Nguyễn Tiến Hưng
(Trích dẫn từ cuốn sách Khi Ðồng Minh Nhảy Vào)
Hawaii là một hải đảo thần tiên. Trời xanh, nước trong, cát trắng. Ðây là thiên đàng của du khách, của các cặp tình nhân, và những tuần trăng mật. Xa xa, có những chiếc du thuyền bồng bềnh. Gần bờ, từng lớp thanh niên nhịp nhàng lướt sóng.
Một nơi như vậy mà tại sao tình báo Hoa Kỳ lại nói là có Cộng Sản nằm vùng! Quốc Hội Mỹ phải quan tâm ngay. Thám tử ‘Big Jim’ vừa to con vừa nhiều tài được gửi tới để truy nã. Ðó là cốt truyện của cuốn phim “Big Jim McLain” do Hollywood dựng lên, và tài tử chính là John Wayne. Cuốn phim được chiếu vào thời điểm phong trào chống cộng ở nước Mỹ lên tới tột điểm vào đầu thập niên 1950. Lúc ấy ở Âu Châu, Nga Xô đang tung hoành, ở Á Châu thì Cộng Sản đang thắng thế. Sau khi Mao Trạch Ðông chiếm trọn lục địa Trung Quốc, Bắc Hàn liền tấn công Nam Hàn, rồi quân đội của ông Mao nhảy vào tiếp sức. Lực lượng Liên Hiệp Quốc chới với, dẫn tới việc Tướng Mỹ McArthur quyết định phản công mạnh. Ông còn muốn đánh thẳng luôn Trung Quốc, nhưng không được phép và còn bị thay thế. Mãi tới năm 1953, chiến tranh Triều Tiên mới được kết thúc, nhưng chỉ bằng một hiệp định đình chiến, không phân thắng bại. Khi nào không có chiến thắng rõ ràng thì nhân dân Hoa Kỳ rất bất mãn. Làm sao mà một nước đại cường đã thắng trận vẻ vang trong Thế Chiến II, bây giờ lại bị lép vế như vậy đối với Trung Quốc, một nước nghèo đói, lạc hậu ở bên Á Châu?
“Cộng Sản nằm ngay trong nhà chúng ta”
Thượng Nghị Sĩ Joseph McCarthy đã có câu trả lời. Chẳng phải vì Cộng Sản mạnh mẽ gì đâu, ông biện luận, nhưng chính vì có những kẻ phản quốc ở ngay trong chính phủ Mỹ đã giúp cộng sản thắng thế. “Từ những cuộc bán đứng ở Yalta cho tới sự thất bại của Mỹ ở Triều Tiên,” là do có những kẻ làm ô nhiễm chính sách ngoại giao và an ninh của Hoa kỳ.” McCarthy đã khởi xướng một phong trào chống Cộng hết sức rộng rãi. “Kẻ thù đang nằm ngay trong nhà chúng ta,” ông cứ nhất quyết, và phải đưa chúng ra ngay để trừng trị nếu ta muốn ngủ cho yên. McCarthy không chỉ nói miệng, ông đã đưa ra ngay một “danh sách những người Cộng Sản hoặc thân Cộng” gồm tới 57 nhân viên trong Bộ Ngoại Giao và Bộ Quốc Phòng. Sau đó, danh sách này còn tăng lên tới 200. Nổi tiếng nhất là vụ khởi tố một nhân viên Bộ Ngoại Giao tên là Alger Hiss. Vụ này rất sôi nổi và Hiss đã bị kết án.
Trong bầu không khí ấy, người anh hùng Thế Chiến II, Tướng Dwight Eisenhower đã đại thắng trong cuộc bầu cử Tổng Thống năm 1952. Tuy tiền nhiệm của ông là hai tổng thống Roosevelt và Truman có tính cách thế thủ: lo ngại về sự lớn mạnh của Cộng Sản. Còn lập trường của TT Eisenhower lại có tính cách thế công: phải ngăn chận sự bành trướng ấy một cách rõ ràng và vững chãi.
Con cờ Ðôminô
Trong Chương 3, khi phân tích Huấn Lệnh NSC 64, chúng tôi có bàn tới nguồn gốc Thuyết Ðôminô, nhưng người dùng hai chữ này chính là TT Eisenhower: “Nếu để một nước mất đi thì tất cả những nước khác sẽ nằm xuống như một hàng con cờ đôminô,” Tổng Thống Eisenhower tuyên bố năm 1954 khi ông nói về sự cần thiết phải bảo vệ Miền Nam Việt Nam. Câu tuyên bố nổi tiếng này từ đó trở thành “Thuyết Ðôminô.”
Sau thất bại Ðiện Biên Phủ, Ngoại Trưởng Dulles cố nhìn vào một khía cạnh tích cực.
“Bây giờ chúng ta lại có được một căn cứ sạch sẽ ở đó (Việt Nam), không còn bị hoen ố vì mầu sắc thực dân nữa: Ðiện Biên Phủ là một sự may mắn trá hình.” (Now we have a clean base there (Vietnam), without the taint of coloniasm. Dien Bien Phu is a blessing in disguise).
Hiệp Ðịnh Geneva vừa ký xong Tháng Bảy, 1954 thì các hoạt động của Hoa Kỳ tại Miền Nam đã bắt đầu trở nên mạnh mẽ ngay trong Tháng Tám, 1954. Cùng một ngày Tòa Ðại Sứ thông báo cho chính phủ Việt Nam về việc Hoa Kỳ yểm trợ chuyển vận đoàn người di cư từ Bắc vào Nam, cơ quan Cố Vấn Quân sự Mỹ tại Saigon hoàn thành một báo cáo dài ghi “Công điện 3024 – Ngày 8 Tháng Tám, 1954” gửi về Bộ Ngoại Giao để tường trình cho chính phủ kết quả của một cuộc nghiên cứu về vai trò của Hoa Kỳ đối với tương lai của miền Nam Việt Nam. Mục đích của báo cáo là: “Hoạch định toàn bộ những hoạt động, gồm cả chính trị, tâm lý, quân sự, và kinh tế để Hoa Kỳ có thể áp dụng nhằm bảo đảm cho Miền Nam được tồn tại là một quốc gia tự do, đồng thời giúp củng cố đất nước này thành một hàng rào vững chắc để ngăn chận sự bành trướng của Cộng Sản.” Sở dĩ có thể tiến hành như vậy là vì “Hoa Kỳ sẽ tự giải thích Hiệp Ðịnh Geneva theo ý mình để được được hoàn toàn tự do liên lạc với quốc gia Việt Nam.”
Thất bại Ðiện Biên Phủ đe dọa trầm trọng an ninh Hoa Kỳ
Gần hai tuần sau báo cáo này, Hội Ðồng An Ninh Quốc Gia lại có một huấn thị để “Duyệt lại chính sách của Hoa Kỳ ở Ðông Nam Á.” Phân tích những hậu quả của việc Pháp bại trận tại Ðiện Biên Phủ, huấn thị nhận xét rằng “thắng lợi của Cộng Sản tại Hội Nghị Geneva đã đưa tới những hậu quả trầm trọng đe dọa nền an ninh của Hoa Kỳ tại Ðông Nam Á và làm tăng sức mạnh của Cộng Sản tại đó.” Theo sự nhận xét của tài liệu rất dài này, những lý do đưa tới tình trạng như trên đây được tóm tắt như sau:
Huấn thị NSC 5429/2
Ngày 20 tháng 8, 1954
Những lợi ích cho Cộng Sản:
• Sau Geneva, lực lượng Cộng Sản đã chiếm được một chỗ đứng quan trọng tại Việt Nam để từ đó làm áp lực vào những khu vực khác;
• Do việc áp dụng một thái độ có vẻ hòa nhã tại Geneva, lại được tiếng là đã ngưng chiến ở Ðông Dương, Cộng sản sẽ khai thác luận điệu cho rằng Hoa Kỳ là kẻ quá khích, là kẻ hiếu chiến; và
• Vì vậy Cộng Sản đã có được một căn bản để làm nổi bật chiêu bài “quảng bá về hòa bình,” vừa trấn an vừa giao hảo với các quốc gia ở Á Châu.
Những bất lợi cho Hoa Kỳ:
• Là một hậu thuẫn của Pháp và Bảo Ðại, Hoa Kỳ đã mất đi uy tín của mình tại Á Châu, một sự việc làm cho các chính phủ nơi đây nghi ngờ thêm nữa về sự lãnh đạo cũng như khả năng của Hoa Kỳ trong công cuộc ngăn chận sự bành trướng của Cộng Sản tại Á Châu;
• Rồi đây, uy tín của Hoa Kỳ chắc chắn sẽ còn lệ thuộc thêm vào những việc gì sẽ xảy ra cho Ðông Nam Á trong tương lai;
• Vì uy tín của Cộng Sản về quân sự cũng như chính trị đã tăng, nên họ chỉ cần khai thác những yếu kém của các quốc gia tự do ở Á Châu là có thể tăng thêm ảnh hưởng mà không cần phải dùng tới những biện pháp quân sự;
• Ngoài ra, nếu để Ðông Nam Á sụp đổ thì sẽ khó mà giữ được nước Nhật tiếp tục đóng vai trò then chốt tại các quốc gia hải đảo.
Bởi vậy, huấn lệnh cho rằng Hoa Kỳ phải có ngay những biện pháp thích ứng và tổng thể để đối phó với thực trạng này.
Viện trợ thẳng cho Miền Nam dù Pháp phản đối
Như vậy là đã đến lúc Hoa Kỳ phải ra tay làm mọi biện pháp cần thiết để củng cố một Miền Nam Tự Do vì nó dính liền với quyền lợi của Hoa Kỳ. Việc quan trọng cần làm ngay là phải tăng cường sự có mặt của Hoa Kỳ, và liên lạc ngoại giao trực tiếp với chính phủ Saigon mà không còn phải đi qua trung gian chính phủ Pháp nữa.
Sự việc này được Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ thông báo cho bộ trưởng Quốc Phòng ngay. Ngày 26 Tháng Tám, 1954, Thứ Trưởng Bedell Smith viết cho Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng Charles E. Wilson: “Như ngài biết, tổng thống đã chấp thuận một văn bản gửi thủ tướng Pháp thông báo rằng từ nay Hoa Kỳ sẽ cung cấp viện trợ cần thiết cho ba quốc gia Ðông Dương một cách trực tiếp thay vì qua ngả trung gian của Pháp.”
Ðược tin Hoa Kỳ sắp viện trợ thẳng cho chính phủ Saigon, Pháp rất bất mãn, nhưng vì còn cần viện trợ nên cũng phải điều đình để khỏi làm phật lòng Mỹ. Vào thời điểm ấy, quân đội Pháp rút từ Bắc vào vẫn tiếp tục đóng tại Miền Nam, viện cớ là Pháp còn phải bảo đảm cho việc thi hành Hiệp Ðịnh Ðình Chiến và tổ chức tổng tuyển cử trên toàn lãnh thổ vào hè 1956.
Tại cuộc họp quan trọng hậu Geneva giữa Pháp và Mỹ tại Washington từ ngày 27 tới 29 Tháng Chín, 1954, Pháp cố thuyết phục chính quyền Eisenhower cứ tiếp tục tài trợ cho Quân đội Viễn chinh Pháp, và nhất định phản đối việc Mỹ viện trợ thẳng cho chính phủ Việt Nam. Pháp đưa bốn lý do ra để thuyết phục Mỹ:
• Nếu Mỹ viện trợ thẳng cho Miền Nam là vi phạm Hiệp Ðịnh Geneva;
• Làm như vậy là khiêu khích Trung Quốc;
• Viện trợ là đưa cơ hội tham nhũng cho người Việt Nam; và
• Những hy sinh của Pháp giúp cho chính phủ Miền Nam cũng như những ràng buộc của Miền Nam là một thành viên trong Liên Hiệp Pháp đòi hỏi việc phải để cho Pháp quản trị viện trợ.
Trước sự chống đối của Pháp, Mỹ tìm kế hoãn binh, tránh né. Mỹ còn cho Pháp cái cảm tưởng là sẽ có thể chấp nhận những lý do mà Pháp đưa ra. Làm như vậy là để cho Pháp vui lòng và đồng ý ủng hộ và trao trả hoàn toàn thẩm quyền về dân sự cho chính phủ Miền Nam. Pháp yên tâm rằng mình sẽ tiếp tục nhận được viện trợ Mỹ. Có ngờ đâu, chỉ một tháng sau cuộc họp Washington, ngày 29 Tháng Mười, Ngoại trưởng Dulles bất chợt nói thẳng với Thủ Tướng Pháp Mendès-France rằng: “Chỉ một mình chính phủ Hoa Kỳ quản lý viện trợ cho Miền Nam.”
Bước ngoặt của bang giao Việt-Mỹ
Ngoại Trưởng Dulles nói như vậy vì trước đó, ngày 1 Tháng Mười, 1954, Tổng Thống Eisenhower đã gửi cho Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm một bức thư thông báo lập trường hoàn toàn mới của Hoa Kỳ. Thư này là một bước ngoặt, đánh dấu gần 20 năm Hoa Kỳ trực tiếp hỗ trợ cho Miền Nam:
White House
Ngày 1 Tháng Mười, 1954
Kính gửi Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm
Kính thưa Thủ Tướng,
“Tôi đã theo dõi hết sức chăm chú những tiến triển tại Việt Nam, đặc biệt là từ sau khi kết thúc hội nghị Geneva… Và chúng tôi đã khảo sát những phương thức để viện trợ của Hoa Kỳ cho Việt Nam được hữu hiệu hơn và có thể đóng góp nhiều hơn nữa cho thịnh vượng và ổn định của Việt Nam.
“Bởi vậy, tôi đã chỉ thị cho đại sứ Mỹ ở Việt Nam để xem xét với ngài, với tư cách ngài là lãnh đạo của Chính phủ, làm sao để một chương trình của Hoa Kỳ viện trợ thẳng cho chính phủ của ngài để có thể yểm trợ được Việt Nam trong giờ phút thử thách này.
“Mục đích của chương trình này là để hỗ trợ cho chính phủ Việt Nam trong công cuộc phát triển và duy trì một quốc gia hùng mạnh, vững bền, đủ khả năng chống lại những phá hoại và tấn công bằng võ lực.
“Chính phủ Hoa Kỳ mong đợi cho chương trình này được chính phủ Việt Nam đáp ứng lại bằng việc áp dụng những biện pháp cải thiện cần thiết. Hoa Kỳ hy vọng rằng viện trợ này sẽ được kết hợp với những cố gắng tiếp tục của Ngài để đóng góp đắc lực vào việc xây dựng một nước Việt Nam độc lập và một chính phủ mạnh mẽ…
Trân trọng
Dwight D. Eisenhower
Ðây là văn kiện lịch sử được liệt vào hàng quan trọng nhất vì về sau này các chính phủ TT Kennedy và TT Johnson đều trích dẫn văn thư này làm nền tảng cho chính sách viện trợ cho Miền Nam: nó đã được bắt đầu ngay từ thời TT Eisenhower.
“Ta phải lao vào”
Kết thúc năm 1954, ngày 24 Tháng Mười Hai, sau khi TT Eisenhower đã có lập trường dứt khoát, Ngoại Trưởng Dulles gửi một thông điệp cho cả Ðại Sứ Collins ở Saigon và Ðại Sứ Dillon ở Paris. Tóm tắt về tình hình nội bộ, ông Dulles khẳng định rằng, “Tuy Việt Nam Tự Do phải đương đầu với nhiếu vấn đề phức tạp và khó khăn, nhưng không có lý do nào ta phải chấp nhận sự thất bại.” Tại sao lạc quan ? Ông đưa ra năm lý do:
-Trong thời gian là năm tháng kể từ Hiệp định Geneva, tình hình tại Miền Nam đã không tới chỗ tan rã;
-Dân chúng căn bản là chống Cộng;
-Miền Nam có những tài nguyên lớn lao;
-Vấn đề Tướng Hinh đã được giải quyết ổn thỏa;
-Công cuộc định cư tiến hành khá tốt đẹp; và
-Trên một số phương diện, tình hình còn tiến triển tốt đẹp hơn là tiên đoán.
Ông kết luận rằng:
“Ðầu tư vào Việt Nam là đúng lý, dù chỉ là để mua thêm thời gian giúp xây dựng sức mạnh ở những nơi khác trong vùng, trừ phi nước Việt Nam Tự do rõ ràng không còn hy vọng gì và tan rã mau chóng, chúng ta không có lựa chọn nào khác hơn là tiếp tục viện trợ và ủng hộ ông Diệm, vì không có nhà lãnh đạo nào khác xứng hợp hơn.”
Chọn ngày để nhảy vào: 1 Tháng Giêng, 1955
Phân tích như vậy xong, vào ngày 29 Tháng Mười Hai, trong một buổi họp cao cấp tại Bộ Ngoại Giao, ông ngoại trưởng đã đi tới kết luận là Mỹ phải can thiệp trực tiếp. Ông còn chọn ngày để bắt đầu:
“Chúng ta phải tiến tới như đã dự định, và ta phải lao vào (take the plunge), bắt đầu từ ngày 1 Tháng Giêng, 1955.”
Như vậy là đồng minh Hoa Kỳ đã thực sự sát cánh kề vai với Miền Nam Tự Do. Ngoài vấn đề chính trị, kinh tế, vấn đề quân sự là quan trọng nhất trong thời điểm mới.
Vào đúng ngày ấy (1 Tháng Giêng, 1955), Pháp thỏa thuận là Mỹ sẽ chính thức đảm trách công tác huấn luyện quân đội Việt Nam.
Ngày 12 Tháng Hai, Tướng O’Daniel được chính thức trao cho trách nhiệm huấn luyện quân đội Việt Nam và một “Phái Ðoàn Huấn Luyện và Ðào Tạo” có tên là “TRIM” (Training Relations and Instruction Mission) được thiết lập và hoạt động ngay. Từ cuối 1954, ngoài trung tâm của các cố vấn quân sự nằm trên đường Gallieni (Trần Hưng Ðạo), các cơ sở của những cơ quan USOM (Viện trợ Kinh Tế) USIS (Sở Thông Tin Hoa Kỳ) được xây dựng rải rác khắp nơi từ Saigon tới các đô thị lớn. Hoạt động ở những địa điểm này hết sức nhộn nhịp. Phòng Thông Tin Hoa Kỳ là một địa điểm được các anh em học sinh, sinh viên chúng tôi lui tới thường xuyên, lúc nào cũng đông đúc, vui vẻ. Nơi đây, không những có máy lạnh mát rượi, địa điểm rất hiếm hoi thời đó, lại còn đầy đủ sách báo để người đọc làm quen với nền văn hóa và lịch sử của Hoa Kỳ. Ðặc biệt có báo “Thế Giới Tự Do” với nhiều hình ảnh hấp dẫn về những phong cảnh ở Mỹ cũng như tại các quốc gia tự do ở Á Châu. Những hình ảnh này thường được lồng vào những bài bình luận hấp dẫn về vai trò của miền Nam Việt Nam.
Khi xem hình ảnh về Saigon, ít khi ta thấy nói tới cái tên cũ của nó là “Hòn Ngọc của Á Châu.” Bây giờ nó đã trở thành thủ đô của một nước mới và kèm theo một tên mới, đó là: “Tiền Ðồn Của Thế Giới tự Do.”

































































