Hoa Kỳ không của riêng ông Trump mà cũng là ‘quê hương tôi’
Bùi Văn Phú
[Tác giả Bùi Văn Phú hiện dạy đại học cộng đồng ở vùng Vịnh San Francisco. Ông có nhiều năm dạy học ở Châu Phi và làm tham vấn giáo dục cho Cao Ủy Tị Nạn ở Đông Nam Á. (BBC)]
Khi Donald Trump lên làm tổng thống Mỹ từ đầu năm 2017, rõ ràng ông có chủ trương giới hạn di dân vào Hoa Kỳ, dù bất hợp pháp hay hợp pháp: Vừa nhận chức một tuần, ngày 27 Tháng Giêng, 2017, ông ký sắc lệnh cấm không cho vào Mỹ công dân từ 7 quốc gia có đa số dân theo Hồi Giáo là Sudan, Iran, Iraq, Yemen, Syria, Libya và Somalia. Lệnh đó được thi hành ngay lập tức nên đã gây phản ứng mãnh liệt trong dư luận và đã bị nhiều tổ chức bảo vệ dân quyền cũng như cơ quan pháp lý tiểu bang khiếu kiện và sau đó đã không còn được thi hành vì không hợp hiến.
Mấy tháng sau Tổng Thống Trump lại ký một sắc lệnh mới, cũng ngăn cấm không cho vào Mỹ công dân từ 6 quốc gia Hồi Giáo, như sắc lệnh đầu tiên tuy có bớt khắt khe hơn và bỏ Iraq ra khỏi danh sách. Trump cũng muốn hủy bỏ các chính sách về di dân trước đây, như DACA là một sắc lệnh của Tổng Thống Barack Obama cho trẻ em vào Mỹ không hợp pháp được gia hạn ở lại nếu đang theo đuổi con đường học vấn để hội nhập.
Cùng lúc Trump thúc đẩy các quốc gia nhận lại những công dân của họ đến Mỹ mà phạm luật, trong đó có Việt Nam, dù hai nước vào năm 2008 đã ký thỏa thuận không trao trả những ai đến Mỹ sau ngày Washington và Hà Nội nối lại bang giao, 12 Tháng Bảy, 1995. Trong thực tế một số người Việt có án hình sự, bất kể đến Mỹ vào lúc nào cũng bị trả về Việt Nam.
Chính sách giới hạn di dân vào Mỹ được chính quyền Trump triển khai nhiều mặt, từ xây tường biên giới, bỏ chương trình xổ số thẻ xanh cho đến cắt giảm số người tị nạn được nhận: Năm 2017 có 33 nghìn người và năm 2018 hơn 22 nghìn người được Mỹ nhận cho định cư theo qui chế tị nạn. So với những năm trước đó là khoảng 50 nghìn người mỗi năm. Tiêu chuẩn để được vi-sa định cư ở Mỹ giờ được ưu tiên hơn cho những ai có trình độ học vấn cao, có nghề chuyên môn và khả năng Anh ngữ tốt.
Sự việc di dân vượt biên giới phía Nam, từ Mexico vào Mỹ, trước đây có nhiều kẽ hở luật pháp để một người có thể bước qua biên giới mà không bị giam giữ lâu, sau đó được tự do tạm ở Mỹ trong khi chờ cơ quan chức năng cứu xét hồ sơ.
Nay việc này trở nên khắt khe hơn, ngay cả những trẻ em đi theo cha mẹ cũng bị tách khỏi gia đình, giam giữ riêng trong khi chờ cứu xét. Luật mới đã khiến nhiều gia đình có con nhỏ bị cách ly khỏi cha mẹ.
Mới đây, cựu đại sứ Ted Osius nói về “người Việt nhập cư bị trục xuất”: “Nhân dân Hoa Kỳ có nên xét lại việc làm gọi là nhân đạo của chính phủ Mỹ trong kế hoạch di tản trên 130,000 người Việt ra khỏi nước Việt Nam hay không Việc làm đó có thực sự nhân đạo hay không khi mà rất nhiều người ‘tỵ nạn’ trong hoàn cảnh gia đình ly tán vô cùng đau thương vì bị tuyên truyền đầu độc hoang mang về chính sách của chính phủ Cách Mạng Cộng Hòa Miền Nam trong khi chính sách của chính phủ tại miền Nam Việt Nam hoàn toàn cởi mở và nhân đạo.”
Ông lên án chương trình định cư người tị nạn của chính phủ Mỹ: “’Operation New Life’ là một chiếc dù vĩ đại nhằm che giấu tội ác chiến tranh tại Việt Nam, là kết quả miễn cưỡng của chủ nghĩa đế quốc và chính sách tuyên truyền, giết chóc hoang mang để bảo vệ lập trường đem chiến tranh vào Việt Nam từ mấy chục năm qua…” (!?)

Chính sách định cư mới: Chính sách mới liên quan đến cấp thẻ xanh vừa được ban hành, hiệu lực từ 15 Tháng Mười, 2019, không được hồi tố và cũng muốn loại bỏ những ai đến Mỹ mà nhận trợ cấp như welfare (tiền mặt để sinh sống), food stamps (phiếu mua thực phẩm), trợ giúp chi phí thuê chỗ ở (housing voucher) và bảo hiểm y tế của chính phủ. Tất cả những sắc lệnh của Tổng Thống Trump hay đề xuất chính sách đều nhắm mục đích giới hạn di dân vào Hoa Kỳ. Trong thời gian vận động tranh cử, ứng cử viên Donald Trump đã công khai biểu lộ không có cảm tình với thành phần nhập cư Mỹ không giấy tờ hợp pháp, khoảng 10 triệu người. Nhiều lần Trump đã phát biểu với ngôn ngữ chê bai, mạt sát di dân bất hợp pháp, đa số đến từ Mexico mà ông gọi là “đĩ điếm,” “tội phạm,” “băng đảng,” “buôn bán ma túy.” Trong không khí tranh luận về chính sách di dân của Trump, người Việt cũng có đồng thuận và phản đối, chia thành hai phía có quan điểm tương phản như Cộng Hòa và Dân Chủ của dòng chính sinh hoạt chính trị Hoa Kỳ.
Với người Mỹ gốc Việt, đặc biệt những ai đến Hoa Kỳ trong cuộc di tản khỏi Sài Gòn vào Tháng Tư, 1975, nhiều người còn nhớ dư luận Mỹ cũng đã không thiện cảm gì với người tị nạn Việt. Khi đó lãnh đạo hành pháp là Tổng Thống Gerald Ford, người của đảng Cộng Hòa, còn Quốc Hội do đảng Dân Chủ nắm đa số tại cả Thượng Viện và Hạ Viện. Theo thăm dò của Harris Poll thực hiện trong Tháng Năm, 1975 thì chỉ có37% dân chúng Mỹ ủng hộ đón nhận người tị nạn Việt Nam, 49% không ủng hộ. Tại Quốc Hội, chống đối mạnh mẽ nhất là dân cử thuộc đảng Dân Chủ, như Thượng Nghị Sĩ Joe Biden, Thượng Nghị Sĩ George McGovern, Dân Biểu Joshua Eilberg. Thống đốc tiểu bang California lúc đó là Jerry Brown cũng không muốn đón nhận người tị nạn Việt đến tiểu bang này.
Đáng chú ý là những người Việt bỏ quê hương ra đi được chính quyền Cộng Sản Hà Nội cho là thành phần ma cô, đĩ điếm, lười biếng lao động, theo đế quốc Mỹ ăn bơ thừa sữa cặn. Luận điệu này được lập lại bởi một số người Việt đến Mỹ trước năm 1975, họ là những sinh viên du học chống chiến tranh, chống Mỹ can dự vào Việt Nam. Một sinh viên du học, sau khi vào thăm trại tị nạn Camp Pendleton ở miền Nam California, đã viết trên nguyệt báo Thái Bình, tiếng nói của Hội Việt Kiều Yêu nước và là một tổ chức ủng hộ chế độ Hà Nội, xuất bản ở California, ghi nhận đời sống trại tị nạn lúc đó [Nguyễn Nguyên Phong, Thái Bình số 23-24, tháng 4 & 5, 1975]: “Những tệ nạn xã hội cũng được mang từ SG cũ theo vào trong cái ‘xã hội’ nho nhỏ này. Từ việc tắm xong ra cố tình lấy lộn quần áo người khác cho đến việc ăn cắp, dí dao vào cổ cướp đồng hồ, nữ trang cho đến nạn đĩ điếm giữa Việt và Việt, giữa Việt và Mỹ, nạn tham nhũng ở các ban điều hành mà đồng bào không ngớt kêu ca…” “Nhiều người trong trại nói họ đang ở trong một cái nhà tù, những người thăm viếng nói họ đang thăm viếng 1 cái trại giam…” “Cái viễn tượng của một đời sống tù túng về cả vật chất lẫn tinh thần không phải là cái gì xa vời. Háo hức bước ra khỏi ‘nhà tù’ Pendleton, họ có biết đâu là họ sẽ vào một trại giam lớn hơn: Mỹ.”
Người Việt rời quê hương ra đi khi chiến tranh vừa chấm dứt, lòng đầy hoang mang không biết tương lai sẽ ra sao. Các sinh viên phản chiến chống Mỹ đã vào các trại tị nạn, mang theo báo Thái Bình cho đồng hương đọc. Không biết có ai bị ảnh hưởng bởi những bài viết như trên và đã đòi hồi hương.
Khi tôi được chuyển từ trại tị nạn ở Subic Bay, Philippines đến Orote Point ở đảo Guam, vào lều gặp nhạc sĩ Trường Sa, một sĩ quan hải quân ra đi bỏ lại vợ con, với đôi mắt đỏ hoe. Ông hỏi tôi có muốn hồi hương không, tôi trả lời không. Nhạc sĩ Trường Sa đã viết trên báo Thái Bình [số 27-28, tháng 8 & 9.1975] về “Chiến Dịch Đời Sống Mới” do chính phủ Hoa Kỳ khởi xướng.
Về lại Việt Nam để vào tù: Con tàu Việt Nam Thương Tín đã đưa nhạc sĩ Trường Sa và 1,600 người hồi hương vào tháng 10/1975, để rồi tất cả bị tống vào trại tù. Ông bị giam tù gần một thập niên, sau đó ông lại vượt biển và định cư ở Canada. Người vượt biển, hay thường được gọi là “thuyền nhân” cũng không được dư luận Mỹ chào đón. Năm 1979, khi Tổng Thống Jimmy Carter, người đảng Dân Chủ, muốn tăng số người tị nạn Đông Dương được nhận định cư tại Hoa Kỳ từ 7 lên 14 nghìn người mỗi tháng thì 62% dân chúng không ủng hộ, theo một thăm dò do CBS News/New York Times thực hiện vào Tháng Sáu, 1979.
Nhìn lại con đường đến Mỹ của người Việt trong hơn bốn thập niên qua, từ di tản 1975, làn sóng vượt biên vượt biển trong hai thập niên sau đó, rồi ODP đoàn tụ gia đình, đưa con lai trở về, HO định cư tù cải tạo và gia đình, ROVR định cư người vượt biển tự nguyện hồi hương, cho đến hiện tại là định cư theo diện đầu tư, du học rồi ở lại, kết hôn với công dân Mỹ.
Có mấy người Việt nào đến được nước Mỹ, có cơ hội định cư lại muốn trở về nguyên quán?
Số người Việt tại Mỹ khởi đầu với 130 nghìn, nay lên gần hai triệu và đã đóng góp cho đời sống kinh tế, xã hội và chính trị của Hoa Kỳ. Hầu hết chúng ta đã “xin chọn nơi này làm quê hương, dẫu cho khó thương” như một câu hát quen thuộc trước năm 1975 mà nhiều người Việt còn nhớ.
Mới đây đọc tweet của Tổng Thống Trump nói với mấy dân biểu Mỹ gốc da mầu thường chỉ trích ông (có người sinh ra ở đây) rằng nếu họ không thích đất nước này thì “go back,” cút về quê hương nguồn cội.
Tôi cũng như nhiều người khác rất phẫn nộ vì đây là một câu nói mang đầy tính kỳ thị, biểu hiện tính thượng đẳng của người da trắng. Họ tưởng đất nước này là của riêng họ, trong khi lịch sử Mỹ cho thấy đây là đất nước đã được xây dựng nên nhờ di dân đến từ các châu lục.
Trong nếp sống Mỹ, hai câu nói “Go back” và “You speak good English” là mang đầy tính kỳ thị.
Khi mới qua Mỹ, trong giao tiếp nếu được một người bản xứ nhận xét mình nói tiếng Anh giỏi thì cảm thấy hãnh diện vì nó chứng tỏ mình đã học được ngôn ngữ mới khá nhanh. Bây giờ nghe ai nói thế với mình thì người đó đầu óc kỳ thị vì sau mấy thập niên ở Mỹ, trình độ ngôn ngữ và kiến thức của tôi có thể cao hơn nhiều người sinh đẻ ở đây.
Bực mình hơn nữa là khi nghe một người Mỹ thấy các con ở tuổi thành niên của mình sinh hoạt, vui đùa mà nói với chúng câu: “You speak good English.” Con cái mình sinh đẻ và lớn lên ở đây, cũng đi học như mọi người dân bản xứ thì lấy tư cách gì mà họ nói con mình giỏi tiếng Anh. Họ nhìn mầu da mà tưởng mình là di dân mới nói thế. Đất nước này là quê hương, là nơi chôn nhau cắt rún của các con tôi, của tất cả mọi người đang sống ở đây.
Ngày mới đến Mỹ, thật khó cho tôi cảm nhận được nơi này thuộc về mình, vì tiếng Anh còn kém, vì còn xa lạ với sinh hoạt đời sống, xã hội Mỹ, vì chưa hiểu nền chính trị ở đây.
Lâu dần, hội nhập vào đời sống, có nhiều hiểu biết hơn rồi có bằng công dân, có hộ chiếu Mỹ để đi làm việc, du lịch nhiều vùng đất khác trên thế giới, khi đó ta mới nhận ra Hoa Kỳ là quê hương, là nơi sẽ trở về sau những chuyến đi, dù nói tiếng Anh còn lơ lớ giọng Việt, dù vẫn ăn cơm canh mùng tơi với cà dầm mắm nhưng cũng thích hamburger, spaghetti, pizza, top dog.
Ngày mới qua Mỹ, ban ngày đi học ESL ở Berkeley Adults School, buổi tối ghi danh học “folk music”cho đỡ nhớ nhà. Có hai bài ca mà tôi còn nhờ mãi là “500 miles” nói lên tâm trạng một kẻ xa nhà và “This land is your land” nói về nước Mỹ của mọi người. Khi Tổng Thống Ronald Reagan lên làm lãnh đạo, ca khúc “God bless America” trở nên quen thuộc với tôi – có thể so sánh với “Việt Nam, Việt Nam” của Phạm Duy. Lúc đó tôi đã tốt nghiệp đại học, đã thành công dân Mỹ và hiểu biết hơn về những bổn phận và quyền lợi mà tôi đang có tất cả, chỉ không được ứng cử tổng thống Mỹ.
Nghe Trump nói “go back,” như muốn đuổi những ai không thích nước Mỹ thì cút về nguyên quán, miệng tôi lại ngân nga câu dân ca quen thuộc học được từ hơn bốn mươi năm trước: “This land is your land, this land is my land/ From California to the New York island/ From the Redwood Forest, to the gulf stream waters/ This land was made for you and me…”
Và cảm thấy yêu đất nước này hơn qua ca từ bài “God bless America”:
God, bless America, Land that I love.
Stand beside her, and guide her
Through the night with a light from above.
From the mountains
To the prairies
To the oceans white with foam,
God, bless America. My home, sweet home.
Tôi không ủng hộ Tổng Thống Trump, chứ tôi yêu quê hương này và sẽ sống chết ở đây.
(Nguồn: https://www.bbc.com/vietnamese/forum-49481771)
Những người mất gốc
Đỗ Doãn Quế
Đây là bản tự dịch từ nguyên bản Anh ngữ, “The Rootless People” đăng trong Nội San Anh Ngữ The Viets tập 3 của Hội Văn-Hóa Việt tại San José City College, số phát hành Mùa Thu năm 1997. Bài viết sau đó đã được nhà xuất bản The Burning Bush, New York, chọn in vào tuyển tập “New To North America” và được một số trường Đại Học Hoa Kỳ dùng làm tài liệu giảng huấn cho sinh viên năm thứ nhất và năm thứ hai Ban Nhân Văn trong một thời gian dài. (ĐDQuế)
Sau khi đã rời khỏi quê hương của họ (thường thường là nghèo khổ), một số người nghĩ tốt hơn hết là nên quên luôn cội nguồn gốc gác và cố chối bỏ luôn văn hóa, đôi khi cả ngôn ngữ của họ, để hòa nhập mau hơn vào môi trường mới. Hình như những người này cho rằng làm vậy họ sẽ tự động trở nên sang trọng hơn, giầu có hơn!
Nhưng than ôi! Thật không còn gì sai lầm hơn cách nghĩ và làm ấy! Thật vậy, hãy lấy nước Mỹ làm thí dụ. Hợp Chủng Quốc vĩ đại và hùng cường này là kết quả sự pha trộn của các sắc dân đến từ khắp nơi trên địa cầu. Có thể nói, sức mạnh của Mỹ Quốc luôn luôn bắt nguồn từ sự pha trộn này.
Bắc Mỹ vốn là vùng đất không có dân bản xứ. Hơn 20 ngàn năm trước, những cư dân đầu tiên tại đây là người da đỏ đến từ Á Châu. Theo chân họ là những tín đồ Thanh Giáo đến từ Anh Quốc. Rồi là những người dũng cảm từ khắp nơi trên trái đất, đã vượt thoát khỏi quê hương đau khổ vì bị áp bức của họ để đến đây vì thiết tha khao khát tự do. Mỗi nhóm người này đều mang theo nền văn hóa và văn minh riêng của họ khi tới với nước Mỹ.
Chính sự hòa nhập của các phần đóng góp quý báu này mà không ngừng cải tiến Hợp Chủng Quốc Mỹ Châu thành một sức mạnh trí tuệ vô song. Không bao giờ nước Mỹ có thể có được nền văn minh hiện nay, nếu mọi sắc dân di cư tới đây đều chối bỏ nguồn gốc và những thành tựu văn hóa riêng của họ. Vì nếu họ làm vậy thì tại đất nước này đã không có bánh pizza, hamburger, khoai tây chiên French fries, chao miên, phở, chả giò,. . . Và quốc gia này có thể vẫn là vùng đất theo kiểu những người da đỏ cũ và mới, thiên hạ có thể sẽ vẫn sống trong những túp lều lưu động làm bằng da trâu, cưỡi ngựa không yên cương và sinh sống bằng cách săn bắn với cung và tên.

Khi chối bỏ nền văn hóa riêng của họ, nhiều di dân đã hành động như thể họ đến dự một bữa tiệc Pot luck mà không đem theo món gì. Trong hoàn cảnh đó, những người dự bữa tiệc này có thể nhìn họ như những kẻ gian lận hoặc như thể họ quá nghèo khổ đến nỗi không thể có nổi một chút gì để đóng góp. Tôi thực sự không có bằng cớ nào về việc này, nhưng tôi đoan chắc rằng người Mỹ không thích thú lắm khi đón nhận những kẻ tay trắng – hiểu theo nghĩa tinh thần – vào quê hương tươi đẹp của họ.
Gạt sang một bên hình ảnh những người ngoại nhập được đề cập trên đây, hãy xét coi cách cư xử như trên của những người này có thể đem lại gì cho chính họ và con cái của họ. Tôi đã nghe một số người loại này cố dùng thứ tiếng Anh nửa vời – pidgin English – để nói với con cái của họ vì hy vọng rằng làm vậy, họ có thể trở thành Mỹ và con cái họ có thể học tiếng Anh mau hơn. Họ đâu biết việc này chỉ gây phản ứng ngược và làm hại cho con trẻ của họ.
Trước hết, không bao giờ chỉ do nói tiếng Anh, đặc biệt là loại tiếng Anh nửa vời, lại có thể biến bạn thành người Mỹ, vì ngôn ngữ không thể thay đổi được nhân dạng của bạn. Tuy y khoa và kỹ thuật học đã tiến những bước vượt bực nhưng vẫn chưa đạt tới trình độ có thể biến nhân dạng một người Á hay Phi Châu… thành ra người Mỹ trắng… Nếu đạt mức này, các bác sĩ chỉnh hình kiếm biết bao nhiêu tiền mà kể!
Thứ hai, loại tiếng Anh nửa vời của những người này sẽ tập cho con trẻ của họ những kiểu cách không thích hợp, rất hại cho việc học tiếng Anh đúng cách. Ngay việc phụ huynh muốn con em quên tiếng mẹ đẻ để dồn sức cho tiếng Anh cũng là điều bất lợi.
Nhiều cuộc nghiên cứu đã cho thấy các trẻ em nói song ngữ khi dùng tiếng mẹ đẻ ở nhà, học tiếng Anh giỏi hơn các trẻ chỉ biết nói có một thứ tiếng. Điều này không có gì khó hiểu, trẻ em nói song ngữ phải học hai lần nhiều hơn các trẻ khác để diễn tả cùng một ý kiến, điều này giúp bộ óc các em phát triển nhanh hơn. Việc nói hai hay nhiều thứ tiếng đối với trẻ em giống như việc luyện tập đối với một lực sĩ, càng tập luyện nhiều càng giỏi hơn trong việc học ngôn ngữ. Sự hiểu biết này chỉ ra rằng khi chối bỏ văn hóa bằng cách không nói tiếng mẹ đẻ ở nhà, những phụ huynh này đã tước bỏ của con cái họ một di sản quý giá mà còn làm tiêu tan cả một cơ hội học tập thuận lợi. Phương cách giáo dục sai lầm này sẽ tác hại lên trẻ em suốt cả cuộc đời chúng, các nhà bác học đã khẳng định như vậy.
Và sau cùng nhưng không kém quan trọng, là khía cạnh tình cảm của việc trở thành kẻ mất gốc. Chắc chắn việc chối bỏ ngôn ngữ văn hóa gốc của mình không hề làm cho người di dân trở thành người Mỹ, mà chỉ biến họ thành kẻ mất gốc. Khi họ và con cháu họ không nói và không thể nói được tiếng mẹ đẻ nữa thì gốc rễ của họ bị chặt đứt. Thế là một đằng thì chưa thành Mỹ, một đằng thì không còn là người của cộng đồng sắc tộc gốc, những người này giống như cánh bèo nổi trôi lềnh bềnh trên mặt nước. Bị chối bỏ bởi cả hai xã hội, những người này sẽ luôn phải tự hỏi họ là ai. Tâm trạng này gây nên những khủng hoảng tâm lý trầm trọng, thường gọi là khủng hoảng căn cước, một số trường hợp có thể đưa tới sự điên loạn.
Một người Nhật sinh trưởng tại Mỹ trong một gia đình di dân, luôn luôn tự coi anh ta là người Mỹ cho đến một hôm lũ bạn Mỹ của anh ta nói bốp vào mặt anh rằng chúng chẳng bao giờ coi anh là Mỹ cả. Bị xúc phạm nặng, anh ta bỏ về Nhật nhưng khổ thay, anh lại không nói được tiếng Nhật, thành ra cũng không được dân chúng địa phương coi là người của họ.
Cho là mình bị hạ nhục nặng nề và tuyệt vọng, người thanh niên này gần như muốn tự sát. May mắn thay, sau một thời gian cực kỳ đau khổ, chàng ta nhận ra sự sai lầm của mình. Chàng hiểu ra rằng nguyên nhân sự đau khổ chính là vì chàng đã lỡ chối bỏ cái vốn-dĩ-là-chính-mình, để đi tìm cái mà chàng không thể nào có được. Cái vốn dĩ là của chính chàng là sự thuộc về nguồn gốc Nhật, còn cái mà chàng không thể nào đạt tới là được nhìn như một người Mỹ trắng. Mặc dù chàng đã nói tiếng Anh lưu loát và không hề quan tâm tới thứ tiếng Nhật của bố mẹ, nhưng hình dạng của chàng vẫn không hề thay đổi. Vậy tại sao chàng không chấp nhận sự thật chàng là một người Nhật sinh tại Hợp Chủng Quốc? Ở vị thế này chàng có lợi thế là nếu muốn, có thể trở thành một nhịp cầu giúp cho hai xứ sở hiểu biết nhau tốt hơn. Tại sao chàng lại phải chối bỏ văn hóa và ngôn ngữ của mình, trong khi đó là một trong những nền văn hóa đẹp nhất trên thế giới? Từ đó chàng nhận thức được rằng chàng phải học ngôn ngữ, văn hóa Nhật và đạt được trình độ cao nhất để có thể là “cây cầu thông cảm” giữa hai dân tộc. Hiện nay, chàng vẫn đang tiếp tục học hỏi nghiên cứu ngôn ngữ văn hóa nguồn gốc chính của mình; và thay vì chán nản như trước đây, bây giờ chàng tự hào về mình và có tinh thần rất cao.
Những di dân tị nạn đừng tưởng là họ sẽ được quý trọng nếu họ cố bắt chước người Mỹ. Trái lại, dân chúng của xứ sở này chỉ trọng nể những người biết gìn giữ văn hóa riêng của họ và dùng nó như một phần đóng góp vào sức mạnh trí tuệ của Hợp Chủng Quốc.
Người ta kể rằng vào thế kỷ thứ 7, khi bị người Ả Rập đánh bại, một số người Parsi (thuộc một giáo phái thờ thần lửa ở Ba Tư) thà đành rời bỏ quê hương còn hơn phải sống dưới nanh vuốt quân thù. Sau cuộc hải hành dài từ Vịnh Ba Tư, tàu của họ dạt vào bờ biển Ấn Độ. Nơi đây vị hoàng đế địa phương cử một vị đại thần ra bờ biển thay mặt ngài chào đón họ. Những thuyền nhân này xin được phép tị nạn chính trị tại đây nhưng vị đại thần đại diện nhà vua đã khoan thai rót trà vào một cái ly cho đầy tới mí và nói: “Tách trà này là hình ảnh của bổn quốc, nó đã quá đầy rồi, quý vị cũng thấy nó không thể nhận thêm người nữa cũng như cái tách này không thể nào nhận thêm nước vì nó hết chỗ chứa.”
Nghe vậy, vị thủ lãnh thuyền nhân người Parsi nhanh nhẹn nhúm vài hạt đường bỏ vào tách trà rồi nói: “Cũng giống như những hạt đường này, chúng hòa tan vào trong tách trà của ngài và làm cho nó ngọt ngào hơn, người tị nạn chúng tôi sẽ không chiếm nhiều chỗ trong quý quốc nhưng chúng tôi sẽ làm cho nó hùng mạnh hơn, tươi đẹp hơn, hấp dẫn hơn.” Những thuyền nhân Parsi sau cùng được chấp thuận cho định cư tị nạn.
Chúng ta hãy tự hỏi việc gì sẽ xẩy ra nếu vị lãnh tụ thuyền nhân chỉ bỏ vào tách trà vài hạt cát vô vị hay ngay cả một nhúm trà giống như thứ đã có sẵn trong tách trà? Cả hai thứ này đều không đem lại gì mới lạ cho tách trà, không hề làm cho nó ngon hơn, vậy thì làm sao chúng lại có thể được chấp nhận?
Một cái cây khi đổi chỗ trồng chỉ có thể sống sót và nở hoa ở một miếng đất mới nếu nó được chăm sóc để giữ tốt gốc rễ, ngược lại thì nó sẽ héo úa và chết. Không có gốc rễ, cây không thể hút được đủ chất mầu mỡ bổ dưỡng từ đất mới để sống. Điều này giống hệt như đối với con người.
Nếu những người di dân từ ngoại quốc vào đất Mỹ biết gìn giữ ngôn ngữ và gốc văn hóa của họ trong lúc cố gắng hết sức học Anh ngữ, họ có thể đóng góp văn hóa của họ vào đời sống trí tuệ của nước Mỹ, làm cho đất nước này mãi tươi tốt, mạnh mẽ. Đó là điều người Mỹ mong muốn nhất và đó cũng là con đường lợi ích nhất cho người di dân và gia đình của họ.
(Nguồn: Khai Bui [email protected]; qua [email protected])
Thơ Trần Vấn Lệ
Hoa Tứ Quý
Hồi Ba tôi còn sống, hoa Tứ Quý ông thương.
Ông trồng hoa đầy vườn. Rồi ông từ biệt nó!
Bốn mùa hoa cứ nở. Hết rồi… Ba tôi đâu?
Má hay đọc kinh cầu/cho hồn Ba siêu thoát…
Hồi Ba tôi còn giặc, Ba mất rồi… còn hoa.
Giặc…hình như chưa xa? Vết thuơng Ba, tôi nhớ.
Chỉ là viên đạn, lỡghim vào ngực Ba thôi.
Ba ngã xuống, lìa đời, không phải người chiến trận…
Hoa Tứ Quý nở trắng, dòng máu thì đỏ lòm.
Trời đất tối một vòm – Má tôi nói, như vậy!
***
Sáng nhìn con chim nhảy/bên chậu Tứ Quý, vui.
Tôi không nở nụ cười. Hoa Tứ Quý cứ nở…
Mặc nhiên như thế đó! Bốn mùa tôi nhớ Ba.
Phải chi con đừng già? Phải chi Ba còn cạnh?
Tứ Quý có mùa lạnh. Tứ Quý có mùa Hè.
Ba tôi đi, không về! Tôi, Lính, còn… tại trận!
Giọt nước mắt rất đắng/mỗi lần tôi nhắc Ba.
Non Nước chừ ở xa, Ba Má tôi… Cố Quận!
Giọt nước mắt rất đắng… mỗi lần tôi nhớ Ba!
Một Địa Danh Long Lanh Nước Mắt
Chỗ em ngồi
bao quanh là biển.
Chỗ ta ngồi
cũng biển bao quanh.
Đường vô xứ Huế quanh quanh
non xanh nước biếc như tranh họa đồ…
Thấy chi, em nhỉ, bây giờ
Quê Hương, nhắc Huế, đâu bờ biển xanh?
Huế là Thần Kinh
Kinh đô diễm lệ
Hơn một trăm năm
chỉ còn lại Huế…
Hoa hoàng lan mơn man má người
Hoa hồng vàng hay áo dài phơi
Đôi guốc mộc thềm rêu cánh võng
Phất phơ ngày lau lách mà thôi!
Em tội nghiệp
và ta tội nghiệp
Một Hoành Sơn nhất đái lỡ làng
mũi tên thù tên bạn bay ngang…
Máu đỏ chảy sông Hương đầy ắp
Bến Ngự Vua mờ bóng hoàng hôn
Thành quách cũ gạch từng miếng vỡ
Phú Văn Lâu tàn rụi văn chương!
Ta muốn tả cho em hết Huế
Cầu Trường Tiền lỗi nhịp vô duyên!
O Đồng Khánh mần răng không nhớ?
Trăng Nguyệt Biều không xô cũng nghiêng!
Từ Nam Phổ hàng cau trơ trụi
đến dây trầu nhớ Ngoại hết leo
ta với em ai ngờ giữa biển
chín đoạn đường từng vũng lệ trong veo!
Đất nước ta lắm núi nhiều đèo
Ba tiếng Dội ngàn năm thành Hịch
Mình mần răng, mỗi đứa cô đơn?
Hò với khoan, khoan, hò, lầm lũi…
Em ơi em tình ta tuyệt vọng
Bức họa đồ sơn thủy mờ phai!
Giữa biển trùng duơng thuyền mất hướng
Cánh buồm nâu rách, hải âu bay…
(Nguồn: [email protected])
Thơ Thọ Khương
Thả hình bắt bóng
Lòng ta quẩn quanh
Bóng tình trước mặt
Giơ tay ta bắt
Một khoảng hư không
Ta nằm xuống cỏ
Lá đổ vàng sân
Phù vân vẽ mặt
Phủ hình tha nhân
Ta ra bến đợi
Ngã quỵ bên bờ
Chờ xem trăng sáng
Ngậm ngùi bơ vơ…
Tình câm
Vẫn căn nhà nhỏ
Vẫn mảnh vườn xinh
Đời thay tóc trắng
Em vẫn một mình
Ngày xưa quá vội
Ta đã xa người
Trong ta tội lỗi
Tình hoài đơn côi
Rõi nhìn khói thuốc
Sợi buồn mong manh
Tiếc cho ngày tháng
Lúc tình còn xanh
Trời thêu nắng ấm
Dệt mối tình câm
Ai hoài nhung nhớ
Đợt sóng xô ngầm
Thôi thì tất cả
Chỉ là bóng mây
Tình tan sương khói
Tình về đắng cay…
Tình ngỡ
Chỉ một chút nhớ
Đủ dỗ yên bình
Đêm sâu tĩnh lặng
Mộng tình vây quanh
Em thành dĩ vãng
Tình trở gió đông
Ngõ đời cô quạnh
Thổi tình hư không
Tình mang sắc tím
Tình chết êm đềm
Sáng mai thức sớm
Ngỡ tình gọi tên
Dáng xưa còn đó
Em mãi yên ngoan
Ta trong tội lỗi
Một thoáng hoang đàng
Tình xa tít tắp
Tình bỗng về đây
Trách mình quá vội
Một lần chia tay
Đong đầy ký ức
Lặng lẽ đọa đầy
Nỗi đau lớn dậy
Cõi tình ươm cay…
Tình ơi 2
Ta gõ cửa
Trái tim người
Nụ hồng tươi
Tình ấp ủ
Chiều tóc gió
Ngất ngây say
Hoa nắng bay
Tình tỏa ấm
Đêm về sáng
Ánh trăng ngàn
Tình miên man
Tình mải thức
Mặt trời lên
E ấp nắng
Ta vỗ về
Giấc ngủ muộn
…tình ơi!
Thơ Giao Yên
Áo phất phơ nhớ
Áo phất phơ nhớ bay trong mắt
Con lộ Tự Do sánh bước em
Hòn Ngọc ai về cho nhắn gởi
Sài Gòn muôn thuở vẫn không quên.
Mình soi tóc bạc
Mình soi tóc bạc trắng trăng tà
Cổ kính thấm từ thuở tuổi hoa
Bộ liễn, tấm hoành nêu lễ giáo
Lư hương, bát nước giữ con nhà
Tài đâu chen bước đời hưng quốc!
Phúc cũng đủ vào bậc hiếu gia
Nghĩ núi nghe hồn xanh núi chất
Nghĩ sông làm dậy sóng lòng ta.
Đoạn đành lìa quê
Mấy chục năm còn nguyên vẹn nhớ
Ngôi nhà mái lá chốn thôn trang
Nơi tôi đùa giỡn thời thơ trẻ
Bên lũy tre xanh – ngõ trúc vàng
Vẫn nhớ những ngày khi giáp Tết
Rộn ràng thôn xóm họp cùng nhau
Khang trang vén dọn bao đuờng sá
Chào đón ngày năm mới bắt đầu
Tuổi nhỏ thấy xuân về hớn hở
Mừng xuân tôi chỉ dạo quanh sân…
Nhớ khi tôi thuộc qua từng ngõ
Mà phải lìa quê rất đọan đành.
Nhớ thuở hè thơ
Nhớ thuở hè thơ nắng rất trong
Đùa trên gốc rạ bốc hơi nồng
Quả banh quấn lá tranh nhau đá
Đánh trổng, cù vang động cánh đồng
Diều giấy hè xưa trong ký ức
Quả banh quấn lá tự làm xong
Trổng, cù cũng tự tay làm lấy
Chẳng dám đòi cha mẹ một đồng
Trẻ có nghỉ hè bao quý hóa
Có em thèm chữ đứng ngoài song
Vở dù giấy hẩm – đời đâu dễ
Lắm trè sầy chân hè chín năm.
Vườn riêng nhướng mắt
Riêng vườn đếch hú chi ai
Nhướng đôi mắt ngó đào, mai, ngó trời..
Lòng khô sóng mái lâu rồi!
Nghe mưa đến nhỏ xuống đời quanh hiu.
Cõi người ta
Bây giờ trong cõi người ta
Ngập lòng hứng trận mưa sa hồ đồ
Đã buồn mà rượu cũng khô
Tội chưa! Mất gã sông hồ vội dông
Bất ngờ trời trút cuồng phong
Gửi ai nỗi buốt tận lòng cùng ta
Đường xưa người mới lạc qua
Giờ đây thành cõi người ta nối giòng
Mình nghe buồn trổ đòng đòng
Ai hay buồn nở thành bông lạ kỳ!
Ùn ùn người đến – Bạn đi
Phó cho lưu lạc lâm ly tháng ngày
Núi xưa, sông cũ giờ đây
Cành chim chật rật chầy rầy chán ghê!
Thơ Chút Nồng Nàn
Màu Thương Nhớ
Khắc khoải nôn nao nắng đợi chờ
Lòng chùng giai điệu cũng bơ vơ
Người đi luyến tiếc buồn dang dở
Kẻ ở bâng khuâng nhớ dại khờ
Câu hát chưa ca nghe vụn vỡ
Cung đàn lỡ nhịp đứt dây tơ
Hoàng hôn đỏ quạch màu thương nhớ
Bởi một người buồn …mắt ngẩn ngơ!
Oct 01, 2015
Con Mắt…
Con mắt lúc khóc khi cười
Lúc mi ngấn lệ, lúc tươi dịu dàng
Khi không lệ đổ hai hàng
Hồn ta dằn vặt bàng hoàng khổ đau
Khi vui ánh mắt liếc nhau
Lòng ta rạng rỡ, lao xao tim mừng
Khi buồn mắt lệ rưng rưng
Tim ta thảng thốt đau từng giọt rơi
Con mắt… biết nói, biết cười
Biết lơ biết lẳng biết người yêu thương
Liếc thôi thì đã vấn vương
Chớp mi một cái … đoạn trường tim ta
Khi lạnh lẽo lúc thiết tha
Long lanh, giận dỗi, xót xa, u buồn…
Con mắt đừng để lệ tuôn
Đừng nhìn những cảnh đau buồn mắt ơi
Đừng tin lòng dạ người đời
Đừng ham hình thức để rồi… xót xa
Đừng mê đắm quá! Mắt nha!
Đừng yêu mù quáng, rồi sa giọt sầu
Đừng buồn thăm thẳm đêm sâu
Nhìn ta khắc khoải, ta rầu mắt ơi!
Con mắt hãy liếc lả lơi
Hãy nheo mắt nháy…rụng rời tim ta
Hãy nhìn như thể…tan ra
Trái tim vụng dại, ta bà yêu thương
Hãy mang ta tới thiên đường
Trong đôi mắt ấy du dương lời tình!
Con mắt đâu chỉ để nhìn…
Nov 17, 2015
Biển Và Tôi…
Biển của tôi
Âm thầm sóng vỗ
Biển như người
Dào dạt thân thương
Biển trong tôi
Sấm chớp mưa nguồn
Tôi trong Biển
Nhớ nhung bão tố
Biển hôn bờ
Khát khao vụn vỡ
Vẫn ngàn đời
Dồn dập yêu thương
Biển nhìn ta
Vạn vật vô thường
Ta nhìn biển
Tình dâng thành sóng
Biển là biển
Ngàn năm lắng đọng
Vỗ lên bờ
Câu hát si mê
Biển và Tôi
Một cõi đi về
Tôi với biển
Đam mê bất tận
Biển là biển
Yêu thương mặn đắng
Tôi là tôi
Nhìn biển xa xôi
Biển là Tôi
Câu hát xa vời
Tôi là biển
Bài thơ vỗ sóng…
Nov 27, 2015
Vẫn Biết…
Vẫn biết cuộc đời chẳng mấy vui
Nhưng trong nước mắt có nụ cười
Như cơn mưa hạ trôi trần bụi
Như gió âm thầm thổi sầu vơi
Vẫn biết lòng người lắm đãi bôi
Nhưng trong dối trá có thật lời
Như những yêu thương không vị lợi
Như thấy con cười, mắt Mẹ vui
Vẫn biết tình yêu lắm ngậm ngùi
Nhưng trong đau khổ có niềm vui
Như lúc bên nhau lòng diệu vợi
Như nắng hân hoan ấm lòng người
Vẫn biết làm thơ cũng bùi ngùi
Nhưng làm thơ được thấy cũng vui
Như cỏ như hoa che trần trụi
Như lòng bất chợt thấy bồi hồi.
Monterey, CA
Hãy
(Xướng)
Hãy thắp cho đời ngọn lửa vui
Hãy yêu dù mỏi mệt làm người
Hãy quên đi hết bao lầm lỗi
Hãy nhớ luôn còn những nụ cười
Hãy biến đau thương thành cát bụi
Hãy trồng hạnh ngộ tạo xanh tươi
Hãy vui trong nắng, hôn ngày mới
Hãy cảm ơn đời mỗi ngày vơi!
Marina, CA
Anh Tìm Em
Mặc dòng đời lãng du vô định
Anh lội ngược dòng, ngược cả thời gian
Vất vả gian nan trắc trở phũ phàng
Anh vẫn lội, vẫn đi về phía trước
Bất chấp lao đao bàn chân trầy sước
Ngược cõi đời này, Anh muốn gặp Em
Từ lạ rồi quen, mặc kệ sang hèn
Không quan trọng, Anh tìm Em….để sống
Để thấy cuộc đời, là… không trống rỗng
Để nắng xôn xao và gió mỉm cười
Để thấy trên đời vạn vật xanh tươi
Để chim chóc hồn nhiên ca hát
Vì Em đó, lòng Anh trỗi nhạc….
Anh sẽ tìm Em, dù góc bể chân trời!
September 29, 2015
Bỗng Thấy…
Bỗng thấy bên tai tiếng thì thào
Như lời thủ thỉ của trăng sao
Của trăm con nước hôn cuồng bạo
Của những mưa nguồn gọi khát khao
Bỗng thấy trong mơ tiếng tự tình
Như lời mời gọi của môi xinh
Của hương ân ái ru ngạo tính
Của nét si mê đắm gợi tình
Bỗng thấy trong tim tiếng rộn ràng
Như là nhịp điệu giấc mơ hoang
Như đêm che dấu ..tâm nhiễu loạn
Như tiếng cung đàn nhịp hoang mang…
Bỗng thấy tâm tư lắng đọng nhiều
Hoa lòng cô độc nở thương yêu
Hoa nắng xôn xao trong đời sống
Hoa của tâm hồn, hoa tình yêu!
(Nguồn: [email protected])
[jwplayer 9s4dzNVL]



























































































