Trần Doãn Nho/Người Việt
KENNEDALE, Texas (NV) – “Hội Họa Trung Quốc” là một dịch phẩm công phu của Nguyễn Phố xuất bản tại Huế năm 2013, dịch từ nguyên bản chữ Hán của Từ Kiến Dung.

Theo dịch giả trong “Lời nói đầu,” nội dung tác phẩm “trình bày những nét cơ bản về hội họa Trung Quốc một cách hệ thống, mạch lạc theo dòng lịch sử của Trung Hoa, có đầy đủ những kiến giải, những dẫn chứng xác đáng,” giúp người đọc “nắm bắt hoặc hiểu rõ những góc cạnh của hội họa Trung Quốc mà một người bình thường có lòng yêu thích môn nghệ thuật này quan tâm.”
Tác phẩm khá dày, 558 trang, chia làm sáu chương, mỗi chương bàn về một khía cạnh của hội họa Trung Quốc qua dòng lịch sử như: khái lược về lịch sử hội họa, khí vận, kỹ pháp, phân loại và hình thức, tàng trữ và thị trường, nghiên cứu và biên soạn. Mỗi chương có cái lý thú riêng của nó. Nhưng lý thú nhất, đối với tôi, là chương thứ ba, “Khí vận trong hội họa Trung Quốc,” gồm có ba tiết. Trong bài viết này, tôi tóm lược tiết thứ nhất, bàn về “Nhân phẩm và họa phẩm.”
Trong sự tu dưỡng của các họa gia Trung Quốc xưa, mối quan hệ giữa nhân phẩm và họa phẩm được đặt lên hàng đầu. Đối với ảnh hưởng của hội họa thì đó là điều gián tiếp, nó phản ảnh một cách vô hình trong tranh, nhìn không thể thấy được, nhưng phong cách của bức họa như thế nào, khí cục của nó ra sao thì thực sự có mối liên quan với nhân phẩm của họa gia. Điều này thuộc về “đạo.”
Khác với hội họa Tây phương, hội họa Trung Quốc không chỉ là công việc của kỹ năng, mà còn là một luyện tập về tu tâm dưỡng tánh của người nghệ sĩ. Kỹ thuật thì chỉ cần bỏ một thời gian để học tập là nắm bắt được, còn việc tu dưỡng thì chắc chắn không thể chỉ thông qua học tập mà thành công.
Theo Trang Tử trong thiên “Dưỡng sinh chủ,” thì kỹ năng tài giỏi là đến gần với “đạo.” Lão Tử so sánh chuyện “học” và chuyện “đạo”: “Vị học nhật tăng, vi đạo nhất tổn, tổn chi hựu tổn, dĩ chí vu vô vi,” nghĩa là “theo học thì ngày một tăng, theo đạo thì ngày một giảm, giảm rồi lại giảm nữa cho đến vô vi.” Mà “Vô vi nhi vô bất vi”: không làm mà không có gì là không làm. Vì thế mà việc tu dưỡng “đạo” có liên hệ đến nhân phẩm. Và nhân phẩm hình thành căn cứ vào quan điểm và lối sống lâu dài diễn ra của một người nào đó liên quan đến luân lý đạo đức.

Đối với truyền thống hội họa Trung Quốc, thì “vấn đề quan hệ giữa nhân phẩm và họa phẩm là vô cùng quan trọng, ý nghĩa chính của nó có thể khái quát thành ba điểm sau: thứ nhất, nhân phẩm thì do sinh ra đã có, nó không thể do học tập mà có; thứ hai, họa phẩm có liên quan đến nhân phẩm, nhân phẩm cao thì họa phẩm có giá trị cao, nhân phẩm thấp thì họa phẩm có giá trị kém; thứ ba, nhân phẩm của đại sĩ phu cao hơn nhân phẩm của họa công chuyên nghiệp.” Nhân phẩm cao nhã phản ảnh trong hội họa, biểu hiện trong họa phẩm, nhưng cũng cần nhấn mạnh là họa sĩ phải có kỹ năng thành thục thì mới bàn đến chuyện nhân phẩm cao hay thấp. Theo Tô Thức (Tô Đông Pha), “Tuy nói có đề tài thì có kỹ năng, nhưng có đề tài mà không có kỹ năng thì vật chỉ ở trong ý, chứ không thể hiện hình ra nơi đôi tay được.”
Lịch sử hội họa Trung Quốc thường gọi họa phẩm tối thượng thừa là “dật phẩm.” Nhân phẩm tương ứng với “dật phẩm” là “dật khí.” Chữ “dật phẩm” lấy từ sách “Họa phẩm” của Trương Hoài Quán đời Đường. Ông này xếp hội họa thành ba hạng: thần (xuất thần), diệu (đẹp), năng (khéo tay, tinh xảo), mỗi hạng gắn liền với một bậc: “thần” là bậc thượng, “diệu” bậc trung và “năng” bậc hạ. Vượt qua ba hạng kia thì một họa họa phẩm mới được xem là dật phẩm. Chữ “dật” (佚)có ba hàm nghĩa:
-Ẩn cư, thoát tục, xa rời xã hội bình thường, thoát ly nguyên tắc hội họa bình thường;
-Tự do phóng túng, tự tỏa sáng;
-An nhàn thư sướng.
Một trong một số rất ít người được suy tôn “họa gia dật phẩm” là Tôn Vị dựa trên con người và phong cách vẽ của ông. Con người ông có “tính tình khoáng đạt, không câu nệ lễ tiết, tâm hồn thanh thoát, tuy thích uống rượu, nhưng không quá say sưa, thầy chùa đạo sĩ thường hay lui tới, kẻ giàu người sang thường đến mời mọc, lấy lễ tiếp đãi, không hay ngạo mạn, dù được ngàn vàng cũng không giữ cho mình một món.” Còn phong cách vẽ tranh của ông thì “thể bút sinh động,” “chỉ cần năm bảy nét là thành.”
Thực ra, hội họa Trung Quốc được chia làm hai loại dựa trên hai quan điểm khác nhau, do đó, việc đánh giá họa phẩm cũng khác nhau: loại tranh của những người vừa viết vừa vẽ tranh gọi là “văn nhân;” và loại tranh của những người chỉ biết vẽ gọi là “họa công.” Phái “văn nhân” cho “dật phẩm” là cao, còn phái “họa công” thì xem “thần phẩm” (vẽ xuất thần, vẽ theo cảm hứng) là cao. Nhưng nói chung thì người ta vẫn đặt phái “văn nhân” trên phái “họa công.” Điều này cho thấy rằng “giới họa gia văn nhân áp đảo giới họa gia của họa viện và sẽ trở thành xu thế chủ lưu trong lịch sử hội họa.”

Vì thế, khi bàn về nhân phẩm và họa phẩm, người ta chỉ chú trọng đến họa phẩm của phái “văn nhân.” Theo tác giả, “Nhân phẩm và họa phẩm sở dĩ được suy tôn và vì họ là văn nhân sĩ đại phu của xã hội phong kiến Trung Quốc, dù làm quan ở triều hay làm dân ở quê, phần lớn đều không có cách gì thực hiện được hoài bão “đạt thì cứu giúp thiên hạ” của mình, bất đắc dĩ “cùng thì lo tu dưỡng cái thân,” nên cần quay về với tự nhiên sống trong cảnh siêu trần thoát tục, đồng thời tự hoàn thiện nhân cách của mình.”
Họa phẩm của văn nhân đời nhà Nguyên được đánh giá cao nhất, nên đều được xem là “dật phẩm,” do ở chỗ, các văn nhân này “có tâm hồn bình dị, ẩn cư ở chốn sơn lâm, hoặc thân tại cung khuyết nhưng tâm tại sông hồ, mặt khác, những sáng tác của họ cũng sùng thượng sự bình đạm hồn nhiên,” khác với sự buông thả phóng túng.
Tuy nhiên, việc đề cao quá đáng quan niệm dật phẩm có cái không hay, thậm chí nguy hại, theo Đổng Kỳ Xương trong “Họa thiền thất bút ký.” Ông vốn là người suy tôn tranh của văn nhân và chỉ trích tranh của họa công, nhưng ông tuyệt đối không mù quáng, ca ngợi tất cả các dật phẩm. Ông không “cường điệu dật phẩm một cách phiến diện, dẫn đến chỗ qua loa trong phong cách vẽ.” Theo ông, trước hết “phải vẽ tranh của mình một cách cẩn thận, nghiêm túc, sau đó mới từ cái tinh tế vi diệu để đi vào cảnh giới phóng dật, đi từ cái xán lạn rực rỡ để vào cảnh giới bình đạm.” Ở đây, ông không bàn đến nhân phẩm mà căn cứ vào mối quan hệ thống nhất giữa nhân phẩm và họa phẩm, nghĩa là trước tiên phải học cho biết cách làm người một cách nghiêm chỉnh, sau đó mới có thể vẽ tranh một cách nghiêm chỉnh.”
Dịch giả Nguyễn Phố sinh năm 1942 tại xã Vinh Mỹ, Phú Lộc, Thừa Thiên Huế, tốt nghiệp Cử Nhân Triết và Đại Học Sư Phạm ban Việt Văn trường Đại Học Văn Khoa Huế, nguyên là giáo sư Việt Văn trường Trung Học Thành Nội Huế, hiện đã về hưu, cư ngụ ở Huế.
Ông tự học chữ Hán, chuyên dịch các tác phẩm Hán Văn về nhiều thể loại khác nhau, kể cả tự điển. Trong vòng gần 30 năm qua, ông đã dịch hơn 10 tác phẩm, trong đó có: “Con Đường Tơ Lụa,” “Ngữ Pháp Hán Ngữ Thực Dụng,” “Từ Lâm Hán Việt Từ Điển,” “Mạn Đàm Về Hồng Lâu Mộng,” “Hán Việt Tự Điển,” “Uyên Nguyên Tư Tưởng Thiền Tông”…
Công trình biên soạn lớn nhất của ông là cuốn “Đại Tự Điển Hán Việt” dày hàng ngàn trang, bản thảo hiện đã hoàn tất, sẽ xuất bản trong thời gian gần đây.



























































































