Nguyên Huy/Người Việt
GARDEN GROVE, California (NV) – Ðại Việt Quốc Dân Ðảng sẽ làm lễ ra mắt tân hội đồng lãnh đạo đồng thời kỷ niệm 77 năm thành lập, vào lúc 1 giờ chiều Chủ Nhật, 20 Tháng Mười Một, tại Garden Grove Community Center.
Theo ông Trần Trọng Ðạt, chủ tịch Ðại Việt Quốc Dân Ðảng cho biết, trong dịp này ban tổ chức sẽ tuyên đọc quyết nghị của đảng trước tình hình Việt Nam hiện nay.
Sau đó, sẽ có một buổi lễ tuyên dương các đảng viên và cơ sở đảng xuất sắc trong công tác.
Cũng trong dịp này, các vị quan khách, đại diện các tổ chức, đảng phái trong cộng đồng sẽ phát biểu những cảm nghĩ về hoạt động của Ðại Việt Quốc Dân Ðảng trong quá trình lịch sử cận đại Việt Nam.
Những người phát biểu sẽ bao gồm ông Nguyễn Văn Tạo, hội trưởng Ban Trị Sự Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Hòa Hảo Hải Ngoại; kỹ sư Lê Thành Nhân, chủ tịch Hội Ðồng Chấp Hành Trung Ương Việt Nam Quốc Dân Ðảng; ông Lê Hồng Thanh, tổng bí thư Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Ðảng (Dân Xã); và Giáo Sư Phạm Cao Dương. Ngoài ra, Tiến Sĩ Nguyễn Văn Lương sẽ thuyết trình về đề tài “Kinh Tế Là Chính Trị.”
Sau phần thuyết trình là một chương trình văn nghệ với sự đóng góp của nhiều tiếng hát được ưa thích trong cộng đồng.
Ðại Việt Quốc Dân Ðảng là một đảng chính trị hình thành năm 1939 trong bối cảnh đất nước đang chịu sự tủi nhục dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Cũng trong thời gian này, thế giới chuyển biến vì các mâu thuẫn quyền lợi và ý thức hệ. Trước tình hình đó, một tập thể thanh niên, một số là các sinh viên đại học Hà Nội, cùng nhau thề nguyền, kết hợp và quyết tâm đưa dân tộc ra khỏi cảnh suy vong. Một thanh niên tài trí và có đức hạnh là Trương Tử Anh được các đảng viên tín nhiệm bầu ra để viết và công bố Chủ Nghĩa Dân Tộc Sinh Tồn, đồng thời thành lập Ðại Việt Quốc Dân Ðảng và được bầu làm đảng trưởng.
Ngay sau đó, Ðại Việt Quốc Dân Ðảng đã tiến hành ngay công tác tổ chức đảng. Vì sinh hoạt đảng thường trong khuôn viên đại học Hà Nội, nơi quy tụ nhiều sinh viên thuộc ba miền Bắc Trung Nam, nên đảng đã tổ chức được ngay các xứ bộ Bắc, Trung, và Nam và cả tại Cambodia và Lào nữa.
Sau đó, trong tình hình sôi động của đất nước trước việc quân đội Nhật chiếm đóng và lấn chân Pháp dần dần, đảng đã thiếp lập được một số căn cứ quân sự tại ba miền Việt Nam như chiến khu Kép, Lạc Triệu, trường Lục Quân Yên Bái, chiến khu Di Linh, An Ðiền Thủ Ðức, Vĩnh Long (Chiến khu An Thành và Ba Rài)… Khi Cộng Sản giành được chính quyền năm 1945, Hồ Chí Minh đã phản bội sự liên hiệp của các đảng phái quốc gia đưa quân đi tiêu diệt những cứ điểm của Ðại Việt Quốc Dân Ðảng.
Sau Hiệp Ðịnh Geneva 1954, Việt Nam bị chia đôi, miền Nam dưới quyền của chính phủ Ngô Ðình Diệm, Ðại Việt Quốc Dân Ðảng cũng trở thành đối tượng bị tiêu diệt, nên các chiến khu Ba Lòng (Quảng Trị), chiến khu Nguyễn Huệ (Tuy Hòa), và chiến khu Châu Ðốc lần lượt bị phá tan.
Trên mặt trận chính trị, Ðại Việt Quốc Dân Ðảng cũng thành lập những mặt trận để tăng cường sự đoàn kết chống giặc ngoài và giặc trong. Mặt trận đầu tiên là Mặt Trận Quốc Dân Ðảng qui tụ được những đảng phái quốc gia như Việt Nam Quốc Dân Ðảng, Ðại Việt Dân Chính.
Thứ đến là Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp liên kết với Phật Giáo Hòa Hảo và Cao Ðài Bến Tre và một số nhân sĩ trí thức miền Nam như Hồ Văn Ngà, Dương Văn Giáo, Hồ Vĩnh Ký, Lâm Ngọc Ðường…
Năm 1947, Ðại Việt Quốc Dân Ðảng với các đảng viên Ðặng Văn Sung, Nguyễn Tôn Hoàn, Lê Thăng đã tiếp xúc được với cựu hoàng Bảo Ðại, tiến hành một giải pháp mới cho chính tình Việt Nam lúc bấy giờ, đó là giải pháp Bảo Ðại để thành lập Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam.
Trên mặt trận quần chúng, Ðại Việt Quốc Dân Ðảng tổ chức được những đoàn thể yêu nước đóng góp vào sự xây dựng đất nước vừa chống Pháp vừa chống Cộng Sản đội lốt Việt Minh Kháng Chiến như Ðoàn Thanh Niên Bảo Quốc, Phong Trào Quốc Gia Bình Dân, Mặt Trận Tư Tưởng Văn Hóa…
Với chủ trương “Dân Tộc Sinh Tồn,” mà đảng trưởng Trương Tử Anh nêu ra, Ðại Việt Quốc Dân Ðảng đã hoạt động không ngưng nghỉ, khi công khai, lúc bí mật, tùy theo tình hình khi Pháp còn cai trị, khi Cộng Sản giành được chính quyền và chủ trương tiêu diệt các đảng phái quốc gia và ngay cả khi chính phủ quốc gia trong nền Ðệ Nhất Cộng Hòa, các đảng phái cũng không được phép hoạt động. Sau biến cố 30 Tháng Tư, 1975, một số đảng viên của đảng thoát hiểm ra được nước ngoài, đã nhanh chóng kết hợp lại được với nhau để tiếp tục cùng nhau vận động tuổi trẻ Việt Nam dấn thân vào việc cứu nước trước tham vọng bành trướng của Trung Quốc và sự hèn mạt của nhà cầm quyền CSVN.







































































































































