Trung Úy Lê Hữu Quế đưa đồng bào di tản về Sài Gòn

Lâm Hoài Thạch/Người Việt

SANTA  ANA, California (NV) – Cuộc đời lính của võ sư Lê Hữu Quế đều bắt đầu bằng dạy học, từ võ sư đến giáo sư. Sau khi học Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức xong thì ông được điều về Trường Sinh Ngữ Quân Đội với nhiệm vụ dạy Anh Ngữ cho các quân nhân.

Trung Úy Lê Hữu Quế đưa đồng bào di tản về Sài Gòn

Đến Tháng Sáu, 1972, ông Quế được về phục vụ tại Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, và được thắng cấp Trung Úy.

Cuối năm 1972, ông được đề nghị dạy Khóa Chính Trị Cao Cấp  cho 50 sĩ quan cấp tá người Thái Lan. Lúc đầu ông còn đắn đo, nhưng sau mấy tuần tham khảo tài liệu của Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị và của đồng nghiệp, Trung Úy Quế đã làm tròn bổn phận của mình.

Trấn thủ Đà Lạt

Đầu Tháng Ba, 1975, tình hình Cao Nguyên Trung Phần rối loạn với sự rút quân vô tổ chức, vì lệnh của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu quá đột ngột, nên Quân Đoàn II không có chuẩn bị trước. Ngày 15 Tháng Ba, 1975, gia đình quân nhân cơ hữu các cấp được khuyến cáo di tản về Sài Gòn, và các tỉnh phía Nam bằng phương tiện tự túc như hàng không, xe đò, đường bộ… cùng với đồng bào Đà Lạt.

Ông nói: “Một Ủy Ban Di Tản cấp thời được thành lập. Chúng tôi họp nhau lên kế hoạch là khi các đơn vị quân, cán, chính được lệnh rút về phía Nam, thì chúng tôi sẽ tình nguyện ở lại giữ an ninh trong khuôn viên các đơn vị đã bị bỏ trống. Vài hôm sau, anh em chúng tôi mới bàn kế hoạch để hướng dẫn đồng bào di tản.”

Cũng theo ông Quế, ngày 23 Tháng Ba, 1975, nhờ đại tá chỉ huy trưởng quân trường xuất quỹ, ứng trước lương Tháng Tư cho toàn thể quân nhân, cán, chính, nên ông mới có tiền mua vé máy bay đưa gia đình ông gồm hai người lớn và hai đứa nhỏ được di tản bằng đường hàng không, còn ông thì vẫn ở lại với đoàn người đang di tản.

“Sau đó, chúng tôi tập hợp những quân nhân độc thân và chỉ trong ba ngày, chúng tôi có tất cả là 123 đồng đội quyết chí bảo mật kế hoạch để đưa dân đi di tản, bằng cách chia anh em ra nhiều toán, mỗi toán sáu người đi theo đội hình: Hai người đi tiền vệ, hai người đi hai bên đường gõ cửa nhà dân và hai người đi hậu vệ. Những toán này chia nhau đi khắp Đà Lạt để hướng dẫn đồng bào nghèo không tiền đi bằng phương tiện Hàng Không Việt Nam hay xe đò,” ông kể.

Vợ chồng võ sư Lê Hữu Quế tại Santa Ana, California. (Hình: Lê Hữu Quế cung cấp)

Đưa đồng bào di tản về Sài Gòn

“Sáng sớm ngày 1 Tháng Tư, 1975, anh em chúng tôi, từng toán sáu người bung ra các nẻo đường Đà Lạt và kêu gọi đồng bào trực chỉ Đơn Dương. Đại Úy Vũ, Đại Úy Khải và tôi mỗi người mang một súng M16, một cây Colt 45, một dây băng đạn M16 và bốn băng đạn Colt 45. Chúng tôi sử dụng xe gắn máy chạy vào những con đường chính Đà Lạt để giữ tinh thần các toán đang hướng dẫn đồng bào di tản. Kế hoạch di tản được thực hiện. Mỗi tối chúng tôi họp nhau và cam kết sẽ làm nhiệm vụ người trai thời chiến,” ông cho biết thêm.

Vừa đến Đơn Dương thì đoàn di tản không còn hàng ngũ như trước, vì ở đây có vài chiếc xe đò kể cả xe quân đội, nên đồng bào gặp xe nào đeo lên được là đeo, còn chiếc Honda của Trung Úy Quế bắt đầu ho sù sụ, báo hiệu điều chẳng lành.

Ông Quế kể tiếp: “Đang dắt xe thì tôi nghe tiếng gọi ‘Trung Úy Quế!’ Nhìn quanh, tôi thấy một toán Công Binh của Tiểu Khu Tuyên Đức đang sửa một chiếc GMC và một chiếc xe Jeep, và họ kêu tôi lên xe vì xe đã sửa xong. Tôi bỏ chiếc Honda có chìa khóa bên lề đường, leo lên xe Jeep.”

Sau đó, khi tới Phan Rang thì ông Quế gặp Đại Úy Vũ và cùng đi trên chiếc Vespa.

Ra tới quốc lộ 1 thì đoàn di tản dồn cục trước cầu hướng về Sài Gòn. Bên kia cầu không có bóng người, ông Quế hỏi: “Cái gì vậy, sao lại đùn cục như thế này?” Có tiếng người đáp: “Việt Cộng đóng chốt từ hôm qua. Ai lên nửa cầu là bị chúng hạ.”

Từ chỗ ông Quế đứng tới chân cầu khoảng 700-800 mét. Ông Quế bực mình nói: “Chúng đóng chốt thì mình phá chứ khó gì!”  Có tiếng nói: “Mấy ổng họp từ hôm qua tới giờ mà có làm gì đâu.” Ông Quế hỏi tiếp: “Ai họp, ở đâu?” Có người chỉ về phía trước cách khoảng 400 mét. Ông Quế nhìn thấy có môt chiếc Jeep với hai cây antenna dài đậu bên trong lề đường dưới gốc cây cổ thụ.

Ông Quế và ông Vũ tới gần chiếc xe Jeep. Ông nghe mấy sĩ quan đứng cạnh chiếc Jeep gọi vị mặc thường phục đang ngồi trên xe bằng đại tá, nhìn qua bên kia cầu rất có môt ụ mối ở hướng trái, và một bụi tre già ở cách đó khoảng 100 mét, nếu có Cộng Sản thì trên cầu nằm trong tầm đạn AK của Việt Cộng. Ông Quế nói: “Anh Vũ trông xe, em ra xin phép đại tá để phá chốt.”

Xung quanh chiếc Jeep có năm vị sĩ quan cấp tá mặc nhiều sắc phục của VNCH, ai nấy mặt mày bơ phờ.  Tiến sát đến chiếc Jeep, ông Quế chào tay với vị đại tá đang mặc thường phục ngồi trên xe, và nói “Trung Úy Lê Hữu Quế, giảng sư Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, xin đại tá cho lệnh phá chốt.”

Vị đại tá nói: “Tôi chạy từ Pleiku về đây, đơn vị tan hàng, quần áo đẫm máu, bộ quần áo này là của Tỉnh Trưởng Phan Thiết cho. Tôi còn chỉ huy được ai nữa?” Ông Quế nói: “Đại tá nói vậy thì chúng tôi sẽ tự phá chốt.”

Đại Úy Vũ và Trung Úy Quế trở lại cây cầu, họ quyết định phá chốt.

Võ sư Lê Hữu Quế (trái) và võ sư Bắc Phong Từ Võ Hạnh. (Hình: Lê Hữu Quế cung cấp)

Ông Quế kể tiếp: “Nhìn xung quanh tôi thấy một cây M82 và túi đạn, tôi nhặt cây M82 và một quả đạn đưa cho Đại Úy Vũ, lên đạn cây M16, và nói, anh Vũ, mình đi phá chốt, để em chạy xe lên giữa cầu, vì đây là điểm cao nhất, dễ dàng để chúng ta nã đạn vào hai cái chốt này. Em sẽ nã hết băng đạn M16 vào ụ mối, còn anh thì tỳ súng lên vai em nã trái M82 này vào bụi tre nha.”

Nhưng Đại Úy Vũ không đồng ý: “M82 mà bắn bên tai của Quế, chịu sao nổi.”

Trong lúc hai anh em còn đôi co, thì có một chiếc thiết giáp của Thiết Đoàn 3 chạy tới. Ông Quế đến gần chiếc thiết giáp. Một thượng sĩ thò đầu ra hỏi: “Trung Úy cần chi?” Ông Quế hỏi ngược lại: “Đại bàng đâu?” Ông ta trả lời: “Em không biết. Tụi này lọt ổ phục kích ngoài Quảng Trị, đại bàng cho lệnh tản hàng, còn ông ta ở lại tử thủ.” Ông Quế hỏi tiếp: “Anh còn mấy trái 75 ly?”  Ông ta trả lời: “Còn 5 trái.”

Trung Úy Quế hỏi tiếp: “Ông thấy ụ mối và bụi tre đằng kia không?” “Dạ có,” thượng sĩ đáp. Ông Quế nói tiếp: “Ông nã mỗi nơi một trái được không?” Thượng sĩ đáp: “Dạ được.”

Vừa nói ông ta vừa chui lại bên trong. Ông Quế vội nói: “Không được, ông bắn ở đây, đồng bào chịu sao nổi. Phải lên giữa cầu đã chứ.” Thượng sĩ thản nhiên nói “Dạ, trung úy mở đường em sẽ hộ tống!”

Ông Quế rụng rời tay chân, nói: “Thiên địa ơi, cấp tá không có lính của mình thì lấy quân đâu mà đánh giặc, còn thiết giáp lại bảo bộ binh mở đường để đi theo sau. Miền Nam coi bộ hết thời rồi!”

Đến giữa cầu, Trung Úy Quế nã hết nguyên băng M16 vào ụ mối, chiếc thiết giáp nã hai quả đại bác 72 ly vào hai chốt Cộng Sản. Đạn trúng đúng điểm nhưng không thấy địch phản công. Mọi người không biết địch đã chết hết hay đã bỏ chạy từ bao giờ khi thấy thiết giáp xuất hiện.

Gia đình được rời khỏi Việt Nam

Tiếp tục hành trình di tản, Vespa đi trước, thiết giáp đi sau, đoàn dân di tản đi sau chót. Đoàn di tản đang trên quốc lộ 1 để về Sài Gòn. Đến 8 giờ tối thì đến Rừng Lá, rồi hướng về Hàm Tân. Sau đó, chỉ còn một số ít dân di tản đi theo, vì họ đã tách rời, kẻ thì được xe đò rước, người thì được xe quân đội đến cứu giúp.

Hai ông Quế và Vũ cưỡi “ngựa sắt” Vespa đi về phía Hàm Tân được khoảng 15 phút, thì thấy bên đường có một quán bỏ không. Hai ông dừng xe trước cửa quán. Ông Quế nói: “Anh em mình nghỉ lưng chút nha Anh.” Ông Vũ đồng ý liền. Hai em nằm xuống chưa được 10 phút thì nghe tiếng đại pháo long trời lở đất từ phía rừng lá.

Chừng 15 phút sau hai anh em thấy đoàn xe GMC, xe đò chạy ngang đoàn người đang di tản. Ông Quế kéo Đại Úy Vũ chạy ra phía sau quán, đứng nép lưng vào tường, kéo chiếc áo trận phủ đầu để che cát bụi. Hơn một giờ trôi qua, chờ khi chiếc xe cuối cùng chạy ngang cái quán xiêu vẹo. Hai ông lại cưỡi “ngựa sắt” Vespa đi tiếp.

Ông Quế và ông Vũ đến Bãi Dương thuộc quận Hàm Tân. Lúc đó trời đã ửng sáng, hai ông ghé vào một quán nhỏ dùng điểm tâm rồi đi tìm người quen. Sau đó, hai ông được người quen đưa xuống ghe đánh cá để về Vũng Tàu. Vì gặp biển động nên ba ngày sau ghe mới đến Vũng Tàu vào ngày 5 Tháng Ba, 1975.

Sau gần ba tuần lễ đưa đồng bào di tản từ Đà Lạt, ông Quế đã gặp lại gia đình tại Sài Gòn. Cũng nhờ trước kia ông có làm việc với cơ quan Hoa Kỳ tại Việt Nam, nên gia đình ông được họ cho tháp tùng phái đoàn của ngân hàng Hoa Kỳ rời khỏi Việt Nam.

Ông Quế cho biết: “Khoảng 7 giờ tối 24 Tháng Tư, 1975, gia đình chúng tôi và nhiều người khác, tổng cộng 105 người được lên chiếc DC-10 của Air America qua phi trường Bangkok, Thái Lan. Sau đó, quân đội Thái Lan đưa chúng tôi lên xe buýt chạy thẳng đến chiếc chiếc 747 của Thai Airlines, ngoài chúng tôi ra không có hành khách nào khác. Vì chính quyền Thái Lan không muốn Cộng Sản Việt Nam biết chính phủ Thái cho chúng tôi dừng ở đó, và ngân hàng Hoa Kỳ tại Việt Nam đã bao nguyên chuyến 747 chở chúng tôi thẳng tới Guam.”

Võ sư Lê Hữu Quế (phải) và các võ sư của Tổng Hội Phát Triển Võ Thuật tại Little Saigon, California. (Hình: Lâm Hoài Thạch/Người Việt)

Sinh hoạt tại hải ngoại

Tháng Bảy, 1975, võ sư Lê Hữu Quế cùng gia đình định cư tại Hoa Kỳ ở Santa Barbara, Californa. Vì từng là một giáo sư của Trường Sinh Ngữ Quân Đội trong thời chiến, giỏi Anh Ngữ, giỏi về võ thuật, có đầu óc sáng tạo, nên khi định cư tại Hoa Kỳ, ông có nhiều cơ hội để tiến thân. Vì thế, không bao lâu, ông đã là giám đốc ngành LAN cho vườn cây San Lorenzo, California.

Sau khi ổn định gia đình, ông đã tiếp tục dấn thân vào công việc giúp ích cho xã hội. Theo võ sư Quế kể, ông từng sáng lập những tổ chức bất vụ lợi như: 1977, ông là một trong số sáng lập viên Cộng Đồng Người Việt Tị Nạn tại Santa Barbara, California; 1981, ông được là ủy viên An Sinh, Đơn Vị 3 thuộc Santa Barbara County, California.

Từ 1985 đến 1992, võ sư Quế liên tục trong 15 năm là huấn luyện viên và Khóa Trưởng cho 15 Khóa “Dự Bị Băng Rừng” cho các ngành Thiếu, Kha và ủy viên của Châu Los Angeles thuộc Hội Hướng Đạo Hoa Kỳ. Soạn thảo chương trình “Học làm tiểu thương chỉ trong 10 tuần lễ” thuộc Small Business Institute-San Jose Development Corporation. Cũng trong lãnh vực này, ông đã cùng với Giáo Sư Stephen Covey thuyết giảng về “The 7 Habits of Highly Effective People” (Bảy thói quen của người làm việc hữu hiệu).

Năm 1997, ông cùng năm thành viên của năm tổ chức bạn đồng đứng ra tổ chức “Nghị Hội Thanh Niên Quang Trung” với mục đích giáo dục về quản trị, lãnh đạo chỉ huy theo chiều hướng bất vụ lợi, và ông đã được ban tổ chức bầu chọn làm Tổng Ủy Viên Nghị Hội.

Hiện giờ, Phi Hổ Lãng Nhân, võ sư Lê Hữu Quế sống cùng gia đình tại Santa Ana, California, đã hưu trí với số tuổi 76, nhưng trông ông rất còn khỏe mạnh, và cũng thường xuyên sinh hoạt võ thuật với nhiều chưởng môn phái trong Tổng Hội Phát Triển Võ Thuật Thế Giới tại Hoa Kỳ và nhiều nơi khác. (Lâm Hoài Thạch) [qd]

Xem lại kỳ trước: Lê Hữu Quế, từ võ sư đến giáo sư của Trường Sinh Ngữ Quân Đội

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT