GS Nguyễn Khắc Hoạch: ‘Thơ phải mới… mà nghề sư phạm lại sợ cái mới’

Viên Linh

1- Ðã nhiều lần lắm tôi muốn viết về thơ văn và con người nhà thơ Trần Hồng Châu mà chỉ có dịp nhắc đến ông từng đoạn, từng lúc, để rồi thời gian qua đi, một hôm lật lại cuốn lịch sách cũ, bỗng hoang mang: sao nhanh thế, vừa mới hôm nào… Cuốn lịch sách ấy ghi tên nhiều danh sĩ, từ trên xuống dưới và chạy hàng ngang có Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: XII 1585, Dương Bá Trạc: XII 1944, Dương Quảng Hàm XII 1946, Trần Trọng Kim: XII 1953,… và Nguyễn Khắc Hoạch XII 2003. Sao nhanh thế, đã hơn một con giáp từ ngày ông nằm xuống. Mà tôi vẫn còn nhớ hình dáng và nhất là vẻ mặt cởi mở và phong thái khoan thai nhẹ nhàng của ông như những ngày nào, kể cả những ngày ở tòa soạn tạp chí Thế Kỷ Hai Mươi đặt tại nhà in Tín Ðức Thư Xã ở đường Tạ Thu Thâu, Sài Gòn.

Ðó là những ngày giữa năm 1960, khi miền Nam cùng một lúc đón nhận sự xuất hiện của ba tờ tạp chí văn chương qui tụ những cây bút tên tuổi: Sáng Tạo [bộ mới, tục bản, (1)], Hiện Ðại, và Thế Kỷ Hai Mươi, tờ sau này đề giám đốc là Nguyễn Cao Hách và chủ trương biên tập là Nguyễn Khắc Hoạch.
[(1).- Không phải tự nhiên mà Sáng Tạo đột ngột tục bản vào tháng 7.1960: Thế Kỷ Hai Mươi quảng cáo từ trước: sẽ ra mắt vào tháng 7.1960. Tạp chí Sáng Tạo số 1 ra mắt tháng 10.1956, hiện diện được 31 số, số 31 đề tháng 9.1959, rồi ngưng gần một năm, nhưng đã vội tục bản vào cùng tháng 7.1960 với Thế Kỷ Hai Mươi. Chính tờ tạp chí sau này đã khiến Mai Thảo cho tờ báo của mình sống lại, ra được 7 số thì ngưng vĩnh viễn].

Là khoa trưởng Ðại Học Văn Khoa Sài Gòn, Giáo Sư Nguyễn Khắc Hoạch đã dễ dàng mời được các vị khoa bảng và các cây bút tên tuổi cộng tác với ông, như Thanh Lãng, Nguyễn Văn Trung, Doãn Quốc Sỹ, Nguyễn Sỹ Tế, Phạm Duy, Ðinh Hùng, Thanh Tâm Tuyền, Cung Trầm Tưởng, Trần Lê Nguyễn, Tô Thùy Yên, Võ Phiến, v.v… Song điểm đặc biệt của tờ báo không phải ở điểm đó, mà ở khuôn khổ lớn, hai ba phụ bản màu trên giấy tốt của Thái Tuấn, Duy Thanh, Ngọc Dũng, và trả nhuận bút cao. Chỉ trong hai ba số báo, Thế Kỷ Hai Mươi có ngay chỗ đứng xứng đáng của nó và người chủ trương biên tập đã chuyển tới đích bản thông điệp đằm thắm mà hài hòa của mình, nhưng không thiếu phần cứng rắn, là “sinh hoạt văn nghệ hậu chiến ở Việt Nam (1954-1960) còn nghèo nàn, buồn tẻ,” tình trạng ấy là trách nhiệm chung của cả giới sáng tác lẫn giới thưởng ngoạn, cho nên tất cả đều cần đóng góp phần của mình. Ông viết trong bài tham luận mở đầu tờ báo, ngay nơi trang 1, nhan đề “ Ði vào đoạn đường hôm nay:”

Các bạn…, các bạn văn nghệ…, không riêng gì những người làm văn nghệ mà còn tất cả những người yêu và thưởng thức, những người tiếp nhận văn nghệ, chúng tôi muốn nhấn mạnh lên tính cách …của vai trò [độc giả] đó… Không riêng gì Nguyễn Du đã sáng tạo Ðoạn Trường Tân Thanh mà, cùng với Nguyễn Du, Phạm Quý Thích, Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Khuyến, Mộng Liên Ðường chủ nhân, Kiều Oánh Mậu,… những người đọc, tất cả đã xắn tay áo nhào nặn thành bộ mặt hiện đại của Ðoạn Trường Tân Thanh. Các kiến trúc sư và điêu khắc gia tạo nên tòa giáo đường vĩ đại, vút thẳng lên trời xanh thành một lời cầu nguyện siêu hình, nhưng nếu không có những đoàn người mộ đạo từ muôn nẻo lại, dâng hương và quí gối mòn thềm tiền điện thì có lẽ cả tòa giáo đường nọ chỉ còn là một đống đá vô hồn…

Văn chương tham luận viết như thế, ở bài khó nhất của tờ báo là bài Phi Lộ, đương nhiên không phải văn chương của một vị chủ bút không thôi, mà trở thành văn chương nói chung, văn chương toàn diện. Tôi từng viết trong một bài nho nhỏ nào đó nay không kịp tìm ra, là thơ văn của tác giả Trần Hồng Châu bát ngát nắng vàng và nước xanh Ðịa Trung Hải, ở đó không gian và con người cùng gió cát ào ạt sức sống. Ông là một tác giả độc đáo của văn học Việt Nam, hòa trộn Ðông Tây trong thơ văn, cảm và nghĩ cùng trên một trang giấy, một dòng chữ. Văn chương cần sinh khí đã đành, luận thuyết cũng phải bừng lên sinh khí, nếu không chỉ là những kiến thức tuy là đáng quí, song khô cứng, từ đó mà không vào được tâm hồn người, nhất là những người tuổi trẻ.

Bìa tờ Thế Kỷ Hai Mươi năm 1960, chủ trương Nguyễn Khắc Hoạch. (Hình: Viên Linh cung cấp)
Bìa tờ Thế Kỷ Hai Mươi năm 1960, chủ trương Nguyễn Khắc Hoạch. (Hình: Viên Linh cung cấp)

2- Nhà thơ Trần Hồng Châu ngoài đời là Giáo Sư Nguyễn Khắc Hoạch, sinh năm 1921 trong một gia đình Nho học tại đồng bằng sông Hồng, thời niên thiếu sống ở Huế, sau là sinh viên Ðại Học Ðông Dương, đã có bài đăng trong số báo Tết của Tổng Hội Sinh Viên Việt Nam tại Hà Nội năm 1945. Sau ông du học Pháp, tốt nghiệp tiến sĩ Ðại Học Sorbonne, trước 1975 từng giữ chức khoa trưởng Văn Khoa Ðại Học ở Sài Gòn, đồng thời là chủ bút tạp chí Thế Kỷ Hai Mươi. Sau 1975 kẹt lại tới 15 năm trước khi cùng gia đình xuất ngoại, tới định cư ở California. Ông làm thơ, viết văn nhiều hơn trước, công tác thường xuyên với tạp chí Khởi Hành. Trước khi mất, ông là viện trưởng Viện Việt Học tại California. Ông mất ngày Chủ Nhật, 7 Tháng Mười Hai, 2003 tại Garden Grove, thọ 83 tuổi.

Tác phẩm Trần Hồng Châu: Thành Phố Trong Hồi Tưởng, tùy bút, An Tiêm 1991. Nửa Khuya Giấy Trắng, thơ, Thanh Văn 1992. Nhớ Ðất Thương Trời, thơ, Thế Kỷ 1995. Hạnh Phúc Ðến Từng Phút Giây, thơ, Văn Học 1999. Dăm Ba Ðiều Nghĩ Về Văn Học Nghệ Thuật, tiểu luận, Văn Nghệ 2001.Suối Tím, thơ và đoản văn, Văn Nghệ, 2003.

Trần Hồng Châu làm thơ nhiều hơn viết văn. Nhân Khởi Hành tổ chức họp mặt sau 3 năm hiện diện, chủ nhiệm chủ bút tờ báo có phỏng vấn ông về đề tài “tác giả tác phẩm bạn đọc,” sau đây là câu trả lời của ông.

Trần Hồng Châu (trả lời phỏng vấn của Viên Linh):

“Về tác giả, tôi nhớ cuộc đối thoại của nhà thơ Brosky (giải Nobel Văn chương) với một cán bộ tuyên truyền Cộng Sản. Cán bộ hỏi anh làm nghề gì để sinh sống, Brosky nói là tôi là thi sĩ. Cán bộ nói thi sĩ là cái quái gì. Ðó là cái nghề gì?

Khi bước vào thơ, chúng ta rất sợ. Không có cái gì làm chúng ta run sợ bằng thơ hết tất cả. Khi viết bất cứ cái gì, chúng ta không sợ, mà khi bước vào thơ, ta rất sợ. Bởi vì dù sao đi nữa thì Thơ là tinh túy của ngôn ngữ. Ðó là kinh nghiệm bản thân của tôi. Trong suốt cuộc đời dậy học, luôn luôn phải mổ xẻ và phân tích, bây giờ thì tôi đã bão hòa về lý thuyết. Tôi cứ để tự tôi theo cái dòng cảm xúc, thế thôi.

Làm thơ là phải tìm cái mới. Mà nghề sư phạm người ta lại sợ cái mới. Cho nên là phải trả giá.

Ðiểm thứ nhì là tuy xuất thân từ một gia đình Nho học, tôi lại đi học trở thành ông Ðồ Tây, nên bị giằng co giữa hai nền văn hóa Ðông Tây. (Nhà thơ Trần Hồng Châu ngoài đời là Giáo Sư Nguyễn Khắc Hoạch, tốt nghiệp tiến sĩ Ðại Học Sorbonne, Pháp, nhưng ông đôi khi vẫn làm thơ chữ Hán). Dù sao thì trong bản chất, trong thâm tâm, tôi vẫn là một ông Ðồ Ta. Cho nên ngoài cái giằng co kia, lại có cái giằng co giữa các yếu tố văn hóa của hai nền văn hóa Ðông phương và Tây phương để làm sao đi đến một tổng hợp hài hòa.

3- Vào Tháng Năm 1999, nhà thơ Trần Hồng Châu hiện ra ở cửa tòa báo, trên lầu hai khu Bolsa Shopping Center ở khúc nối dài mang tên First Street, thuộc Santa Ana. Anh mang theo một lá thư viết sẵn, phòng hờ không gặp tôi thì để lại, nhưng may mắn lúc ấy tôi có mặt. Thư có kèm theo một tài liệu cắt ra từ nhật báo, tường thuật những cuộc tàn phá các di tích lịch sử của đất nước đang diễn ra khắp nơi ở trong nước. Anh đề nghị “đầu bếp Viên Linh” phải đặt vấn đề trên tờ báo. [Ngoài nhà thơ, một vài vị khác cũng đã giúp tôi nhiều tài liệu, hay ý kiến, về các vấn đề văn học nghệ thuật cũ mới, có dịp sẽ trình bày sau, đặc biệt trong có ông Trần Bình. là vị chủ nhiệm tuần báo Ðời Mới khoảng 1954-55, kế vị chủ nhiệm tiên khởi Trần Văn Ân, đã trao cho tôi một xấp bài đánh máy thời máy vi tính chữ Việt chưa có dấu].

Hãy thưởng thức một bài thơ ngắn của Trần Hồng Châu (thơ ông phần lớn mỗi bài dài hai hoặc ba bốn trang, rất ít khi kiếm được một bài ngắn như bài này).

Tôi Ði Trên Những Cầu Kiều

Tôi đi trên những cầu kiều
Từng con phố nhỏ quạnh hiu trong lòng

Bâng khuâng mây trắng xây thành
Từng cơn nhung nhớ bên mành nhớ nhung

Cầu xưa vua đắp còn đây
Cầu em dải yếm cũng gầy tương tư

Tôi đi trên những cầu kiều
Từng nơi hò hẹn tiêu điều dấu chân
Ngậm ngùi vạt áo Hà Ðông
Một con bướm trắng bên sông hững hờ

Cầu xưa lá rụng tơi bời
Cầu tôi đuôi mắt mấy trời đam mê

Tôi đi trên những cầu kiều
Từng hồn thu cũ bóng chiều chưa phai
(Hạt Cát Biển Ðông thi tập, trang 34)

Thăm nhà Ông Trần và làng bè Long Sơn

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT