Nhớ nhà

Bác Sĩ Nguyễn Sơ Ðông

Nhớ Nhà
Pourquoi le prononcer ce nom de la patrie?
Dans son brillant exil mon coeur en a frémi
II résonne de loin dans mon âme attendrie,
Comme les pas connus ou la voix d’un ami.

Tôi muốn đổi chữ “brillant” thành “douloureux” vì trốn chui, trốn nhủi, vượt biên còn thua con chó đói, thì có gì là “brillant.” Sợ mang tội với Lamartine, lại thừa một “pied.”

Tôi là thằng “lăn chai,” lúc nhỏ suốt ngày ở ngoài đồng, lội hết mương nầy đến rạch kia. Tôi không phải đi chăn trâu, nhưng tôi cỡi trâu “nghề lắm.” Leo lên lưng trâu đâu có dễ. Tôi mới sáu, bảy tuổi, đứng vừa qua khỏi ngang nửa bụng trâu, mà trâu đâu có “mọp” xuống như voi cho mình leo lên. Vậy mà thằng tui phóng lên ngang hông trâu cũng được, kẹp “đầu gối” (trâu) trước cũng xong, phăng lên bằng đầu gối sau cũng “phẻ” mà kéo đuôi cũng yên. Trâu tốt hơn “người ta”: không khi nào “đá giò lái,” không “đá ngược” bạn bè.

Ðôi dòng về tác giả

Bác Sĩ Nguyễn Sơ Ðông là:

– Học sinh tại trường Chasseloup Laubat và trường Ðại Học Y Khoa ngày xưa.

– Ra trường và đi lính. Làm Y Sĩ Trưởng Sư Ðoàn 25.

– Sau 75, đi tù CS. Khi về cùng vợ con liều mạng vượt biên qua ngả Biển Ðông và định cư tại Mỹ.

– Con trai thứ của BS Ðông là Bác Sĩ Nguyễn Ðông Quan, giáo sư giải phẫu Nhãn Khoa Ðại Học John Hopkins, đã làm chủ tịch Y Sĩ Ðoàn Hoa Kỳ trong 2 nhiệm kỳ. Trong thời kỳ làm chủ tịch Y Sĩ Ðoàn, BS Ðông Quan – cùng với BS Jonathan Lâm – đã thành lập chương trình Ambassador Health mỗi năm về các vùng hẻo lánh của quê hương ta, giải phẫu, điều trị cho nhiều ngàn người bệnh thiếu phương tiện điều trị – hay không có tiền nong đút lót để được nhập viện điều trị tại Việt Nam. Thành quả nhân đạo BS Ðông Quan & Jonathan Lâm và bạn hữu đã gặt hái được, là một điểm son cho thế hệ thứ 2 của cộng đồng Việt Nam hải ngoại.

Nắng, mưa tôi có coi ra gì đâu? Mưa xối xả, mưa nặng hột,… tắm mưa càng vui. Tắm đến chừng da tái mét, run lập cập mới thôi. Một lát có khi cả giờ nữa, nắng lên, khô queo,… thì lội nữa.

Tụi chăn trâu “nhà nghề” chỉ tôi đủ thứ hết: làm sao “cột dàm” con nghé để nó khỏi ăn mạ. Người ta vác chổi chà mà đập mầy đó (không đập trâu đâu, vì chổi chà có thắm thía gì nó). Nhìn dấu ở cửa hang là biết có cua ở trỏng hay không, cua lớn hay cua “nghé” (cua con, kẹp đau lắm). Bắt cá bống kèo thì phải dùng một chân chận cái ngách nó lại, câu cá trê phải sửa soạn mồi trước: đập mấy con ốc bươu, để qua bữa sau có mùi hôi hôi là cá trê nó đớp nhanh lắm, xúc cá ròng ròng coi chừng bị cá mẹ táp cẳng, vì bênh con (ròng ròng là cá lóc con, cỡ 1/2 ngón tay út, kho tộ mặn mặn, cay cay… ngon hơn caviar nữa. Mà tôi có bao giờ được ăn caviar đâu mà xạo vậy!). Bọt trắng nhuyễn trên mặt “mương,” nhưng bọt nào là ổ cá chìa vôi, chả làm gì được hết, bọt nào là ổ cá “xiêm,” loại cá lia thia xanh mun, đá chết bỏ chứ nhứt định không chạy.

Lên Saigon, “lội” gần hết “hang cùng ngõ hẹp” của quận Tư (sau nầy là quận Năm, dành tên quận Tư cho bên Khánh Hội), chui vào Ðại Thế Giới coi hát “cọp,” băng cầu chữ Y, qua giang sơn của ông Bảy (Bảy Viễn), đi chen lấn giựt cái “lưỡi” ông Tiêu cúng rằm Tháng Bảy.

“Nắng Saigon, anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Ðông”

Tôi có biết lụa là gì đâu? Hà Ðông ở đâu? Thôi, tôi xin phép Nguyên Sa mà sửa lại:

“Nắng Saigon, tui đi mà chẳng ngán
Bởi vì da mốc thích “đui then” rồi.

Ra Chasseloup, đến mùa me chín, leo lên “rung” mạnh. Me rụng đầy đầu tụi ở dưới đất. Thằng nào ở “trển” vậy? Thằng Ðông chớ ai vô đây.

Trước Bộ Y Tế có hai cây gừa, trái tròn, ngọt, cây chót vót, lại cũng thằng Ðông leo. (Sau 75, tôi vẫn còn thấy hai cây nầy, già lão rồi, có ai để ý tới làm chi)

Vào lính, theo đơn vị hành quân, nhớ từng con suối nhỏ, từng gò mối, từng cây cầu khỉ,… nhứt là những nơi “đụng” nặng. Lính tử trận. Quan cũng đền nợ nước. Thứ Hai, người vợ trẻ đưa chồng lên Ðức Hòa. Thứ Bảy, đã chít khăn tang. Nhưng tôi vẫn thương vẫn nhớ cái quận “nắng bụi, mưa bùn”… nghèo xơ nghèo xác nhưng đầy ấp tình người. Hoàng hôn xuống, nghe ễnh ương, nhái bầu, nhái bén, cả bao nhiêu thứ côn trùng hòa tấu “symphonie pastorale” nghe mà rụng rún.

Giờ đây, lưu lạc xứ người, muốn nghe… có đâu mà nghe.

“Lòng quê đi một bước đường một đau” (Kiều)

Tâm trạng nhớ nhà là vậy

Tôi không dám “nghĩ” hoặc “đoán” tình cảm của ai khác. Riêng với tôi thì: tình đầu, tình đuôi, tình giữa… gì gì, thì với thời gian cũng sẽ khuây khỏa, rồi phai, rồi tàn và rồi thuộc về dĩ vãng, dù nó “apporte chaque jour tout le bien, tout le mal.”

Nhưng, nhớ nhà thì hoàn toàn khác, lạ. Như một định luật tự nhiên, “tên” nào “lội” nhiều, lăn lóc với “đất nước” nhiều,… khi về già, nhớ nhà càng ray rứt, càng nhức nhối.

Cái khổ là càng muốn quên, càng lại nhớ. Có những đêm thức giấc, nhớ quá, không tài nào ngủ lại được. Nhớ ai, ai đâu mà nhớ. Nhớ NHÀ!

Lúc ở Chasseloup, đọc sách tả Tour Eiffel, Montparnasse, Les Invalides, Chateaux de la Loire… náo nức muốn xem lắm. Giờ xem qua rồi thì “thôi.” Nó không “thấm” vào xương, vào tủy, vào tim, vào óc như cái nhớ nhà.

“…Quê tôi chìm chân trời mờ sương
Quê tôi là bao nguồn yêu thương
Quê tôi là bao nhớ nhung se buồn
Là bao vấn vương tâm hồn người bốn phương.
(Làng Tôi – Chung Quân)

Chắc tại tôi là đứa “chả giống ai.” Thôi đành chịu vậy.

Mấy trang viết nầy không đầu, không kết, ý tứ lung tung, “à bâtons rompus,” “du coq – à – l’âne.” Bà con có xem thì “xính xái,” từ bi hỉ xả giùm. Thiện tai, thiện tai.

Thôi thì cứ xem như “mémoires d’outre tombe” của tôi vậy.

Trước sau gì, cát bụi cũng sẽ về cát bụi

Quando Satis Dixisti, Peristi

(Quand tu auras dit assez, tu seras mort)

(St Augustin)

“Mai đây trong chuyến tàu vạn cổ
Nếu có người thương đến tiễn đưa
Xin hãy rắc thêm vào huyệt mộ
Chút tình hệ lụy núi sông xưa”

(Giang Hữu Tuyên)

Ðúng, hệ lụy núi sông xưa!

“Objets inanimés, avez vous donc une âme
Qui s’attache à notre âme et la force d’aimer“

Thôi đành

“Nhật mộ hương quan hà xứ thị
Yên ba giang thượng thử nhân sầu”

Thôi Hiệu

Vậy, tôi đã làm được gì?

*Gia Ðình: Trả hiếu?

– Má tôi mất sớm quá, tôi có nhớ gì đâu, nhứt là mấy tháng cuối cùng, mỗi lần tôi muốn tới gần Má tôi, thì các dì, cô, cậu… (đều ở nhà tôi để săn sóc má tôi) bảo: “Con ra ngoài chơi đi, để má con ngủ,” ngủ yên… Yên giấc ngàn thu.

– Tôi có làm được gì giúp Ba tôi đâu. Chưa xong Y khoa, niềm an ủi duy nhứt của tôi là: tôi đã cố hết sức nghe lời Ba tôi, dĩ nhiên, đôi lần chuyện nầy, chuyện nọ, chuyện “đâu đâu” làm Ba tôi không vui.

– Tôi rất mừng là đã cùng vợ tôi quyết định “sinh tử”: chết thì chết chung, không thể sống với VC được. Tụi nó không lương tâm, không tim, không óc, không cả tình người. Ít nhứt, dung thân ở xứ lạ, không ai ngăn cấm con tôi: “Mầy là con sĩ quan ngụy, không được lên cấp ba.” Ðó là nguyên văn của tên “giám hiệu” trường Petrus Ký (tôi không muốn nhắc tên mới của trường) khi đứa con trưởng của tôi học xong lớp 9 (classe de 3è) không được lên lớp 10 (classe de seconde). Ðuổi học.

*Tổ Quốc: xin cho tôi mượn hai câu thơ của một nhà văn “gốc lính”

“Cúi đầu tạ với quê hương
Tôi còn một nửa đoạn đường chiến binh.”

Tôi đã đội trên đầu sáu chữ: Danh Dự, Tổ Quốc, Trách Nhiệm. Ngày nào còn thở tôi còn tôn thờ. Chỉ khi nhắm mắt thì trách nhiệm của tôi với tổ quốc VNCH mới kể là hết.

Je ne fléchirai pas! Sans plainte dans la bouche,
Calme, le deuil au coeur, dédaignant le troupeau,
Je vous embrasserai dans mon exil farouche,
Patrie, ô mon autel! Liberté, mon drapeau!
Victor Hugo (ultima Verba)

Thay lời cuối

Những dòng sau đây, tôi:

– Kính dâng quý trưởng thượng, niên trưởng đã rời Việt Nam trước 30.04.1975

– Gởi đến thế hệ trẻ, những người chưa “nếm” mùi VC.

Mời độc giả xem Điểm tin buổi sáng Thứ Ba, ngày 12 tháng 9 năm 2017

Tôi dạy Vạn Vật ở Petrus Ký từ năm 1963. Lúc bấy giờ, thi Tú Tài 1 và 2 còn vấn đáp. Chưa khi nào tôi hỏi lý lịch thí sinh trước khi cho điểm. Nói chung, trong suốt lịch trình thi, tất cả giáo sư đều xử sự như thế.

Tết Mậu Thân, con đường tiếp liệu (y dược, y cụ…) của đơn vị tôi bị VC (đã chiếm Vinatexco, Vifon, và các hãng kế cận) đóng chốt. Tôi phải liên lạc với cố vấn đơn vị tôi, trình với cố vấn trưởng (cố vấn cho tư lệnh sư đoàn) cho phép tôi dùng trực thăng riêng của ông về căn cứ 73 tồn trữ y dược, nhứt là bông, băng, băng cá nhân, nước biển và trụ sinh.

Trớ trêu thay: người thương binh đầu tiên được truyền chai nước biển “nóng hổi” vừa được trực thăng mang về là một VC.

Trong hơn bốn năm trấn ở Ðức Hòa, tôi đã gọi tản thương bằng trực thăng về Tổng Y Viện Cộng Hòa ít nhứt là mười VC bị thương nặng. Không tản thương thì chắc chắn 100% chúng đi “chầu bác” rồi.

Dù mưa, dù nắng, một giờ khuya, hai giờ sáng,… chưa lần nào phi hành đoàn hỏi tôi tản thương lính nào vậy? QLVNCH hay VC. Tất cả đơn vị Quân Y QLVNCH đều làm như thế.

Tôi muốn viết thật rõ, hét thật to, ý nghĩ thật trong sáng: Tôn chỉ của dân VNCH, của QLVNCH, của chính phủ VNCH là Tôn Trọng Con Người, cách hành sự chứa đầy tình người.

Sau Tháng Tư 1975, bọn khát máu chóp bu VC đã ra lệnh phá tan nát xã hội miền Nam, mà nền tảng là gia đình. Bao nhiêu gia đình sĩ quan QLVNCH, viên chức VNCH bị gây áp lực đến đổ vỡ.

Bao nhiêu dân miền Nam bị lừa gạt, rồi bị ép tử, bỏ cho chết, chết đói, chết vì bệnh tật,… ở những khu gọi là kinh tế mới.

Bao nhiêu thanh thiếu niên “con ngụy” bị ép buộc qua Cambodia làm bia đỡ đạn cho VC.

Bao nhiêu trăm ngàn người VNCH đã thiệt mạng trên đường tìm tự do, thoát ách VC.

Trong mấy ngàn năm lịch sử dân tộc, có lần nào mà người dân Việt Nam, vốn rất gắn bó với “quê cha đất tổ,” với “mồ mả ông bà” liều chết, bỏ nước ra đi tìm tự do đông đến số triệu.

Tôi viết để quý vị trưởng thượng và thế hệ trẻ hiểu được mức độ khát máu, tàn ác, vô nhân đạo, đầy thú tính của VC.

Riêng cá nhân tôi, tôi không thù hằn VC vì:

1- Tôi đã hấp thụ nền giáo dục nhân bản miền Nam

2- VC không xứng đáng để tôi thù hằn, vì VC đã mất hẳn tính và tình người.

Tôi rất cám ơn, thương mến, kính yêu “bà xã” tôi đã chịu bao nhiêu cay đắng, cực khổ tảo tần giữ vững gia đình, lo cho bốn đứa con tôi.

Hiện giờ, chúng là công dân đơn thuần (simple citoyen) của quốc gia tạm cư, không là “quan to, quan bé” gì hết. Nhưng, người ta đã đối xử với chúng tôi rất ấm áp tình người.

Mời độc giả xem chương trình “Santorini – Đảo thiên đàng của du lịch”(Phần 2)

Comment Disclaimers / Policy

Báo Người Việt hoan nghênh quý vị độc giả đóng góp và trao đổi ý kiến. Chúng tôi xin quý vị theo một số quy tắc sau đây:

Tôn trọng sự thật.
Tôn trọng các quan điểm bất đồng.
Dùng ngôn ngữ lễ độ, tương kính.
Không cổ võ độc tài phản dân chủ.
Không cổ động bạo lực và óc kỳ thị.
Không vi phạm đời tư, không mạ lỵ cá nhân cũng như tập thể.

Tòa soạn sẽ từ chối đăng tải các ý kiến không theo những quy tắc trên.

Xin quý vị dùng chữ Việt có đánh dấu đầy đủ. Những thư viết không dấu có thể bị từ chối vì dễ gây hiểu lầm cho người đọc. Tòa soạn có thể hiệu đính lời văn nhưng không thay đổi ý kiến của độc giả, và sẽ không đăng các bức thư chỉ lập lại ý kiến đã nhiều người viết. Việc đăng tải các bức thư không có nghĩa báo Người Việt đồng ý với tác giả.

Tiểu Đoàn Trâu Điên và người phóng viên chiến trường

Cả hai đều những người tôi thương mến, hình ảnh của họ đã nằm sâu trong ký ức, nào ngờ, 40 năm sau, một sự tình cờ mà hai hình ảnh này sống lại thật rõ ràng trong trí nhớ của những người hay quên hiện tại mà nhớ dai chuyện quá khứ.

Gửi Sói Biển Nguyễn Minh Châu

Ta sẽ về một lần bên tổ ấm/ Dắt nhau đi tìm lại những con đường/ Gió cợt đùa tóc bay tỏa ngát hương/ Bên áo trận trao tình yêu thánh thiện.

Hội H.O. Cứu Trợ TPB & QPVNCH

Danh sách ân nhân gửi tiền đến hội & Danh sách TPB VNCH & Danh sách quả phụ VNCH đã được giúp đỡ.

Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QPVNCH

Danh sách ân nhân ÐNH ‘Cám Ơn Anh’ Kỳ 11 & Danh sách TPB VNCH & Danh sách quả phụ VNCH đã được giúp đỡ.

Chuyện những người lính tử thủ An Lộc

Ngày 7 Tháng Bảy 1972, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đáp xuống An Lộc tuyên dương công trạng và đặc cách thăng cấp tất cả chiến sĩ tử thủ An Lộc sau gần ba tháng ác chiến với bốn sư đoàn Cộng quân 5, 7, 9 và Bình Long.

Hội H.O. Cứu Trợ TPB & QPVNCH

Danh sách ân nhân ÐNH 'Cám Ơn Anh' kỳ 11 & danh sách TPB VNCH & danh sách quả phụ VNCH đã được giúp đỡ.

Hội H.O. Cứu Trợ TPB&QPVNCH

Danh sách ân nhân ÐNH 'Cám Ơn Anh' kỳ 11 & Danh sách TPB VNCH đã được giúp đỡ & Danh sách quả phụ VNCH đã được giúp đỡ

Người lính trong lửa đạn, và sau trận chiến

Tháng Chín, ba mươi hai năm trước, 1972 đã là lần lịch sử chuyển mình, núi rừng, đất trời miền Nam đồng vang dội chiến công.

Cảm xúc 30 Tháng Tư

Hơn 40 năm sau chiến tranh/ Tôi, người lính bại trận/ Xem như đã chết ngày 30.4 năm ấy./ Tôi đã làm những gì có thể, để đất nước đổi thay.

Lịch sử Quân Trường Ðồng Ðế Nha Trang

Sau Hiệp Ðịnh Geneve Tháng Bảy năm 1954 chia đôi đất nước, hàng ngàn đồng bào gốc Ba Làng-Thanh Hóa trốn chạy Cộng Sản di cư vào Ðồng Ðế làm ăn sinh sống rồi mau chóng xây dựng lên một làng đánh cá gọi tên là “Ba Làng.”