Nguyễn Tiến Hưng
(Trích dẫn từ cuốn sách Khi Ðồng Minh Nhảy Vào)
Nay
“Hoa Kỳ sẽ tiếp tục thực hiện những hoạt động tự do hàng hải… Phần tôi chỉ có thể nói rằng Ðệ Thất Hạm Ðội đã sẵn sàng. Chúng tôi có sức mạnh lớn lao và sẵn sàng để thực sự hành động nội trong khoảnh khắc, bất cứ lúc nào khi được thông báo.”
Ðây là tuyên bố của tư lệnh Hạm Ðội Thái Bình Dương, Ðô Ðốc Scott Swift vào ngày 19 tháng 2, 2016 (sau Tết Bính Thân) khi Trung Quốc lên án Hoa Kỳ có hành động khiêu khích vì đã cho chiến hạm tên lửa USS Lassen vào sát bãi ngầm Subi và những đảo khác trong nhóm Trường Sa, rồi chiến hạm Curtis Wilbur tiến tới dưới 12 dặm cách Hoàng Sa. Năm 2014 khi Trung Quốc có những hành động khiêu khích ở Hoàng sa, Scarborough, Kinsaku thì Hoa Kỳ chỉ kêu gọi, hô hào các bên tranh chấp nên giải quyết vấn đề một cách hòa bình. Nhưng từ đó, Mỹ đã có những tuyên bố ngày càng rõ ràng hơn về Biển Ðông, nhất là về tự do hàng hải, hàng không. Tới 2016 thì Mỹ bắt đầu có những hành động cụ thể.
Tại sao như vậy? Ðó là vì Trung Quốc đã bắt đầu đe dọa quyền lợi của Mỹ một cách trực tiếp. Trong bài trước chúng tôi có đề cập sơ qua tới Huấn Lệnh NSC 124, một tài liệu tái xác định Huấn Lệnh NSC 64. Nơi đây chúng tôi tóm tắt vắn gọn tài liệu ấy để bình luận về chiến lược ngày nay của Hoa Kỳ.
Huấn Lệnh NSC 124
Ngày 13 tháng 2, 1952
Phân tích:
1. Hậu quả của việc Cộng Sản Trung Hoa (ngày trước gọi là “Red China”) thôn tính Ðông Nam Á là điều đe dọa cho chính nền an ninh của Hoa Kỳ…
2. Tình huống này sẽ làm cho các quốc gia khác càng tin rằng sự bành trướng của Cộng sản là điều không thể ngăn chận được nữa…
3. Sự sụp đổ của Ðông Nam Á về lâu về dài sẽ rất khó cho Hoa Kỳ ngăn chận được Nhật Bản khỏi đi theo khối Cộng Sản.
4. Ðông Nam Á, đặc biệt là Malaysia và Indonesia là nguồn tiếp liệu chính của thế giới về cao su và thiếc. Việc các quốc gia phương Tây được sử dụng cũng như việc ngăn chận khối Liên Sô không được sử dụng những nguyên liệu này luôn luôn là vấn đề quan trọng, đặc biệt là khi chiến tranh xảy ra.
5. Việc Cộng Sản kiểm soát được số gạo thặng dư ở miền này sẽ làm cho Liên Xô có được một khí giới kinh tế mạnh mẽ để áp lực đối với các nước khác.
6. Indonesia là nguồn dầu hỏa thứ hai và càng trở nên quan trọng khi các cường quốc Âu Châu không sử dụng được nguồn dầu tại Trung Ðông.
7. Việc Cộng Sản cai trị Ðông Nam Á sẽ làm cho các lực lượng thù địch kiểm soát được những hệ thống hải vận và không vận trực tiếp giữa miền Tây Thái Bình Dương, Ấn Ðộ và miền Cận Ðông. Khi có chiến tranh xảy ra, và khi Trung Quốc có tầu ngầm và những căn cứ không quân ở vùng này thì bắt buộc các đường chuyển vận hàng hải và hàng không của Hoa Kỳ và đồng minh phải đi vòng thật xa…
Như vậy, ta thấy có bốn khía cạnh của quyền lợi Hoa Kỳ. Nó bao gồm – theo thứ tự quan trọng:
• An ninh quốc phòng của Hoa Kỳ (điểm 1);
• Bảo vệ tuyến giao thông quan trong nhất (điểm 7);
• Vai trò lãnh đạo và ảnh hưởng của Hoa Kỳ (điểm 2 và 3); và
• Tài nguyên chiến lược ở vùng Biển Ðông (điểm 4, 5 và 6).
Thứ nhất, an ninh quốc phòng
Biên giới lãnh thổ của Hoa Kỳ ở Miền Tây là Thái Bình Dương. Bởi vậy chắc chắn Mỹ sẽ can thiệp bằng quân sự nếu Trung Quốc có bất cứ hành động nào trực tiếp đe dọa (hay Washington coi là đe dọa) lãnh thổ của mình (dù là lục địa hay hải đảo như Honolulu, Guam, Wake) hay tài sản của Hoa Kỳ, thí dụ như bắn vào chiến hạm hay máy bay của Mỹ. Thêm vào đó là đe dọa những nơi có sự hiện diện của Lục-Không-Hải Quân Hoa Kỳ như biên giới Bắc và Nam Hàn, Okinawa, Subic Bay, Clark Airfield, và mới đây là Darwin (Úc) hay một ngày nào cũng có thể là cả Cam Ranh. Còn nếu như TQ xung đột quân sự với những quốc gia có Hiệp Ðịnh Quốc Phòng Song Phương với Hoa Kỳ (có thể gồm cả Ðài Loan vì “Taiwan Act 1979”) thì đó là đe dọa an ninh Hoa Kỳ một cách gián tiếp. Cả trực tiếp, cả gián tiếp đều đòi hỏi Mỹ phải hành động, nhưng tầm vóc của hành động sẽ khác nhau.
Thứ hai, bảo vệ trục giao thông quan trọng nhất
Những tuyến lưu thông ở trên biển hay trên không ở vùng Biển Ðông được liệt vào quyền lợi quan trọng nhất của Hoa Kỳ. Như đề cập trong bài trước, ngay từ năm 1950 Tổng Tham Mưu Mỹ đã xác định tầm quan trọng chiến lược của Ðông Nam Á vì “Về vị trí, nó nằm ngay giữa những trục giao thông quan trọng nhất.” Cho nên: “Việc Cộng Sản chiếm phần lục địa Ðông Nam Á sẽ làm cho các lực lượng thù địch kiểm soát được những hệ thống hải vận và không vận giữa miền Tây Thái Bình Dương, Ấn Ðộ và Cận Ðông.”
Ngày nay những tuyến giao thông hải vận và không vận còn quan trọng hơn trước nhiều, vì thứ nhất, khối lượng buôn bán quốc tế đã quá lớn trong khung cảnh toàn cầu hóa, tới hai phần ba của thương mại hải vận là qua những tuyến giao thông của vùng này; thứ hai, sự có mặt của hải lực mạnh mẽ của Trung Quốc ngày càng gia tăng, sẽ đe dọa sự vận chuyển hàng hóa thương mại sắp phát triển qua Hiệp Ðịnh Ðối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) do Mỹ khởi xướng (không bao gồm Trung Quốc). Ngày 17 tháng 7, 2015, Ðô Ðốc Scott Swift (lúc đó chỉ mới nhậm chức được hai tháng) đã khẳng định: “Tuy tôi không đứng về phe nào, nhưng sẽ đẩy mạnh các hoạt động để đảm bảo tự do hàng hải trong vùng tranh chấp và các nơi khác.”
Thứ ba, khía cạnh chính trị: vai trò lãnh đạo của Hoa Kỳ
Hoa Kỳ luôn quan tâm tới vai trò lãnh đạo của mình. Ngày 2 tháng 5, 1950 (sau bản Ghi Nhớ ngày 10 tháng 4, 1950 đề cập trong chướng trước) Bộ Tổng Tham Mưu còn trình bày thêm về điểm thứ 7: “Vai trò lãnh đạo Thế Giới Tự
Do của Hoa Kỳ đã đặt trách nhiệm lớn lao cho chúng ta phải huy động được sức mạnh của thế giới tự do để ngăn chận cộng sản bá chủ thế giới.” Trong chiến tranh Việt Nam, các văn bản về chính sách thường nhắc tới điểm chiến lược quan trọng này. Ngày nay vai trò ấy đang bị Trung Quốc quyết tâm thay thế, như cuốn sách “Cuộc Chạy Ðua 100 Năm” (The Hundred – Year Marathon) do chuyên gia nổi tiếng về Trung Quốc Michael Pillsbury vừa xuất bản năm 2015 đã tiết lộ:
“Trung Quốc có kế hoạch 100 năm để thay thế Mỹ trong vai trò siêu cường của thế giới vào năm 2049 (năm kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng Hòa NDTQ). Và từ 40 năm qua (từ khi Nixon-Kissinger mở cửa Bắc Kinh) Trung Quốc đã ru ngủ giới lãnh đạo Mỹ.”
Vì vậy, bây giờ Mỹ bắt buộc phải thay đổi chiến lược để ‘xoay trục về Á Châu,” một chủ để chúng tôi sẽ đề cập sau.
Thứ tư, tài nguyên chiến lược ở vùng Biển Ðông
Qua sự tiến bộ khoa học để sử dụng và khai thác tài nguyên cũng như nhờ thương mại toàn cầu hóa, Hoa Kỳ không còn quan tâm nhiều tới nguồn tiếp liệu tài nguyên (như cao su, thiếc, dầu hỏa) ở Ðông Nam Á. Tuy nhiên một trong những mục tiêu chính của Trung Quốc hiện nay là nắm được tiềm năng dầu hỏa ở Hoàng Sa và Trường Sa, cho nên Hoa Kỳ cũng không muốn cho Trung Quốc lấy được nguồn dầu lửa lớn lao ở vùng này. Tuy nhiên chắc chắn rằng dầu lửa sẽ không phải là lý do để Mỹ can thiệp quân sự với Trung Quốc.
Kết luận
Năm 1949 quân đội ông Mao chiếm trọn lục địa, Washington báo động và Huấn lệnh NSC 48/1 ra đời. Trong bối cảnh ở Biển Ðông ngày nay, rất có thể là một huấn lệnh mới, tương tự như NSC #48/1 cũng đã được chấp thuận. Nơi đây chúng tôi nhắc lại tài liệu này cùng với những nhận xét để bình luận vì sao như vậy?
Huấn Lệnh NSC 48/1 (30/12/1949)
1. Mục tiêu căn bản để bảo vệ an ninh của Hoa Kỳ gồm ba yếu tố:
– “Phát triển sức mạnh quân sự cho đầy đủ ở một số quốc gia chọn lọc.”
Nhận xét: từ vài năm nay Mỹ bắt đầu tập trung phát triển sức mạnh quân sự ở một số quốc gia chọn lọc: Nhật Bản, Phi Luật Tân, Úc, Singapore, Ðại Hàn (Nam Triều tiên); để
– “Dần dần giảm đi thế lực đang lớn mạnh và ảnh hưởng của Trung Cộng… làm sao để nó không còn khả năng đe dọa an ninh của Hoa Kỳ và đồng minh của Hoa kỳ tại khu vực này.”
Nhận xét: tuy không tuyên bố rõ ràng nhưng đây chính là mục tiêu quan trọng nhất của Hoa Kỳ tại Á Châu.
– “Ðồng thời ngăn chận bất cứ liên minh quyền lực nào (Liên Xô-Trung Quốc) có thể đưa tới sự đe dọa an ninh Hoa Kỳ phát xuất từ khu vực này, hoặc đe dọa hòa bình, độc lập và ổn định của những nước khác ở Á Châu.”
Nhận xét: ngày nay, không những Hoa Kỳ mà cả thế giới rất lo ngại về sự nguy hiểm của trục quyền lực Trung-Xô đang phát triển mạnh. Về kinh tế thì Nga đã ký kết những hiệp ước thương mại với Trung Quốc (thí dụ như bán $456 tỷ dầu khí – ký tháng 5, 2014). Về quân sự thì Nga đã bán cho Trung Quốc những giàn hỏa tiễn tối tân S-400, máy bay khu trục Su-35 và sẽ có cả loại tầu ngầm mới nhất “The Amur 1650.” Năm 2014, Chủ Tịch Tập Cận Bình và Tổng Thống Vladimir Putin đã gặp nhau 5 lần. Năm 2015 thì có thể là cũng khoảng đó. Cho nên, chắc chắn rằng Mỹ đã có nhiều chuẩn bị về chiến lược để “ngăn chận liên minh quyền lực Trung-Xô” thí dụ như Mỹ cộng tác quân sự với các quốc gia sở tại (như nhận xét ở điểm 3 dưới đây), và tăng cường liên minh Mỹ-Ấn Ðộ.
2. Những hành động cần thiết gồm:
– “Yểm trợ những lực lượng Không Cộng Sản ở Á Châu để họ lấy thế chủ động.”
Nhận xét: Hoa Kỳ đang yểm trợ và viện trợ quân sự cũng như kỹ thuật quốc phòng cho nhiều nước Á Châu kể cả Việt Nam.
– “Sử dụng ảnh hưởng của mình để thúc đẩy quyền lợi riêng của Hoa Kỳ.”
Nhận xét: yểm trợ, viện trợ không bao giờ là cho không, nó luôn được dùng để thúc đẩy quyền lợi của quốc gia cấp viện trợ, (thí dụ như khi Mỹ-Trung bắt tay nhau vào năm 1972 thì quyền lợi của Mỹ ở Việt Nam không còn nữa, cho nên toàn bộ viện trợ quân sự và phần lớn viện trợ kinh tế cho VNCH đã bị cúp hết chứ không phải chỉ vì Watergate làm mất quyền hạn của tổng thống nên Quốc Hội Mỹ chấm dứt viện trợ như ông Kissinger biện luận). Ngày nay, vì Trung Quốc đã thu vén về cho mình quá nhiều quyền lợi cả về kinh tế, tài chính, chính trị lẫn quân sự, Mỹ bắt buộc phải có những hành động hiệu quả để thúc đẩy quyền lợi riêng của mình.
– “Khởi xướng những hành động như thế nào để cho nhân dân Á Châu thấy những hành động ấy hấp dẫn và phù hợp với quyền lợi của chính mình, và sẽ ủng hộ.”
Nhận xét: đứng trước sự đe dọa của Trung Quốc khổng lồ, nhân dân Á Châu chỉ còn trong nhờ vào Mỹ vì chỉ có nước này mới đủ sức đối đầu với Trung Quốc (như chính Thủ Tướng Anh David Cameron đã nhận xét). Cuộc tập trận đổ bộ giữa Mỹ và Ðại Hàn lớn nhất từ trước tới nay đã diễn ra từ ngày 12 tháng 3, 2016 tại hải cảng Pohang với 17,200 binh sĩ, 55 máy bay và 30 chiến hạm. Sáng ngày 13 tháng 2, hàng không mẫu hạm USS John C. Stennis tới hải cảng Busan dẫn đầu 3 khu trục hạm tên lửa USS Stockdale, USS Chung-hoon và USS William P. Lawrence, và tuần dương hạm USS Mobile Bay. Tư lệnh lực lượng Mỹ nhấn mạnh: hành động này thể hiện cam kết “vững chắc” của Hải Quân Mỹ đối với Ðại Hàn. Cùng với những cuộc tập trận cỡ lớn sắp diễn ra từ tháng 5, 2016 giữa Mỹ-Nhật, Mỹ-Ấn, nhân dân Á Châu sẽ thấy rõ hơn những hành động của Mỹ là hấp dẫn và phù hợp với quyền lợi của chính mình, và sẽ ủng hộ.
3. Thiết lập một chính sách của Hoa Kỳ về Á Châu:
– “Hoa Kỳ phải tỏ rõ sự tán thành đối với những cố gắng của lãnh đạo các nước Á Châu để họ thành lập liên minh cho từng vùng giữa những quốc gia Không Cộng Sản tại Á Châu. Hoa Kỳ sẽ chuẩn bị để khi cần đến và được yêu cầu thì sẽ sẵn sàng yểm trợ những liên minh này theo điều kiện về quyền lợi của Hoa Kỳ… nhưng không quá vội vàng lộ liễu trong giai đoạn đầu để khỏi mang tiếng là dùng các nước Á Châu để phục vụ quyền lợi của mình.”
Nhận xét: trong những năm vừa qua, Hoa Kỳ luôn tán thành và một cách tế nhị, khích lệ các liên minh như Nhật Bản-Phi Luật Tân; Nhật Bản-Ðại Hàn; Nhật Bản-Việt Nam; Phi Luật Tân-Việt Nam, v.v… và cộng tác về quân sự với các quốc gia trong những liên minh ấy. Không những Hoa Kỳ đã tăng cường yểm trợ quân sự với một số quốc gia Á Châu như Nhật, Ðại Hàn, Phi Luật Tân, Indonesia, Singapore, Việt Nam, mà còn cả với Úc và Ấn Ðộ. Gần đây nhất, ngày 23 tháng 2, 2016, có tin Trung Quốc lên án việc Mỹ sắp thiết lập một hệ thống Phòng Không ở ngay Ðại Hàn.
– “Về chính sách kinh tế, phải cổ võ những yếu tố đóng góp vào ổn định chính trị của các quốc gia không cộng sản bằng… một chính sách ngoại thương tự do với Á Châu và khích lệ nhập cảng hàng hóa Á Châu.”
Nhận xét: từ việc Mỹ tham gia vào tổ chức APEC (Asia-Pacific Economic Community) chỉ như một thành viên tới việc Mỹ phát triển ngoại thương mại thật nhanh với các nước ASEAN (Association of Southeeast Asian Nations) và ngày nay Mỹ mất nhiều công phu để đứng ra thành lập TPP, (một khuôn khổ kinh tế, thương mại rất rộng lớn), tất cả là để phát triển ngoại thương tự do với Á Châu (qua mặt TQ).
Tiếng Pháp có câu: “Plus ca change, plus ca revient au même” – “càng thay đổi nhiều thì lại càng giống nhau.” Nhìn xa hơn, rất có thể là trước hay sau năm 2019 (20 năm trước hạn chót 2049: kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc và là thời điểm Trung Quốc dự tính thay thế Mỹ trong vai cường quốc số một) rất có thể là Bắc Kinh cũng sẽ có những hành động quân sự mạnh mẽ với tầm cỡ như như năm 1949. Cho nên ta mới hiểu tại sao trong hai năm qua, lãnh đạo quân sự Mỹ luôn nhấn mạnh một điều: “Tới năm 2020 thì 60% hải lực của Mỹ đã được điều động về Thái Bình Dương rồi?”

































































