏi thí mày trả lời nghe phát ghét: “Kệ nó, từ từ giải quyết, nóng quá dễ mất khôn,” giờ đây mày quyết định ra đi, nhất định là phải chính xác thôi.


Thương mày thì oán ghét lây đến cả ông Trời, thật ra thủ phạm chính là những thằng cộng sản. Kẻ mà mày mang nỗi hận thù chưa trả được


Hoành xoa nhẹ ngón tay trỏ lên khuôn mặt Tuệ trong hình. Anh đặt lại chỗ cũ ở mặt bàn. Nhìn quanh căn phòng, nhà anh sao bữa nay bỗng dưng quạnh quẽ quá chừng, dù rằng niềm cô quạnh vẫn hằng đeo cúng từ những ngày trở về căn nhà xưa sau mười năm lao khổ trong trại tù cộng sản, ở đâu cũng vậy thôi, cũng chỉ là một thân trơ trọi. Bữa nay không thế, Hoành có cảm giác căn nhà mình rộng hơn, tất cả vật dụng đều đang ngủ vùi. Sự im lặng thật cô tịch và hoang vắng. Hoành nhận ra mình bấn loạn cô đơn đến khủng khiếp, nhớ quay quắt những kỷ niệm cũ-Hoành đã mất hết những giờ phút cười hả hê, nụ cười đã được Tuệ gọi là: nó cười, ngoạc ra như miệng con cá ngão, cá ngão là loại cá gì ngay chính Tuệ cũng chưa từng nhìn thấy. Nếu hỏi tới, nó đáp liều: “Thì tao nghe người ta nói vậy, thằng nào cười ngoạc miệng như con nhà Hoành thì gọi là miệng cá ngão.” Huề cả làng, còn vặn vẹo gì nữa. Lại cười. Niềm vui đến tự nhiên, với những người lính thật đơn giản, nhưng tình thương dành cho nhau trầm lắng và cuồn cuộn trong tận cùng tâm linh. Ðứa này bị vây đứa kia đem quân đánh thốc lên, dù có rơi gẫy một vài thằng em cũng phải chơi tới nơi để đem mang đồng đội ra khỏi chỗ nguy. Nếu có đứa nào bị thương hay trả xong nợ nước thì những thằng còn lại khóc lóc như trẻ nít, thằng thì lầm lì ngồi hút thuốc… Hoành đã mất hết, mất cạn láng nguồn vui, mất mọi sự chăm lo thương yêu của đồng đội, chiến hữu; cũng mất luôn cả cảm giác giận đến nghẹt thở, tức đỏ mặt khi có việc gì xẩy ra không đúng với kế hoạch dự trù, hoặc do thằng em nào đó gây ra: vô kỷ luật trên đường phố hoặc nặng hơn có đứa hết tiền, thèm bia quá, tới một snack bar uống quỵt một hai chai. Dĩ nhiên Hoành được báo cáo, hoặc khiếu kiện từ chủ quán, ngay lập tức “ông thày” nổi cơn thịnh nộ, muốn dộng cho thằng ba trợn làm mất thể diện đơn vị. Nhưng lúc nhìn thấy thằng em run rẩy trình diện, lòng anh lại hạ nhiệt ngay. Biện pháp kỷ luật là: Trả ngay tiền uống bia, vay mượn, xin ở đâu không cần biết, kẻ phạm luật phải thanh toán trong vòng một giờ. Thỉnh thoảng chính anh cho tiền thằng em đem trả. Sau đó thì, “Nằm xuống em, mày làm mất mặt đơn vị, làm quân đội bị mang tiếng, nhất là cá nhân tao bị coi thường, cứ một chai bia uống quỵt, một hành động bê bối nơi công cộng là 2 hèo, vắng mặt bất hợp pháp cũng, lấy số 3 làm đơn vị căn bản cho một ngày nhân lên cho tổng số vắng mặt – không phạt giấy tờ, không nhốt chuồng heo chuồng cọp làm gì. Ðánh thì có đau thật nhưng rồi vài ngày sẽ hết, mặc dù có đứa đi khệnh khạng kiểu 10 giờ 10, thế nhưng không ai oán ghét. Có lần tình cờ Hoành nghe thuộc cấp nói với nhau: “Ông đánh đau thấy mụ nội, nhưng vái ngày là hết, ổng không thù cá nhân, trù ẻo là mình thương.” Nghe được câu này Hoành thấy lòng mình ấm hẳn lên, chút kiêu hãnh dấy lên trong trí não. Tình yêu thương giữa đồng đội, tình chiến hữu là vô giá. Kẻ này có thể chết thay cho người kia. Hoành làm sao quên được hình ảnh của Hưng còi, chú khinh binh trong trung đội thám báo, nó chỉ kịp la to “Chết” rồi xô Hoành té văng xuống ruộng trước khi một loạt AK nổ chát chúa, ngoái nhìn lên sau khi té thì anh đã thấy Hưng Còi hứng đủ những viên đạn của thằng VC nấp trong hầm. Tất nhiên thằng VC này cũng tiếp nhận khoảng 30 viên M16 do đồng đội của Hưng. Không còn nói được điều gì, Hưng chỉ ngáp ngáp mấy cái rồi đi. Hoành cũng nhận ra mình đã mất luôn cả cái cảm giác tức “điên người,” và thất vọng chán nản khi thượng cấp đã không hiểu, rầy la anh vô lý. Và, Bây giờ chỉ còn nỗi thèm, thèm được nghe một cấp chỉ huy nào đấy gọi la oang oang trong máy truyền tin để được sùng , được giận và cuối cùng thì mấy thằng “vịt con” được hưởng những bực tức nóng mặt ấy. Chẳng bao giờ còn có lại nữa – tất cả đã mất. Như đã mất thằng Tuệ – Những thằng Út ghẻ, Hai gạc nai, Minh Vồ. Những người đã từng dựa lưng nhau quyết đấu với tử thần tàn nhẫn, với nanh vuốt của ác quỷ. Nay thì hết thật rồi, chỉ còn lại dĩ vãng u uẩn. Hoành cũng đã mất (dù đang còn sống) sống mà như đã chết thì sá gì cái kiếp bọt bèo xiêu tán nơi đất khách. Thân còn đấy mà hồn đã phiêu du.


Vài giọt mưa lạc lõng trên nóc nhà, không gian đục và lạnh. Hoành thấy mình đang mệt mỏi kinh khủng, hơi thở nặng, nhọc nhằn, dã dượi như vừa làm việc gì quá sức. Hoành vơ cả bốn tấm hình coi theo thứ tự. Cái thứ nhất “Tuệ cải lương” với hai tay cong gần như hình chữ C. Chân trái còn lại khúc trên đầu gối, chứng tích của nguyên một trái 75 ly nổ gần – nó không chết, tàn phế vối kiếp lê la trên lề đường ngôi chợ huyện – Bình Chánh – nơi nó đã trải mấy năm dài săn giặc, cùng bạn bè. Trước cái mẹt bày mấy củ khoai môn, mấy trái chuối nấu -Ông quan của quân lực VNCH thuở nào giờ thế này à? Ruồi bu kiến bám cuộc đời mày hả Tuệ?! Hoành quăng mạnh bốn tấm hình vào góc phòng. Coi làm gì nữa nỗi thảm đã bày cả ra đấy. Gục xuống bàn, Hoành úp mặt trên hai bàn tay, bất động thật lâu, cố xóa đi bóng dáng thằng bạn nằm chết mắt mở trừng trừng. Vài người lính cũ ghé vai, góp sức chung nhau lo đám táng, dìu lưng bà mẹ già tiễn con, đưa đàn anh ra nghĩa địa.
 
Bình Chánh, ngày 12 tháng 10, 19..


Kính thưa anh Hoành. Em là thằng Tân heo và thằng Vinh lé, là tà lọt và là đứa mang máy cho anh hồi đó, không biết anh còn nhớ không? Riêng hai đứa em thì thật là vui và và buồn. Trời còn thương nên xui khiến cho em gặp được chị Phượng vợ anh Vân ở TÐ 35/ BÐQ trước kia tại bến xe đò miền Tây. Chị ra xe đi Mỹ Tho để thăm, cùng ăn Tết với bà con bên chồng – lời chị nói. Hôm ấy tình cờ em cũng về Chợ Lớn để tìm mua mấy cái đồ nghề sửa xe đạp và mua cho vợ con em mỗi đứa cái áo cái quần “sida” gọi là có đo mặc tết với người ta cho đỡ tủi. Chị Phượng sống gần nơi anh đang cư ngụ tại Mỹ quốc. Trước khi kể rõ sự tình, xin anh cho em gởi lời hỏi thăm tất cả các ông thày, đến những bạn bè cũ của em nếu họ sống gần anh bên bển. Kế đến, em xin hết lòng cám ơn anh, đã nhớ đến đứa em “tà lọt” ngày xưa, anh đã gởi tiền về cho em ba chục dollar do chị Phượng trao lại. Em chia cho thằng Vinh lé mười đồng vì nó cũng là đệ tử của anh và đang cùng em mò cua bắt ốc ở Bình chánh.


“Trời ơi!” Hoành bật lên thành tiếng kêu: “Tôi có nhớ đến chúng nó đâu, bao lâu nay tôi chưa bao giờ gởi ai về cho chúng nó được một đồng. Vậy mà viết thư cám ơn nữa chứ.”


Tại bến xe, em thấy chị Phượng từ trên xe du lịch bước xuống, nhìn thấy quen, em hỏi đại, chẳng dè lại đúng. Em hỏi thăm anh, các ông thày. Chị Phượng cũng vui và nhận ra “thằng tà lọt của ông Thiên Lôi.” Chị chỉ kịp nói vài câu vì gấp gáp quá, chị đưa cho em ba chục, biểu của anh gởi về cho. Sau đó chị mua vài thứ, rồi lên xe du lịch đi Mỹ Tho.


Thưa anh, phần em thì cũng không có gì đáng nói, dẫu sao em cũng còn đầy đủ tay chân, đi lại dễ dàng, hơn nữa em nhờ được phước đức ông bà cho em con vợ nó buôn rau, bán cá vậy mà cũng đắp đổi qua ngày, chỉ tội thằng Vinh lé, cụt một giò, chơi cẳng gỗ, nó theo em đi dặm cù tôm càng và cá bống dừa trong lòng những con kinh vùng Bàu cò Láng Le, kinh Lưỡng quyền, rạch Thày thuốc, kinh Sáng Cụt,… Có bữa thằng nhỏ hụt chân sao đó, té chúi nhủi, uống no nước sình. Nó khóc hoài anh ạ, vì vợ con nó bỏ đi kinh tế mới Dak-Nông mấy năm rồi chẳng thấy tin tức gì, đi tìm thì nó cũng chẳng đào ở đâu được tiền để mà đi, coi như thất tung rồi anh ơi! Nghĩ cũng còn hên cho em, trước khi lên xe chị Phượng có cho em địa chỉ của anh và của “chỉ” nên hôm nay mới có thư này gởi đến anh.


Phần chúng em như thế cũng đã đủ, bây giờ em xin gởi đến anh, các ông thày, các thẩm quyền một tin buồn: Anh Tuệ, ông đại úy hồi đó các anh vẫn kêu là Tuệ cải lương đó, ổng đã chết rồi. Tội nghiệp ổng lắm anh ạ. Từ năm 1978, anh Tuệ theo mấy đứa tụi em về sống tại chợ Ðệm, Bình Chánh, chắc anh còn nhớ Chợ Ðệm chứ, mấy đứa tụi em ở bên này sông, đối diện với quán cô Ðào. Anh Tuệ về với tụi em từ hồi đó mà vẫn chưa có hộ khẩu anh ạ. Xin hoài vẫn tạm trú với lý do còn chờ xác minh lý lịch. Ðời sống của anh Tuệ cơ cực lắm, hai tay bị cán giá vì mảnh đạn 75 ly trúng xương cùi chỏ, teo gân, thêm nữa, chỉ còn một giò thì đâu có làm được cái gì, chúng em bu lại giúp ảnh bằng cách để anh đi bán giấy số cũng hỏng hết vì ổng ngồi một chỗ. Không người mua, đành phải chuyển nghề, mua chuối, khoai môn, khoai lang… nấu lên cho ổng ngồi bán, ảnh không phải xuất vốn, bán xong mới trả, gặp ngày Trời mưa thì tụi em phải ăn phụ với ảnh thấy mụ nội. Chị Tuệ thì đi làm đổi công, cắt cỏ, gặt thuê tùy theo mùa. Có một thằng con trai duy nhất đi theo Phục Quốc, bị bắt đi cải tạo từ hồi đó, bây giờ cũng lặng thinh. Bặt tin, chết chắc rồi anh ạ! Xui tận mạng, cái khốn nạn đeo theo anh Tuệ sát sạt. Ðã thế hàng tháng anh phải lên ủy ban nhân dân xã trình diện và khai báo việc làm đã qua. Rồi cuối năm ngoái, đúng ngày 23, ngày ông Táo về trời mà nhà chẳng có một cái gì để lo cúng kiếng và vì không có người mướn đi làm, không có tiền nên chị đã ra đồng, đào ếch, bắt lươn. Ðến trưa rồi chiều cũng chẳng thấy “chỉ” về. Em và thằng Vinh lé, Út ghẻ đi tìm chị giùm anh Tuệ, thì thấy chị nằm chết gần bờ kinh Sáng Cụt. Rắn Hổ đất mổ chị ấy chết. Chôn vợ xong, anh Tuệ hóa đá, hóa gạch anh ạ, có khi mấy ngày không nói một câu. Ðụng đến thì nổi cộc, văng tùm lum, ngay cả với má ảnh, bà cũng bị ảnh gây gổ. Tội nghiệp bà cụ, thương con cứ khóc hoài. Và, có lẽ quẫn trí sau bữa lên ủy ban nhân dân xã về, ảnh ngồi hút thuốc rê liên tu, miệng nói lảm nhảm. “Ð. mẹ tụi mày, đ. má lũ bay kiếp sau tao sẽ thanh toán chúng mày. Bọn bay sẽ phải trả cái nợ này cho tụi tao. Hãy để đấy mai mốt trả nợ cho cha chúng mày nghe các con!!” Rồi khuya hôm đó, nghe tiếng la khóc chói lói bên nhà, tụi em chạy qua, vào tới nơi thì ảnh đã đi rồi, Nguyên ly xây chừng thuốc rầy thì ông Trời cũng không cứu được nữa. Anh ấy đi lúc đó vào khoảng 11 hay 12 giờ khuya gì đó em không nhớ rõ.


Anh Hoành ơi, dẫu gì thì hương hồn anh Tuệ cũng còn được an ủi, chúng em đã hè nhau lại góp nhặt để lo cho anh Tuệ về nơi an nghỉ cũng gọi là êm đẹp, kể cả sau đó chừng sáu bẩy tháng thì má anh TUỆ cũng qua đời. Chúng em cũng lo cho bà cụ được tươm tất anh ạ.


Thư đã dài, viết nhiều bưu điện cân nặng, tốn tiền tem lắm anh ạ, xin anh thông cảm cho em. Nếu nói cho đủ thì quyển tập 100 trang cũng chưa hết anh ạ.


Chúc anh chị, gia quyến vui mạnh.


Chúc các thẩm quyền và các bạn em phát đạt.


Sau đây là địa chỉ của em: Võ Văn Tân (heo)


Số nhà 125/72/5. Tổ dân phố 16. Ấp Chợ Ðệm, xã Tân Kiên, huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh. VN


Hoành xếp lá thư làm bốn, kẹp cả bốn tấm hình lại, bỏ vô phong bì. Anh nói một mình


Tuệ, phải chi tao nhớ đến mày, hoặc có đứa nào nhắc mày cho tao nhớ. Phải chi thỉnh thoảng tao gởi về cho mày mấy chục dollar, nếu không có, tao đi vận động xin bạn bè giúp đỡ thì có thể mày chưa “đi” đâu nhỉ. Tao đang tự rủa sả chính mình đây Tuệ ơi! Ở nơi này cho dù có nghèo khổ, có thiếu thốn thì cũng đâu có cơ cực khốn nạn như đời chúng mày nơi quê nhà. Vậy mà tao đã quên mất những thằng bạn, những thằng em một thời gian khổ vui buồn có nhau. Ừ, nếu tao chỉ ráng thôi thỉnh thoảng gửi về cho chúng mày một chút quà nhỏ, vài chục dollar, nhất là vào những ngày cuối năm thì may ra mày vẫn còn sống, thằng Út ghẻ, thằng Vinh lé hay thằng Tân heo dẫu gì cũng có được một hai ngày vui, phải không? Thôi đành, tao chửi thề số phận đây. Hãy yên nghỉ nơi cõi trời thênh thang chẳng còn no đói làm phiền lụy đến mình nữa Tuệ nhé! Coi vậy mà mày hơn tao đó Tuệ, không day dứt, không hận thù, không đớn đau cho thân phận trôi dạt nơi đất người như tao. Tháng ngày ấp ủ nỗi cô quạnh như những ngày gợi là Xuân như lúc này.


(Xuân lưu lạc quê người)

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT