Tác phẩm mới của Trần Doãn Nho: ‘Nỗi Huế Nỗi Chữ Nỗi Quê’

Thế Quân

Đầu Tháng Mười, 2026, nhà xuất bản Nhân Ảnh (California) đã cho phát hành tác phẩm mới của Trần Doãn Nho “Nỗi Huế Nỗi Chữ Nỗi Quê.” Theo thông báo của nhà xuất bản, tác phẩm này có hai ấn bản. Một ấn bản bìa mềm, dày 384 trang, in đen trắng và một ấn bản bìa cứng, dày 408 trang, in màu với phần phụ lục là hình ảnh của những cây bút hải ngoại mà tác giả có dịp gặp gỡ trong các sinh hoạt văn học nghệ thuật suốt thời gian mấy chục năm qua.

Bìa sau và bìa trước tập bút ký/tùy luận “Nỗi Huế Nỗi Chữ Nỗi Quê.” (Hình: Tác giả cung cấp)

Đây là lời giới thiệu về tác phẩm của nhà xuất bản Nhân Ảnh đăng tải trên trang Amazon:

“Nỗi Huế Nỗi Chữ Nỗi Quê” là một tuyển tập chính trị xã hội và văn học nghệ thuật tập trung trên hai hiện thực. Một là: Huế, thành phố nhỏ bé thầm lặng nhưng là cái nôi của những biến động lịch sử mang tầm vóc quốc gia, nơi tác giả đã  sống cùng sống trong và sống với trong gần nửa thế kỷ. Hai là: Văn Học Hải Ngoại, một nền văn học nghệ thuật tự phát triển bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, đánh dấu sự thành công của một thất bại và là sự thất bại của một thành công. Bằng một bút pháp tổng hợp, vừa tùy bút vừa hồi ức vừa biên khảo và tham luận – nói gọn là tùy luận – Trần Doãn Nho đã tái hiện và triển khai từ trong sâu thẳm trái tim, những hình ảnh, sự kiện và tình yêu cùng những suy gẫm về quê hương đất nước, như một cách thanh toán nợ nần quá khứ và sòng phẳng với chính mình.”

Tác phẩm gồm có ba phần:

Phần I, Nỗi Huế, đề cập đến thành phố Huế là nơi sinh trưởng của Trần Doãn Nho. Phần này gồm có chín chương, mỗi chương đề cập đến một khung cảnh hoặc một đề tài hay một sự kiện chính trị, xã hội, văn hóa… diễn ra trong thành phố mà tác giả có dịp tham dự hoặc chứng kiến trực tiếp trong đời mình.

-Ch.1/Huế Tôi: mô tả khung cảnh vừa cổ kính lại vừa dân dã của khu phía Nam Thành Nội, nơi sinh trưởng của tác giả.

-Ch. 2/Có Một Thời Như Thế: Ghi lại các sinh hoạt cũng như các cuộc tranh đấu đòi dân chủ của sinh viên học sinh Huế thời trước 1975.

-Ch. 3/Tang Thương: Những ký ức sâu đậm về cuộc thảm sát Mậu Thân (1968).

-Ch. 4/Nhiễu Nhương: Ghi lại những xáo trộn khủng khiếp trong đời sống của người dân xứ Huế sau khi cộng sản chiếm đoạt miền Nam.

-Ch. 5/Tôi: Hồi ức về nửa năm bị biệt giam trong nhà tù cộng sản của tác giả.

-Ch. 6/Những “Con Ngựa Thành Troy”: Tác giả dùng câu chuyện cổ Hy Lạp, con ngựa thành Troy, để phân tích chính sách gài cán bộ cộng sản vào trong các tổ chức tranh đấu nhằm phá hoại chế độ VNCH từ bên trong.

-Ch. 7/Nhân Vật: Điểm qua cuộc đời của một vài khuôn mặt điển hình trong số những “con ngựa thành Troy” nói trên.

-Ch. 8/Vực Thẳm Tháng Tư: Nhận định về giọng thơ mang tính cách phản tỉnh của một nhà thơ vốn hoạt động trong phong trào đô thị Huế của cộng sản trước đây.

-Ch. 9:  Nỗi Huế. Nỗi niềm riêng của một người Huế sau khi sống qua những thăng trầm của đất nước trong cuộc bể dâu.

Qua chín chương sách trong Phần I, Trần Doãn Nho đã ghi lại những khung cảnh hoàn toàn khác biệt, thậm chí trái nghịch nhau, của xứ Huế vào các giai đoạn trước và sau 1975. Từ những lúc vô cùng êm ả thanh bình cho đến những ngày tranh đấu sôi động, từ cuộc chiến tranh ác liệt 26 ngày diễn ra ngay trong lòng thành phố cho đến những ngày tháng đổi đời toàn diện khi chế độ VNCH sụp đổ. Đặc biệt, tác giả ghi lại số phận “không giống ai” của một vài khuôn mặt nổi bật của những người cộng sản hoạt động nằm vùng trong các phong trào tranh đấu ở Huế mà tác giả quen biết như Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngô Kha, Bửu Chỉ, Chu Sơn…

Phần II, “Nỗi Chữ Nỗi Quê,” đề cập đến thời gian tác giả ra định cư ở hải ngoại, tham gia một cách tích cực vào các sinh hoạt văn học nghệ thuật được thành hình do hậu quả của làn sóng di dân người Việt Nam trốn thoát ra nước ngoài sau khi chế độ cộng sản được thiết lập trên toàn đất nước sau biến cố 1975. Phần này cũng gồm có 9 chương, đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của nền văn học tự phát  này, từ những bước chập chững vào cuối thập niên 1970 và đầu thập niên 1980, đến giai đoạn phát triển vào cuối thập niên 1980 kéo dài đến đầu thập niên 2000 và chững lại từ thập niên 2010 cho đến nay.

-Ch. 10/Niềm… Hải Ngoại: Nỗi lòng của một kẻ bỏ nước ra đi.

-Ch. 11/Từ Chợ Đến Văn Học Nghệ Thuật: sự hình thành của nền Văn Học Hải Ngoại (VHHN) bắt đầu từ báo phát không ở chợ.

-Ch. 12/Chế Chữ: Nỗ lực của giới trẻ hải ngoại trong việc sáng chế ra cách viết chữ Việt trên máy vi tính, góp một phần lớn lao vào sự phát triển của báo chí và văn chương hải ngoại.

-Ch. 13/ Bỗng…Little Saigon: Vai trò của Little Saigon trong nền văn học nghệ thuật hải ngoại.

-Ch. 14/ Thế Giới Văn Chương:  Các tạp chí văn chương giấy và văn chương mạng cũng như sự xuất hiện của các cây bút mới của văn chương hải ngoại.

-Ch. 15/VHHN Nhìn Từ Trong Nước

-Ch. 16/Vài Nét Riêng Của VHHN

-Ch. 17/Một Số Thành Tựu Của VHHN

-Ch. 18/Về Đâu: Bàn về tương lai của VNHN

Phần III: Nhìn Ngoái Lại… Phần này chỉ có một chương, qua đó, tác giả nói lên nỗi niềm của chính mình khi nhìn ngoái lại hai mươi năm thời VNCH & năm mươi năm kể từ khi toàn bộ đất nước nằm dưới chế độ cộng sản. Chế độ VNCH chỉ kéo dài có hai mươi năm, quá ngắn ngủi. Thực ra, so với một số triều đại khác trong lịch sử dân tộc, VNCH còn dài hơn nhà Đinh (968-980/tồn tại 12 năm) và nhà Hồ (1400-1407/ tồn tại bảy năm). Dù ngắn, nhưng trong bản chất, VNCH không chỉ tồn tại như một chế độ chính trị hay một chính quyền nào đó, mà như một “giá trị”: giá trị VNCH. Giá trị này được biểu lộ trên nhiều mặt: văn hóa, xã hội, kinh tế, giáo dục… Do đó, khác với các triều đại ngắn ngủi khác trong lịch sử dân tộc, sau khi sụp đổ, những giá trị đó lại được chính nhà nước cộng sản phục hồi qua âm nhạc, văn chương… Ngoài ra, giá trị VNCH còn được “nối dài” bằng những thành tựu ngoạn mục về kinh tế, chính trị, văn hóa và văn học nghệ thuật của cộng đồng người Việt tị nạn trên khắp thế giới.

Xin dẫn một số trích đoạn điển hình trong “Nỗi Huế Nỗi Chữ Nỗi Quê”:

“Tôi chưa bao giờ chứng kiến một Huế lạ lùng dường ấy. Nhà vắng. Đường không. Chợ trống. Phố lặng. Chỉ có những con ve Huế vô tâm, hoàn toàn chẳng biết gì đến nhân tình thế thái, cứ hát! Gió cũng thế, phất phơ. Nắng cũng thế, rực rỡ. Phượng cũng thế, nở đỏ. Thành quách hoang tàn ẩn nhẫn, phơi mình dưới nắng, nằm im trong cái trống vắng lạ lùng, bất ngờ ngàn năm một thuở. Chỉ còn những con chó vô chủ chạy rong. Và bụi bay vô tình. Toàn khu Thành Nội im ắng rợn người, chạy xe vào, tưởng chừng như đang đi vào một khu lăng tẩm bỏ hoang.” (Phần I: Nỗi Huế/Mùa Hè 1972)

“Văn học hải ngoại, tự nó, không chỉ là văn học. Mà còn là một thông điệp. Một mặt, nó là sự sống còn của những người thua cuộc; mặt khác, là một vết thương tự-gây (self-inflicted) của dân tộc. Nó không phải là nguyên nhân, mà là hậu quả của một chính sách, một lý thuyết. Là sự thất bại của một chiến thắng. (…) Văn chương hải ngoại, nói cho cùng, là nỗi chữ của người xa xứ. Nỗi chữ cũng chính là nỗi quê!” (Phần II: Nỗi Chữ Nỗi Quê)

“Trong khoảng thời gian hai mươi năm và năm mươi năm đó, tôi trải qua ít nhất là bốn cuộc đời:  một công dân Việt Nam Cộng Hòa, một tù nhân của cộng sản, một công dân Việt Nam hạng bét và sau cùng, một người lưu vong. (…) Cái gọi là “bản thân tôi” hiện nay tưởng chừng như đã trải qua nhiều tiền kiếp, mỗi tiền kiếp là một thân phận với những hệ lụy riêng, trông bộ chẳng hề dính dấp gì đến nhau.” (Phần III: Hai Mươi Năm Và Năm Mươi Năm)

Tóm lại, “Nỗi Huế Nỗi Chữ Nỗi Quê” là nỗi niềm chung và riêng của một người, qua đó, Huế của tác giả cùng với Chữ Nghĩa và Quê Hương thể nhập thành… Một.” [hp]

video
play-rounded-fill