Các ông trùm gián điệp Anh ra mặt để tự biện minh


Lê Mạnh Hùng


Theo truyền thống, một điều mà dân chúng Anh có thể tin chắc được là ngoại trừ trong các phim James Bond, hầu như không bao giờ báo chí nhắc đến các cơ quan tình báo cũng như không bao giờ những cơ quan này lên tiếng trên các phương tiện truyền thông cả. Và tên tuổi cũng như diện mạo của những ông trùm tình báo này bao giờ cũng được giấu kín. Trong các phim của James Bond chẳng hạn, người ta chỉ biết đến tên ông giám đốc của Bond là M. Thực ra, giám đốc của cơ quan tình báo Anh trước kia thường được gọi là C.


Nhưng mọi chuyện nay đã thay đổi. Trước hết Sir John Sawers, tân giám đốc cơ quan MI 6 (cơ quan tương đương với Cơ Quan Tình Báo Trung Ương CIA của Mỹ) mở đầu truyền thống mới với một cuộc trả lời phỏng vấn của nhật báo Financial Times. Và nay thì đến lượt ông Robert Hannigan, tân giám đốc cơ quan GCHQ (cơ quan tương đương với Cơ Quan An Ninh Quốc Gia NSA của Mỹ) vừa viết một bài bình luận cũng trên nhật báo Financial Times.


Ngoại trừ việc cho thấy nhật báo Financial Times nay trở thành cơ quan truyền thông ưu đãi của các ông trùm tình báo Anh, có vẻ rằng các cơ quan tình báo Anh nay thấy họ không thể tiếp tục hoạt động trong bóng tối mà nay cần phải ra mặt để đưa quan điểm của họ ra trước quần chúng và Quốc Hội để có thể lấy được sự ủng hộ cho công việc của họ.


Ông Hannigan, vốn bắt đầu sự nghiệp công chức của mình trong ngành thông tin liên lạc tại Bắc Ireland, đã không bỏ mất cơ hội trên báo. Ông viết bài bình luận trong đó diễn tả các công ty kỹ thuật cao của Mỹ như Facebook và Twitter như là “những mạng lưới chỉ huy và kiểm soát ưu tiên cho các nhóm khủng bố và tội phạm” ngay trong ngày đầu mới nhận việc.


Rõ ràng là ông Hannigan, mặc dầu ông không nêu đích danh muốn chính phủ Anh cho thông qua một đạo luật về dữ liệu thông tin (communication data bill) mà các người chống đối đạo luật này gọi là “hiến chương nghe lén” mà cho đến nay đạo luật này còn bị ngăn chặn không thông qua được vì sự chống đối của những nhóm bảo vệ đời tư cá nhân bao gồm cả phó thủ tướng Nick Clegg và một số dân biểu Bảo Thủ.


Ðạo luật này đòi hỏi các nhà cung cấp dịch vụ Internet và những công ty khác có hoạt động tương tự phải tồn trữ những dữ liệu của tất cả những người sử dụng từ thâm nhập Internet cho đến email, text, điện thoại, online message, v.v… ít nhất là 12 tháng. Nó sẽ tạo ra một kho dữ liệu mà các cơ quan tình báo có thể sử dụng để theo dõi các đối tượng tình nghi theo kiểu các phương pháp sử dụng bởi cơ quan NSA của Mỹ vốn đã bị Edward Snowden tiết lộ.


Bài báo của ông Hannigan đã đặt ra hai vấn đề khác nhau cho các công ty Facebook, Google và những công ty Internet khác. Vấn đề thứ nhất là vấn để trách nhiệm kiểm duyệt những tài liệu như khiêu dâm trẻ em (child pornography) hoặc là những hình ảnh bạo động khủng bố. Vấn đề thứ hai là việc những nhóm khủng bố hoặc tội phạm sử dụng những công ty này như là những kênh thông tin liên lạc bất hợp pháp. Vấn đề thứ nhất có thể được thấy qua việc tổ chức ISIS đã sử dụng mạng Internet để phổ biến những video tuyên truyền như việc chặt đầu các con tin. Và vấn đề thứ hai qua việc ISIS và al-Qaeda sử dụng mạng Internet để phối hợp việc tổ chức các cuộc tấn công khủng bố. Sự hiện diện của những kênh liên lạc mã hóa tỷ như Tor Project đã giúp nhiều cho các tổ chức khủng bố này trong việc tránh tai mắt của các cơ quan tình báo.


Sự việc bài báo của ông Hannigan vừa mới được đăng đã tạo ra phản ứng mạnh mẽ không những từ các nhóm cánh tả bảo vệ quyền tự do cá nhân mà còn cả từ các công ty liên hệ cho thấy thời thế đã thay đổi như thế nào. Trong thời Chiến Tranh Lạnh, phòng thí nghiệm Bell Labs của công ty viễn thông khổng lồ AT&T cộng tác chặt chẽ với các cơ quan tình báo Mỹ để tạo ra kỹ thuật cho phép họ đọc được các dữ liệu truyền qua các cáp ngầm dưới đáy biển. Và đó là một thành quả mà cả hai bên đều rất là tự hào.


Vậy thì chuyện gì đã xảy ra?


Thứ nhất trong thời Chiến Tranh Lạnh người ta biết các đối thủ của mình là ai: các mục tiêu theo dõi được giới hạn vào trong một nhóm nhỏ có thể nhận dạng tương đối dễ dàng. Các luật lệ bảo vệ đời tư cá nhân đều có những ngoại lệ rõ ràng cho phép vi phạm vì những lý do an ninh quốc gia. Nay thì những mục tiêu cần phải theo dõi không mặc quân phục, không hoạt động từ những tòa đại sứ và không ở trong những khu được biểu hiện bằng lá cờ của một quốc gia ngoại quốc mà có thể ở bất kỳ nơi nào. Và quả thật ai là kẻ thù trở thành một vấn đề quan trọng khó giải quyết.


Thứ hai hạ tầng cơ sở truyền thông nay đã hầu như thay đổi hẳn. Khó có thể tưởng tượng một ông giám đốc của AT&T trong những năm 1950 và 60 tuyên bố một cách tự hào rằng công ty ông không có ý định hợp tác với chính phủ Hoa Kỳ. Sự kiện đó xảy ra vào lúc này khi một giám đốc của công ty Facebook lấy cớ là “Giả dụ rằng chính phủ Saudi Arabia hoặc Nga cũng đòi phải cung cấp thông tin cho họ thì sao?” để từ chối hợp tác với chính phủ Mỹ cho thấy tiến trình toàn cầu hóa và phân hóa hạ tầng cơ sở truyền thông đã tiến đến mức nào.


Ông Hannigan kết thúc bài báo với lời cảnh cáo rằng trừ phi đạt được một thỏa thuận giữa các công ty truyền thông Internet và các cơ quan tình báo, người ta có thể thấy những giới hạn còn gay gắt hơn đối với đời tư cá nhân một khi xảy ra một vụ bạo động khủng bố mới. Ông Hannigan có thể đúng. Chính phủ Mỹ chẳng hạn đã giới hạn nhiều các quyền tự do cá nhân tại Hoa Kỳ – ngay cả cho phép tra tấn các nghi phạm khủng bố sau vụ tấn công năm 2001 vào World Trade Center tại New York.

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT