Tiếng Việt Dấu Yêu (Kỳ 358)

Em viết văn Việt

Nhằm tạo một diễn đàn cho các em tập viết tiếng Việt, Ban Biên Tập trang Tiếng Việt Dấu Yêu kêu gọi quý phụ huynh và quý Thầy Cô khuyến khích các em viết văn, diễn tả bằng tiếng Việt những cảm nghĩ và ước vọng trong đời sống của các em. Ước mong nơi đây một sân chơi được mở ra và khu vườn văn hóa Việt sẽ được quý phụ huynh và quý Thầy Cô góp tay vun trồng, khuyến khích.

Trong các bài nhận được và chọn để đăng, chúng tôi cố ý giữ nguyên văn những gì các em viết. Vì thế, khi đọc đến những ngôn từ, lỗi chính tả và sai văn phạm, chúng tôi mong được phụ huynh và thầy cô chia sẻ và sửa chữa cho các em tại nhà hay trong lớp học.

Tất cả các bài viết dưới dạng MSWord, font Unicode; và hình ảnh dạng .jpg, xin gởi về địa chỉ email: [email protected] (Xin đừng gởi dạng .pdf vì không tiện cho việc layout).

Trân trọng cảm ơn quý vị.

Nguyễn Việt Linh 

Đặt câu, mỗi câu có ba mệnh đề nói về Tết Dương Lịch

1-Năm nay em được nghỉ Lễ Giáng Sinh và Tết Tây 3 tuần, và em được đi chơi Las Vegas với ba mẹ nên em rất vui.

2- Cô em nói Tết Dương Lịch còn được gọi là Tết Tây và em thích gọi là Tết Tây hơn.

3-Tết Tây thì chúng em được nghỉ học nhiều ngày, nhưng Tết Ta thì không được nghỉ, nên em rất buồn.

4- Tết Tây đâu có vui bằng Tết Ta, em không có tiền mừng tủi, em cũng không được đi hội chợ nữa.

5-Em nghỉ Lễ Tết Tây được hơn một tuần rồi, và em sắp đi chơi một tuần, trở về nhà là em phải đi học lại.

6- Năm nay, em sẽ đón giao thừa tại Las Vegas, cả gia đình em rất vui và pháo bông ở đó rất đẹp.

7- Mẹ em nói chúng em không được vào xồng bài, mẹ dẫn chúng em đi coi đường và coi xiệc, chúng em sẽ được ăn thật nhiều.

8- Ba sẽ đưa cả nhà đi vào cái sa mạc gần đó, nhưng em không nhớ tên, em cũng chưa đi lần nào.

9- Ăn Tết Tây mà bà nội và cậu em lại muốn đi sa mạc , đâu có gì vui ở đó và trời lại lạnh muốn chết.

10- Nhưng má em nói ngoài đường thì đẹp, nó cũng vui lắm.



Góc hoạt họa thiếu nhi

Câu chuyện hí họa về chú gấu bông Dexter

Họa sĩ Nia Nguyễn



Tâm tình Thầy Cô     

Giữ gìn và phát huy tiếng Việt truyền thống 

GS Trần C. Trí
(University of California, Irvine) 

Qua mục này, GS Trần C. Trí (University of California, Irvine) tâm tình cùng độc giả, những người nặng lòng với ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam, về những vấn đề đang ảnh hưởng đến sự phát triển tự nhiên và trong sáng của tiếng Việt, trong cũng như ngoài nước. Ngôn ngữ truyền thống không phải lúc nào cũng khư khư giữ cái cũ, đả phá cái mới, mà là ngôn ngữ giữ gìn vẻ đẹp từ bao đời ông cha truyền lại, đồng thời tiếp nhận những cái mới một cách có chọn lọc và chừng mực.

Ngôn ngữ, hình ảnh, âm thanh và cảm xúc trong bài hát Ðường Xưa Lối Cũ

Nét đẹp của một ngôn ngữ thường được biểu hiện qua sự tinh tế trong lời nói hay câu văn. Nét đẹp đó càng thăng hoa qua nhiều hình thức nghệ thuật sáng tạo như văn chương, thi ca và âm nhạc. Trong một bài hát, âm điệu của nhạc giúp chắp cánh cho lời ca, tạo thêm sức quyến rũ của ngôn ngữ. Trong bài viết này, chúng ta sẽ cùng nhau phân tích tài nghệ sử dụng tiếng Việt của một trong những nhạc sĩ gạo cội của nền âm nhạc miền Nam tự do – nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ – qua nhạc phẩm bất hủ “Đường Xưa Lối Cũ.”

Bài hát “Đường Xưa Lối Cũ”, trước hết, có một bố cục hết sức chặt chẽ của một bài văn trong sáng và hàm súc. Tác giả đưa người nghe vào một thế giới tình tự của âm nhạc một cách khéo léo, với sự sắp xếp đầy kỹ thuật và nghệ thuật. Đầu tiên, tác giả giới thiệu bài hát bằng những hình ảnh về nội dung của bài hát. Bằng vài nét chấm phá đơn sơ nhưng có sức gợi hình mạnh mẽ, không khác gì một bức tranh thủy mặc, về một miền quê êm đềm và thanh bình. Ban ngày, ánh nắng gay gắt của mặt trời được làm dịu bớt qua lũy tre thân quen của miền quê nước Việt: Đường xưa lối cũ, có bóng tre, bóng tre che thôn nghèo. Ban đêm, con đường làng nhiều khi không bị tối tăm nhờ Đường xưa lối cũ, có ánh trăng, ánh trăng soi đường đi. Mặt trời và mặt trăng bao giờ cũng là những hình ảnh thân quen thường nhật trong đời sống của mọi người.

Điểm qua hình ảnh xong, tác giả đưa chúng ta vào thế giới âm thanh của miền quê ấy, những âm thanh mà chúng ta có thể nghe thấy trong hầu hết những vùng quê khắp nơi trên đất nước: Đường xưa lối cũ, có tiếng ca, tiếng ca trên sông dài. Đường xưa lối cũ, có tiếng tiêu, tiếng tiêu ru hồn ai. Qua những âm thanh dung dị đó, chúng ta có thể thấy hình ảnh sinh hoạt đời thường của dân quê. Trong khi cực nhọc kiếm sống trên vùng sông nước, người dân quê vẫn vui vẻ, yêu đời, buông lời ca, tiếng hát cho quên nỗi lao lực, mang niềm vui và truyền cảm hứng đến những người chung quanh. Chúng ta có thể tưởng tượng thêm, vào những đêm trăng sáng, sau một ngày làm việc vất vả, đâu đó trong xóm nghèo lại vẳng lên tiếng tiêu réo rắc của ai đó, như để xoa dịu những nỗi niềm và đưa mọi người vào một giấc ngủ bình yên.

Nhạc sĩ giới thiệu cảnh vật không khác gì lúc mở đầu của một cuốn phim: Thoạt đầu là phong cảnh bao quát, kế đó mới đến chỗ “close-up,” giới thiệu nhân vật trong bài hát, rất thân mật và riêng tư, người em gái đang độ trăng tròn: Đường xưa lối cũ, có em tôi tóc xanh bay mơ màng. Người em gái này, cũng như bao cô gái trong thôn xóm, nghèo nàn, giản dị mà hồn nhiên: Đường chiều dịu nắng, bóng em đi, áo nâu in đường trăng. Để ý kỹ, chúng ta thấy tác giả sử dụng màu chấm phá một cách tài tình, tóc xanh, áo nâu. Hình cảnh lại càng sinh động qua chiếc áo nâu của người em gái phản chiếu trên con đường làng lung linh ánh trăng, khi ánh nắng ban ngày đã chìm tắt.

Kế tiếp, chúng ta được giới thiệu với một nhân vật nữa, gần gũi hơn, với nhiều cảm xúc hơn qua những hình dung từ và trạng từ tác giả dùng kèm với lời miêu tả: Đường xưa lối cũ có mẹ tôi run run trong hôn hoàng; lòng già thương nhớ, nhớ đến tôi, lom khom đi tìm con. Chỉ với một ít từ ngữ quen thuộc, tác giả đã vẽ lên một bức tranh nhỏ mà chứa chan cảm xúc – hình ảnh của bà mẹ quê Việt Nam tiêu biểu, luống tuổi, với lòng thương con không điều kiện và vô bờ bến. Tác giả chọn cảnh hoàng hôn để làm nổi bật hình bóng già yếu của người mẹ đi tìm đứa con, tựa như một khung hình đẹp trong phân cảnh của một cuốn phim do một đạo diễn hình ảnh tài ba tạo thành.

Qua đến phần điệp khúc, phần phác họa hình ảnh, âm thanh và nhân vật nhường chỗ cho cao trào của bài hát. Lúc này, diễn biến trong bài hát cũng tựa như trong một cuốn phim. Cùng với tiết tấu nhanh hơn của bài hát, những diễn tiến trong câu chuyện cũng gấp gáp và ngập tràn cảm xúc. Lúc này, nhân vật chính cũng bước vào phân cảnh: Khi tôi về, bồi hồi trong nắng, tưởng gặp người em hân hoan đứng đón anh về. Nhạc sĩ dùng bối cảnh ban ngày, một ngày trời nắng ráo, để miêu tả tâm trạng “bồi hồi” xen lẫn phấn khởi của người anh trai sắp được gặp lại người em gái thân yêu sau một thời gian xa cách. Tâm trạng này kết hợp với trạng từ “hân hoan” mà người anh tưởng tượng ra về người em gái, làm tăng thêm sự chờ đợi cảnh tương phùng sắp đến. Nhưng, Nào ngờ người em sang ngang khi xuân chưa tàn. Con đò nào đây đưa em tôi vào xa vắng? Tác giả dùng ẩn dụ mùa xuân chưa tàn và con đò sang sông để nói lên niềm tiếc nuối không được gặp lại người em gái tuổi hãy còn quá trẻ mà đã đi lấy chồng ở một phương trời nào xa thẳm, không biết có được hạnh phúc hay chăng.

Cảm xúc lại càng dào dạt, sâu lắng hơn khi người con mong gặp lại người mẹ già năm cũ: Khi tôi về, nghẹn ngào trong nắng, tưởng gặp mẹ tôi rưng rưng đứng đón con về. Đây đúng là tâm trạng của những người con đi xa nhà. Khi tuổi còn thanh xuân, những đứa con còn trẻ như chim non mới ra ràng, háo hức tung cánh bay về những cõi miền mới lạ, không nghĩ đến cha mẹ ở nhà ngày đêm thương nhớ. Khi trở về, người con vẫn tin chắc rằng cha mẹ vẫn chờ đón mình, tình thương không hề phai lạt. Nhưng than ôi: Nào ngờ mẹ tôi ra đi bên kia cuộc đời, không lời biệt ly cuối cùng trước khi phân kỳ. Nghĩ cũng thật mỉa mai, người con không tự trách mình sao lâu nay không năng về thăm mẹ, hay thường xuyên thư từ để theo dõi việc nhà, mà còn như muốn trách mẹ sao ra đi mà không lời từ biệt. Chỉ qua đôi câu nhạc ngắn gọn, nhạc sĩ còn tỏ ra sành sỏi tâm lý tuổi thanh niên.

Trong đoạn cuối của bài hát, nhạc sĩ chia ra thành hai phần: hai câu đầu hoàn toàn diễn tả tình cảm, còn trong hai câu sau, ông dùng hình ảnh để nói lên tâm trạng của người anh, người con khi trở về nhà không còn thấy gia đình như trước. Chạnh lòng thương nhớ những phút xưa, phút xưa qua qua rồi. Lạnh lùng tưởng nhớ bóng dáng ai in sâu trong lòng tôi. Trong khi nhóm chữ “chạnh lòng” được dùng rất “đắc” để nói lên nỗi niềm tiếc nuối của nhân vật chính về những ngày xưa đẹp đẽ, người viết thấy không được thoải mái với trạng từ “lạnh lùng” mà tác giả sử dụng. Khi nhân vật nhớ đến hình bóng của người em gái đã đi xa và của người mẹ già đã khuất bóng, tôi không hiểu tại sao nhạc sĩ lại dùng hai chữ đó. Lẽ ra ông nên dùng chữ “ngậm ngùi” (rất thích hợp với hai nốt nhạc trong đoạn này) thì hợp tình hợp lý hơn. Hai từ ngữ “bồi hồi” và “nghẹn ngào” cũng có thể thích hợp cả về âm điệu và cảm xúc ở đây, nhưng đã được dùng trong điệp khúc của bài hát.

Cuối cùng, tác giả vẫn khéo léo sử dụng hình ảnh để biểu hiện tình cảm của nhân vật. Hình cảnh đầy thi vị của miền quê, một lần nữa lại được tác giả phác hoạ: Đường xưa còn đó, nắng vẫn lên, vẫn trăng treo ven đồi. Tác giả đưa chúng ta trở lại con đường ban đầu của miền quê. Khi dùng hình ảnh nắng và trăng, tác giả ngụ ý rằng sáng vẫn lên, chiều vẫn xuống, ngày tháng vẫn trôi qua, mặc cho những thay đổi trong cuộc sống của mỗi người. Đặc biệt, nhạc sĩ miêu tả vầng trăng “treo ven đồi” hết sức đặc sắc, chẳng khác nào một bức tranh thơ mộng vẽ cảnh chiều hôm. Mỗi buổi chiều như thế lại dấy lên trong lòng của nhân vật chính mối u hoài về những người thân, dù đã khuất, vẫn không phai mờ trong tâm khảm: Mà hình bóng cũ thiếu trong tôi mỗi khi nghe chiều rơi.

Những ai tha thiết yêu miền quê nước Việt, yêu âm nhạc Việt, có ít nhiều tâm trạng như trong bài “Đường Xưa Lối Cũ,” chắc chắn không thể không yêu mến bài hát ngọt ngào, đong đầy cảm xúc này.



Hội Sinh Viên Công Giáo giúp người vô gia cư trong dịp Lễ Tạ Ơn

Chuẩn bị xong chưa?
Nhà bếp sẵn sàng!
Sắp thất nghiệp rồi!
Học sinh Bolsa Grande sẵn sàng.
Chụp hình xong là khai mạc. Lẹ lẹ giùm!


Tâm tình Phụ Huynh

Từ Ca Dao đến Hồn Nhiên Lục Bát
(Phụ huynh sưu tầm)

Phần kết (tiếp theo) 

1-Ngôn Ngữ Thơ Lục Bát

Ngôn ngữ thơ là chữ nghĩa, hình ảnh, ý tưởng … chỉ có ở trong thơ hơn là trong đời thực. Có điều, khi đọc, nghe, ta cảm thấy như là có thực, có ý nghĩa và chấp nhận được; hơn thế nữa, lại còn rung cảm vì thứ ngôn ngữ ấy. Bất kỳ cách diễn đạt nào làm cho người ta đọc ra thơ, nghe ra thơ, hiểu ra thơ muốn “nói” điều gì, đều là ngôn ngữ thơ

-Chữ Và Nghĩa
-Ý Tưởng
-Hình Ảnh
-Âm Điệu
-Nhạc điệu

Tai nương nước giọt mái nhà,
nghe trời nằng nặng, nghe ta buồn buồn
(Buồn Đêm Mưa, Huy Cận)

Câu thơ nghe… “lưng lửng,” “buồn buồn” làm sao!

Câu thơ đậu trong điệu hò,
hồn tôi đậu giữa lòng đò trăng soi
(Trong Khi Chờ Thanh Xuân, Phan Ni Tấn)

Tiếng thơ nghe dạt dào như con đò nhỏ dập dềnh trên sóng, như mái chèo nhẹ khua nước đêm trăng. Chưa hết:

Tôi đang mơ giấc mộng dài,
đừng lay tôi nhé cuộc đời xung quanh
(Năn Nỉ, Lệ Lan)

Mưa như từng giọt rượu hờ,
đêm trong thành phố ai chờ chờ ai
Mưa thưa tựa áo lụa trời,
ôm quanh da thịt chân người người qua
(Mưa Mùa Hạ, Trịnh Công Sơn)

Nghe tiếng thơ, tưởng nghe được tiếng mưa đêm rơi đều về ngang thành phố.

Có khi câu “lục” trong thơ toàn vần “bằng”, cho một cảm giác mênh mang, xa vắng.

Hơi đàn buồn như trời mưa
Các anh tắt nốt âm thừa đi thôi
(Các Anh, Thâm Tâm)

Ôi thông xanh, ôi hồng đào
Phong rêu mấy thuở hồn nào không đau

(Thu Ngây, Cung Trầm Tưởng).

Bây giờ môi anh cô đơn
Nhớ em nhớ cả nụ hôn dịu dàng
(Nhớ, Vũ Thành)

Hay là:

Tôi vào chùa, tâm phân vân
Tiếng chuông vỡ giữa Thực, Không đôi bờ
(Thực, Không Đôi Bờ, Trần Mộng Tú)

Còn chăng là mây lang thang
trên đồi gió hú bạt ngàn rừng thông
Còn chăng là đêm mênh mông
người ngồi nhớ một dòng sông cạn rồi
(Người Thi Sĩ ấy Không Còn Làm Thơ, Phạm Cao Hoàng)

Thơ, nhạc và tranh nhiều lúc vượt ra ngoài biên giới của ngôn ngữ. Cái làm cho thơ “không biên giới” là ý tưởng và hình ảnh (đôi lúc chữ nghĩa) hơn là vần điệu, nhịp điệu hay nhạc điệu. Đọc một bài thơ hay của nước ngoài ta thấy nhiều phần cái hay là hay về ý tưởng hoặc hình ảnh. Bài thơ tiếng Việt chuyển ngữ sang tiếng nước ngoài cũng chỉ chuyển tải được những tình ý, hình ảnh ở trong thơ hơn là âm điệu. Thơ trở thành tiếng nói chung thông qua ý tưởng và hình ảnh. Trên hết vẫn là ý tưởng. Khi không còn nghe ra âm điệu, “lục bát tính” cũng không còn, khiến cái đẹp, cái hay của thơ lục bát cũng hao hụt đi ít nhiều.

Thơ là sự bay bổng của ngôn ngữ. Ngôn ngữ nào bay lên được thì gọi là thơ. Bay đi đâu? Hẳn là bay ra ngoài thế giới ngôn ngữ của đời thường. Thơ bay bổng làm con người cũng muốn bay bổng theo. Đọc được, bắt được một câu thơ, một ý thơ hay thật là sảng khoái, có cảm giác lâng lâng, bềnh bồng tựa hồ… bay là là trên không.

Cái cách tạo cho người ta cảm giác ấy, là thơ, là nghệ thuật của thơ. Và người làm thơ phô diễn cái nghệ thuật ấy bằng ngôn ngữ thơ.

***

Bài này không đề cập đến những biến thể biến thái, cách tân cách điệu về cấu trúc của thể thơ lục bát. Những công trình khai phá hay thử nghiệm nào để làm thơ lục bát thêm phong phú và hấp dẫn cũng đáng được hoan nghênh. Có điều, những canh tân đổi mới này nhiều phần thiên về hình thức hơn là nội dung, thường là những kiểu sắp chữ, sắp hàng, xuống dòng, cách quãng, ngắt nhịp, đôi lúc đi quá đà như chẻ nhỏ hay chẻ vụn câu, chữ trong thơ. Những cách trình diễn lạ mắt ấy ít nhiều đánh mất lục bát tính. Câu thơ lắm lúc đọc nghe trúc trắc, gập ghềnh, tựa như chạy xe trườn lên những cái “bump” gồ ghề trên mặt đường.

Người yêu thơ, vẫn trông đợi nơi thơ cái “tân nội dung” hơn là tân hình thức. Một bài thơ, câu thơ hay không bao giờ cũ, như cái đẹp còn ở lại với ta mãi.

Thơ trích ra trong bài này là những câu thơ “mẫu,” chỉ nhằm minh họa phần nào cái đẹp, cái hay của thơ lục bát trên cánh đồng thơ bát ngát, mênh mông. Xin cám ơn tác giả những câu thơ người viết mạn phép trích dẫn. Chắc chắn là tôi đã quên sót nhiều bài, nhiều câu lục bát hay, và còn nhiều, rất nhiều bài lục bát thật hay nữa tôi chưa được biết tới.

Thơ lục bát không bao giờ cũ, không bao giờ lỗi thời, không bao giờ cạn nguồn. Nguồn thơ lục bát là vô tận.

Thơ lục bát là thơ nội hóa. Yêu thơ lục bát là yêu “hàng nội,” là “ta về ta tắm ao ta.”

Thơ lục bát là kho tàng thi phú của riêng người Việt mình, không sợ ai đánh cắp, bắt chước hay cạnh tranh được, cũng là niềm tự hào về bản sắc và tính độc lập trong ngôn ngữ và thi ca của dân tộc Việt.

Thơ lục bát có thể được kể thêm vào những món “đặc sản” trong văn hóa truyền thống của người Việt như áo dài, như nón lá và cả những món ăn “quốc hồn quốc túy”.

“Truyện Kiều còn, tiếng Việt còn,” ta vẫn nghe vậy. “Tiếng Việt” vẫn còn đây, trong mọi sinh hoạt của cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Truyện Kiều là danh tác, không ai phủ nhận. Có điều trường thi lục bát này, cũng như nhiều áng văn chương “cổ điển” khác, e không có sức hấp dẫn và “hợp khẩu vị” của thế hệ người Việt trẻ trung sinh trưởng hoặc trưởng thành ở nước ngoài.

Sau Truyện Kiều, nối gót cụ Nguyễn Du, các thế hệ thi nhân đã mang đến cho đời nhiều thi phẩm lục bát hay, giá trị với đề tài, nội dung gắn liền với cuộc sống quanh ta.

Nếu được phép đề nghị, các trường dạy tiếng Việt cho học sinh người Mỹ gốc Việt ở hải ngoại, ngoài các bài giảng về tục ngữ, ca dao, có thể thêm vào bài giảng về thể thơ lục bát truyền thống của người Việt mình. Các thầy cô giáo có thể dạy cho các em, các cháu, cái đẹp cái hay của thơ lục bát, gieo vào lòng các em tình yêu thơ lục bát, và qua đó, gieo vào lòng các em tình yêu tiếng Việt.

Hơn thế nữa, ngoài các bài tập làm văn, thầy cô có thể dạy các em… tập làm thơ. Sao không? Không gì bằng dẫn dắt các em đi vào thế giới thi ca bằng cách làm quen với thể thơ lục bát. Nếu cần, phát huy thêm bằng các hình thức tổ chức thi đua làm thơ lục bát về những đề tài gần gũi, thiết thực. Các bậc phụ huynh hẳn sẽ vui lắm khi thấy con em mình… biết làm thơ lục bát (và người yêu thơ lại có thêm nhiều bài thơ hay lục bát). Thiết tưởng đấy cũng là phương cách “bảo tồn và phát huy tiếng Việt” như mục tiêu của hầu hết các trường dạy tiếng Việt ở nước ngoài hiện nay.

Khi mà con cháu chúng ta biết làm thơ lục bát, biết yêu thơ lục bát và biết tự hào về thơ lục bát như tự hào về bản sắc văn hóa của dân tộc Việt thì ta có thể yên tâm là tiếng Việt mến yêu sẽ còn mãi còn hoài, chẳng mất đi đâu được.

“Thơ lục bát còn, tiếng Việt còn,” chúng ta có lý do để tin như vậy.

Lê Hữu

[jwplayer 2fnjVi4w-YzmDPLlM]

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT