Nữ tổng thống Mỹ: ‘Sẽ sớm thôi!’

Trúc Phương/Người Việt

Ngày 14 Tháng Chín, trong cuộc phỏng vấn với Jake Tapper (CNN), Thống Đốc Gavin Newsom của California, nói rằng ông sẽ không tranh cử tổng thống năm 2028 nếu đường đua chứng kiến sự tái xuất của cựu Phó Tổng Thống Kamala Harris. Ông Newsom tế nhị nói rằng việc giành quyền đại diện Dân Chủ với bà Harris chỉ tổ “lãng phí thời gian mọi người.” Có thể ông Newsom không muốn nói thẳng rằng cá nhân bà Harris đừng nên “lãng phí thời gian.”

Tòa Bạch Ốc, bao giờ mới có nữ chủ nhân? (Hình minh họa: Jame L/Pexels)

“Sớm thôi”

Chính trị Mỹ không phũ phàng đến mức sẵn sàng gạt ra rìa tham vọng vào Tòa Bạch Ốc của phái nữ. Trong 250 năm lịch sử, nước Mỹ có hơn 200 phụ nữ tranh cử tổng thống (“Victoria Woodhull Ran for President Before Women Had the Right to Vote”/Smithsonian Magazine).

Năm 1949, cuộc thăm dò Gallup về mức độ sẵn sàng bỏ phiếu cho nữ ứng viên tổng thống cho thấy ý kiến ​​người dân ngang nhau: 48% ủng hộ và 48% phản đối. Bản tóm tắt cuộc thăm dò kết luận: “Việc có một nữ tổng thống là điều tất yếu đối với nước Mỹ, cũng giống như sự trở lại của mốt váy ngắn vậy.” Trong cùng năm, Tổng Thống Harry S. Truman nói với các cô gái tham dự chương trình “Girls Nation” rằng, khi “tất cả đám già chúng tôi lùi lại phía sau thì các cháu sẽ gánh vác công việc nặng nề mà tôi đang làm đây.”

10 năm sau, năm 1959, John F. Kennedy viết, “ngay trong thế hệ này” nước Mỹ sẽ có phụ nữ ngồi ghế tổng thống. Năm 1976, Đệ Nhất Phu Nhân Betty Ford cho rằng viễn cảnh Mỹ có nữ tổng thống có thể đến vào năm 1996. Năm 2006, Đệ Nhất Phu Nhân Laura Bush dự đoán “ngày đó” đang cận kề. Chỉ một tuần sau thất bại của bà Kamala Harris trong chiến dịch 2024, cựu Tổng Thống Bill Clinton nhận định: “Sẽ sớm thôi.” Tương tự cựu Tổng Thống Bill Clinton, năm 2010, cựu Tổng Thống George H.W. Bush lạc quan: “Tôi không biết là ai hay khi nào, nhưng tôi tin sẽ khá sớm thôi.”

Liệt kê những cột mốc “sớm thôi” còn nhiều. Năm 1980, khi đương chức, cựu Tổng Thống Jimmy Carter nói rằng ghế tổng thống Mỹ có thể thuộc về phái nữ khi con gái ông, Amy, đến tuổi trưởng thành. Năm 1984, cựu Tổng Thống Ronald Reagan nói với một nhóm nữ lãnh đạo Cộng Hòa rằng họ sẽ thấy phụ nữ ngồi ghế tổng thống “một ngày nào đó;” bốn năm sau, ông Reagan nhắc lại, viễn cảnh ấy là điều “tất yếu.”

Năm 1991, Đệ Nhất Phu Nhân Barbara Bush, khi đó 65 tuổi, nói rằng bà muốn “sống để chứng kiến” điều đó (bà qua đời năm 2018). Năm 2025, bà Nancy Pelosi – cựu chủ tịch Hạ Viện dự báo: “Ngay trong thế hệ tới.” Và mới đây, Tháng Sáu, 2026, khi trả lời phỏng vấn tạp chí People, cựu Tổng Thống Barack Obama lại nói: “Sẽ sớm thôi. Ngay trong đời tôi.” (“The Endless, Maddening Wait for a Woman President”/The New Republic).

“Sớm” hoài, “sớm” riết… nhưng là bao lâu, và chừng nào? Cơ hội tiếp theo để nước Mỹ biến chữ “sớm” thành hiện thực là năm 2028. Còn không, phải cộng thêm bốn năm nữa, sau 2028; rồi bốn năm nữa…

Thời điểm này, Cộng Hòa chưa rục rịch gì việc có nữ ứng viên tổng thống. Dân Chủ cũng chưa khẳng định gì dù dư luận dự đoán vài gương mặt tiềm năng như bà Kamala Harris, bà Gretchen Whitmer (thống đốc Michigan), Dân Biểu Alexandria Ocasio-Cortez, hoặc bà Amy Klobuchar (hiện tranh cử thống đốc Minnesota; nếu đắc cử, đó có thể là bệ phóng để bà nhắm đến ghế tổng thống).

Tháng Giêng, 2026, tờ New York Magazine đặt câu hỏi: “Dân Chủ có dám đề cử một phụ nữ làm ứng viên tổng thống năm 2028?” Tương tự, hãng tin MS NOW băn khoăn rằng việc đưa ra một nữ ứng viên có phải là nước cờ liều mạng và vô hình trung trở thành thứ gì đó “độc hại” chỉ tổ dẫn đến tổn thất chính trị hơn là thành công cho Dân Chủ? Cách đặt vấn đề như vậy cho thấy thực tế rằng việc đưa một nữ ứng viên lên sàn đấu tổng thống luôn là điều gì đó có tính mạo hiểm. Ngay cả cựu Đệ Nhất Phu Nhân Michelle Obama từng nói bản thân bà không bao giờ tranh cử vì biết chắc sẽ thua.

Hiện tại, giới nữ chiếm khoảng 1/3 ghế tại các cơ quan chính quyền tiểu bang và liên bang, với 27% ghế Thượng Viện, 28% ghế Hạ Viện và 33.6% ghế lập pháp tiểu bang. Ở cấp độ địa phương, phụ nữ chiếm 25.4% ghế thị trưởng và 28% ghế thống đốc. Các thống kê này cho thấy một nghịch lý kỳ lạ rằng, vấn đề giới tính không hẳn là rào cản chính trị, nhưng nó lại là “điều gì đó” khó giải thích khi đề cập ghế nữ tổng thống.

Phim ảnh Mỹ có hàng chục phim trong đó có nữ tổng thống nhưng cử tri nói chung vẫn chưa chấp nhận hình ảnh một “bà chủ Tòa Bạch Ốc.” Mức độ nhiệt tình của cử tri với hình ảnh “Madam President” ngày càng yếu. Năm 2015, khảo sát YouGov cho thấy có 67% người Mỹ tin rằng nước Mỹ sẵn sàng đón nhận một nữ tổng thống. Trước thềm cuộc bầu cử 2024, tỷ lệ này giảm còn 57%. Cuộc thăm dò YouGov vào Tháng Mười, 2025 cho thấy tỷ lệ trên chỉ còn 48%.

Tại sao khó có “Madam President?”

Vấn đề ở đây không phải là giới tính. Một nghiên cứu năm 1997 trên hơn 60,000 ứng viên khẳng định rằng “giới tính ứng viên không ảnh hưởng đến cơ hội thắng cử.” Nghiên cứu năm 2016 về các cuộc đua vào Quốc Hội từ năm 1982 đến 2012 cũng không thấy “bằng chứng nào về bất lợi do giới tính,” xét về “tỷ lệ phiếu bầu trong các cuộc tổng tuyển cử hay xác suất giành chiến thắng.”

Năm 2021, phân tích từ 67 nghiên cứu về việc lựa chọn ứng viên kết luận rằng việc xuất hiện nữ ứng viên thậm chí là điều tích cực, giúp tăng sự ủng hộ cử tri thêm gần 2%. Còn nữa, tỷ lệ nữ đi bỏ phiếu luôn cao hơn nam. Nói về tình nguyện viên cộng đồng, phụ nữ cũng tham gia nhiều hơn nam giới 30%. Về tài trợ chính trị, tổng số tiền quyên góp của phụ nữ thấp hơn, nhưng họ thường chiếm một nửa tổng số cá nhân quyên góp.

Thế thì điều gì khiến phụ nữ không thể tiếp cận ghế tổng thống? Lý do là… bản thân cái ghế tổng thống. Không như bất kỳ chức vụ nào khác, từ thị trưởng, thống đốc đến dân biểu hay thượng nghị sĩ, tổng thống là chức vụ quyền lực cao nhất. Tổng thống Mỹ không chỉ lãnh đạo một quốc gia. Tổng thống Mỹ là “nguyên thủ thế giới.” Nhìn từ lăng kính này, cử tri có tâm lý soi xét nhiều hơn đối với bất kỳ ai tranh cử tổng thống, đặc biệt giới nữ.

Việc người ta bỏ phiếu cho một nữ thống đốc không bao giờ chịu sự cân nhắc nghiêm trọng bằng hàng loạt lý do được đưa ra khi họ tự hỏi tại sao phải bầu một nữ ứng viên lên ghế tổng thống. Không bất kỳ nữ chính trị gia nào không nhận thức điều này, kể cả khi họ chấp nhận tự thách thức bản thân bằng việc thử thời vận trong việc nỗ lực phá bỏ những định kiến ăn sâu vào nền chính trị lẫn tâm lý người Mỹ, như trường hợp bà Hillary Clinton.

Ở đây không phải là vấn đề năng lực, cũng không phải kinh nghiệm chính trị. Tất cả là do yếu tố định kiến. “Sớm thôi” là khái niệm thuộc về tương lai. Không phải “bây giờ.” Định kiến chính trị Mỹ về ghế tổng thống không chỉ bám rễ sâu trong văn hóa chính trị Mỹ mà còn là thái độ ngoan cố của văn hóa Mỹ nói chung.

Năm 1983, nhà hoạt động nữ quyền lừng lẫy Gloria Steinem nói: “Đàn ông thuộc hầu hết các nhóm sẽ nắm quyền trước bất kỳ nhóm phụ nữ nào… Chúng ta có lẽ sẽ có một tổng thống nam là người Do Thái, người da đen, hay gốc Tây Ban Nha, trước khi chúng ta bầu bất kỳ gương mặt nữ nào.”

Về Kamala Harris

Tờ Politico thuật, cuộc thăm dò do American University thực hiện gần đây cho thấy gần 1/5 cử tri cho biết họ hoặc người thân họ sẽ không bầu nữ ứng viên tổng thống. Trong số đó, có ¼ phụ nữ dưới 50 tuổi và 20% nam giới dưới 50 tuổi. Viva de Vicq, chuyên gia phụ trách cuộc khảo sát trên, nhận định: “Khảo sát cho thấy một nghịch lý rõ rệt. Cử tri vẫn tin tưởng phụ nữ trong các vấn đề quan trọng nhất và mong muốn thấy nhiều phụ nữ nắm giữ các chức vụ. Tuy nhiên, khi đề cập vị trí tổng thống, những định kiến ​​và quan niệm hạn hẹp lại trỗi dậy.”

Trở lại với bóng gió của Thống Đốc Gavin Newsom (nếu ông thật sự có ý “bóng gió”) về việc bà Kamala Harris có khả năng tái tranh cử. Có lẽ bà Harris nên từ bỏ giấc mơ trở thành “Madam President” đầu tiên của lịch sử Mỹ.

Câu chuyện liên quan bà Harris không chỉ là vấn đề định kiến mà còn dấu ấn từ thất bại ê chề của bà. Không như cựu Đệ Nhất Phu Nhân Hillary Clinton, bà Harris không là ứng viên được Dân Chủ chấm ngay từ đầu. Bà chỉ là một chọn lựa bất đắc dĩ trong tình thế Dân Chủ lúng túng tột cùng trước sự bết bát của ông Joe Biden.

Thất bại của bà Harris là vết sẹo chính trị để đời của Dân Chủ. Trong thực tế, nội bộ Dân Chủ đang âm thầm đưa ra thông điệp phản đối việc bà Harris tái tranh cử, như được thuật từ một bài báo ngày 17 Tháng Chín (“The quiet campaign to stop Kamala 2028 is growing louder”/Vox). Việc bà Harris tái xuất chẳng đem lại điều gì có lợi, thậm chí có thể tạo ra hiệu ứng dư luận không tốt cho các ứng viên Dân Chủ khác. Nhiều người tin rằng sự tái xuất của bà Harris chỉ tổ làm “rối đội hình” cho Dân Chủ, nếu không muốn nói huỵch toẹt là bà chẳng khác gì tảng đá cản đường. [dt]

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT