Sinh viên vũ khí (kỳ 2)

Phan Công Tôn (Tặng Các Bạn Cùng Khóa 9, Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức)

Câu “coi giò coi cẳng” thường được hiểu theo nghĩa bóng là xem xét lại trạng huống, điều kiện của một vấn đề nào đó; còn ở đây “coi giò coi cẳng” áp dụng với Phến theo nghĩa đen hoàn toàn. Phến có điểm ra trường cao, to con, đủ tiêu chuẩn làm thủ khoa; nhưng rất tiếc cặp giò của Phến không được thẳng lắm nên đành để chức thủ khoa rơi vào Lương Văn Hoa (thuộc Trường Pháo Binh).

Khi nhắc đến Trung Tá Nguyễn Đức Thắng, thì không thể nào quên Trung Tá Vĩnh Lộc (sau này cũng là trung tướng), thuộc Trường Thiết Giáp (cũng nằm trong Liên Trường). Trung Tá Vĩnh Lộc thường cưỡi chiếc mô tô Harley, trông rất đẹp trai và rất hào hùng. Nhắc đến các vị sĩ quan cấp tá mà không nhắc đến Thiếu Tướng Lê Văn Nghiêm, chỉ huy trưởng Liên Trường là một điều thiếu sót; cứ mỗi lần tôi đi ngang tư dinh của thiếu tướng chỉ huy trưởng, lúc nào cũng vậy, nghe nó ơn ớn làm sao!

Là một cậu học trò tỉnh lẻ, một sớm một chiều bước vào quân trường, cái gì cũng làm mình lạ lùng, bỡ ngỡ. Bất cứ “nhân vật” nào, cho dù là hạ sĩ quan huấn luyện viên, sĩ quan huấn luyện viên hoặc sĩ quan cán bộ, trong mắt tôi, lúc nào họ cũng “vĩ đại” và “cao vời.” Tôi nhắc đến một vài “nhân vật” ở đây để gợi nhớ cho các bạn ở vào thời “ngơ ngơ ngáo ngáo” của tụi mình…

Các bạn còn nhớ Thượng Sĩ Hòa, người Nam, huấn luyện viên cơ bản thao diễn? Riêng tôi, thời gian đầu, nhìn thấy ông tôi khớp quá! Tôi và một số bạn rù rì, nói lén với nhau, “ăn gì to lớn đẫy đà thế kia?” Quả thật Thượng Sĩ Hòa to lớn và đẫy đà quá chừng làm tôi phát khớp. Mỗi lần nghe ông hô đếm bước, chân tôi cứ ríu cả lên… Hàng ngũ sĩ quan cán bộ, tôi vẫn còn ghi đậm nét: ngoài Chuẩn Úy Trầm, người Bắc, không cao lớn lắm và hơi mập, lúc nào cũng ra vẻ bệ vệ. Chuẩn Úy Hồ Tấn Luy, người Huế, dong dỏng cao, mắt sáng quắc (năm 1969, ông là một trong những huấn luyện viên phụ trách khóa PRAISE (Program Review Analysis Improvement System “hệ thống cải tiến, phân tích và duyệt xét một chương trình” mà tôi theo học tại Bộ Tổng Tham Mưu).

Thiếu Úy Huy Huệ, người Bắc, trắng trẻo, đẹp trai, thường cưỡi chiếc xe vespa màu xanh trông thật lả lướt. Nghe đâu ông đang cặp bồ với cô Lan ở Câu Lạc Bộ Khóa Sinh, gần rạp xi nê, cuối Trường Thiết Giáp? (Mấy năm sau, qua tin đồn trong toàn quân, cô Lan CLB/Khóa sinh là nguyên nhân gây ra cái chết của Thiếu Tướng Hồ Văn Tố, lúc bấy giờ là chỉ huy trưởng Trường Bộ Binh Thủ Đức!?) Trung Úy Vàng, người Nam, hơi móm, tay hơi cán vá nhưng hiền lành, dễ thương. Trung Úy Nguyễn Khắc Kỳ, người Bắc, đại đội trưởng, ôm ốm, lúc đứng trước đại đội, ông hô “nghiêm” nhưng nghe như “u ..uôm” v.v…

Sĩ quan huấn luyện viên: chắc chắn một trăm phần trăm không ai có thể quên Thiếu Úy Sự, người Nam, thuộc Ban TVM (Tác xạ, Vũ khí, Mìn). Ông dạy rất hay nhưng ông là một “hung thần” phạt chạy tóe khói, cái gì cũng phạt, hở ra là phạt, khóa chúng ta rất ít người thoát khỏi cảnh “ôm đầu máu” của Thiếu Úy Sự. Ban TVM còn có Trung Úy Đoàn Thức, người Huế, rất uyên bác trong khoa huấn luyện; điềm đạm, hiền lành và không phạt sinh viên (tình nguyện về binh chủng Thủy Quân Lục Chiến từ năm 1964, sau này là trung tá, có thời gian ở cùng đơn vị với tôi, chúng tôi thường gọi “thầy” là “Thầy Từ Thức,” “thầy” cũng đi tù ngoài Bắc, bị bệnh xơ gan cổ chướng nằm chờ chết ở Phủ Lý, Cộng Sản tha cho về, hơn tháng sau “thầy” qua đời vào Tháng Ba năm 1980 tại Phú Nhuận). Trung Úy Trực, người Bắc, huấn luyện viên chiến thuật, dạy rất hay, những lần huấn luyện ngoài bãi, ông thường kể chuyện tiếu lâm hoặc hát, hoặc ngâm thơ cho sinh viên nghe trước khi vào đề tài… Trên Bộ Chỉ Huy thì có Đại Úy Hoàng, về sau là Thiếu Tá Vĩnh Biểu, tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn Khóa Sinh. Một sĩ quan nữa chắc anh em Khóa 9 chúng ta khó quên, đó là Chuẩn Úy Nguyễn Văn Thanh, thủ khoa Khóa 7 Thủ Đức, sau khi mãn khóa, ông ta ở lại làm sĩ quan cán bộ, thời Khóa 9, ông ta là sĩ quan kỷ luật của trường.

Ở dưới doanh trại của sinh viên sĩ quan, có 2 nhân vật rất là gần gũi và thân thiết đối với SVSQ, đó là 2 anh quân nhân: anh Năm, bán hột vịt lộn và anh Kiếm, bán chè, bán cháo. Hai anh này thuộc nằm lòng chương trình huấn luyện của từng đại đội, ngày nào học ở trong trường, ngày nào đi bãi, mấy giờ ở bãi về v.v… Nhiều đêm đi bãi về, bất cứ giờ nào cũng thấy anh Năm, anh Kiếm đợi sẵn ở doanh trại để bán hàng; nhờ vậy mà “phe ta” được “bồi dưỡng” rất là đúng mức. Hai anh này nhớ và thuộc tên “phe ta” vanh vách, vì các anh cho “à la ghi” (ghi sổ thiếu chịu, tới tháng lãnh lương mới trả tiền). Thậm chí, khi “phe ta” kẹt dzỏ, không có tiền đi phép, thì hai anh ứng cho “mượn” trước mớ nhắm, nhờ đó mới có chút ít mà rủng rỉnh với em út khi đi phép! Dĩ nhiên các anh cho vay theo lãi suất “xanh xít đít đui” của “thị trường” lúc bấy giờ (cinq-six, dix-douze: có nghĩa là mượn năm trăm thì trả sáu trăm, mượn một ngàn thì trả ngàn hai). Dĩ nhiên, tôi không nhớ hết những “nhân vật” nổi bật liên quan và gần gũi với Khóa 9, tôi chỉ ghi nhận (qua góc nhìn của tôi) với “bộ nhớ” đã cũ, mòn về những con người và sự việc đã xảy ra gần 45 năm về trước.

Về phía anh em SVSQ cũng có nhiều “nhân vật” và “sự việc” nổi bật. Trong phạm vi bài này tôi chỉ đi thoáng qua một hai nhân vật mà thôi (vì bài viết đã quá dài).

Gần với tôi nhất là nhà vô địch bóng bàn Pháp quốc Lê Văn Tiết, Tiết đạt danh hiệu này khi tranh giải Vô Địch Pháp Quốc năm 1958. Hồi nhỏ tôi rất mê thể thao, đặc biệt là môn bóng bàn (thời đó đã từng nổi danh trong vùng Châu Á) do đó các tay vợt lừng lẫy một thời như Mai Văn Hòa, Trần Văn Liễu, Lê Văn Tiết, Nguyễn Văn Hằng, v.v… Vào Khóa 9, tôi lại được ở chung Trung Đội với Tiết, lại được chung phòng và ngay cả chung giường (phải nói rõ là giường đôi, Tiết giường trên, tôi giường dưới, nếu không có người méo mó tưởng “chung giường” đồng nghĩa Tiết và tôi là “gay” thì thêm phiền!).

Sau thời gian huấn nhục 3 tháng, lúc được đi phép, cứ y như rằng, mỗi lần đi phép về, Tiết đem vô trường một số thức ăn mà Tiết gọi là “đồ ăn dặm;” thiếu gì thì thiếu nhưng nhất định không thể thiếu hũ mắm thái. Tôi còn nhớ mãi hình ảnh, trước khi tập họp đi ăn cơm, Tiết lấy hũ mắm thái dấu sau cột nhà trước hành lang, ra đứng sắp hàng nghiêm chỉnh. Sinh viên Trung Đội Trưởng Đặng Kim Lê hô hoán tập họp, đi từng hàng kiểm soát xong, trở về vị trí chỉ huy, ắc ê cho trung đội di chuyển về nhà ăn. Nhanh như chớp (còn nhanh hơn cú “tờ riu” sở trường của mình), Tiết dzọt ra phía sau, chốp hũ mắm thái, nhét vào áo, phóng trở lại vị trí trong hàng quân để tiến về nhà ăn. Các động tác này xảy ra rất lẹ, nếu không, Đặng Kim Lê bắt gặp thì không thể nào thoát khỏi bị phạt chạy mấy vòng sân. (Thuở đó, sinh viên Trung Đội Trưởng Đặng Kim Lê mặt rất “ngầu” làm anh em trong trung đội “rét” thấy mẹ!)

Một nhân vật khác trong khóa 9, rất nổi tiếng, không phải tự mình làm cho mình nổi tiếng, mà “ké” vào tên tuổi của bà xã! Đó là Nguyễn Thanh Lân, chồng của Người Đẹp Bình Dương Thẩm Thúy Hằng. Còn nhớ lại, trong thời gian 3 tháng huấn nhục, chưa được đi phép, SVSQ được phép đón thân nhân vào thăm tại khu vực Câu Lạc Bộ SVSQ. Mỗi người, tùy theo hoàn cảnh của mình: còn độc thân chưa có bồ, còn độc thân nhưng đã có bồ hoặc đã có vợ, v.v… những lần thăm nuôi đó đều có nhiều ý nghĩa và có nhiều kỷ niệm. Nhưng nổi bật nhất và rình rang nhất, có lẽ là cặp Thẩm Thúy Hằng-Nguyễn Thanh Lân và cũng vì cặp này mà rất nhiều SVSQ bị vạ lây (bị phạt chạy vòng vòng chung quanh Câu lạc bộ).

Số là mỗi lần cô Thẩm lên thăm đều kéo theo một vài người bạn, dù không đẹp bằng Người Đẹp Bình Dương nhưng cũng rất là “mướt.” Ở khu vực cô Thẩm và Lân thì khỏi phải nói, lúc nào cũng đông “khách.” “Phe ta” thừa cơ hội ghé đến “nhá đèn” các người đẹp, bắt chuyện làm quen hoặc xin ảnh cô Thẩm… Rất nhiều bạn trong phe ta bị “họa” vì “bu” quá nhiều chung quanh cô Thẩm. Chuẩn Úy Thanh, thủ khoa Khóa 7/Sĩ quan Kỷ luật và một số SVSQ đàn anh (Khóa 8) đã sử dụng “quyền hành” của mình để phạt “phe ta” chạy té… khói!

Vì tánh hiếu kỳ, tôi cũng lên Câu Lạc Bộ một vài lần khi Thẩm cô nương đến thăm chồng, nhưng không dám “bu” rần rần như một số bạn khác; chỉ dám ngồi xa xa để xem Người Đẹp Bình Dương đẹp như thế nào thôi chứ không dám nhào tới xin ảnh. Tôi rất nhát và càng “rét” hơn khi thấy một số “phe ta” bị phạt này nọ bởi các giới chức có thẩm quyền. Tôi lúc nào cũng tránh né, không dám chạm trán các “giới chức” này; cứ học nằm lòng câu “tránh voi chẳng hổ mặt nào” cho chắc ăn!

Vụ xin chữ ký của cô Thẩm cũng có nhiều chuyện ly kỳ lắm, thường thường cô Thẩm ký vào ảnh và tặng cho các người ái mộ – có trường hợp đặc biệt, cô Thẩm ngay cả còn ký luôn vào áo của người ái mộ nữa – như trường hợp Sinh viên Trung Đội Trưởng Đặng Kim Lê. Một lần tháp tùng đoàn thân nhân, tiễn cô Thẩm ra tận cổng trường, Lê đã được người đẹp “đè” ra ký cho một chữ to tổ bố đằng sau lưng, sướng đến mê tơi! Nhiều người trong “phe ta” rất ganh với Lê về cái “ân huệ” đặc biệt này! Đặng Kim Lê cũng là một trong những “dân chơi tới bến,” dám “xé rào” và “phá lệ” làm những điều mà lúc bấy giờ, chỉ nghe thôi, tôi đã phát khiếp!

Trong trường, SVSQ chỉ được phép đến ăn uống tại Câu Lạc Bộ SVSQ và Câu Lạc Bộ Khóa Sinh mà thôi; cấm chỉ không được đến khu ăn uống ngoài trời (đặc biệt về ban đêm) dành cho quân nhân các cấp và các khóa sinh khác nằm trong Liên Trường. Vậy mà, rất nhiều lần Đặng Kim Lê đã “giả dạng thường dân Nam Bộ,” lột bỏ alpha trên cầu vai, trà trộn vào nhậu trong khu này vì “trong khu này mới có đủ thứ rượu ngon và ‘mồi’ thì rất ‘tới.’” Lâu lâu nghe Lê bật mí như vậy! Khi nói về Thẩm Thúy Hằng, tôi vẫn còn nhớ như in về tên tuổi của Người Đẹp Bình Dương được đám bạn tù chúng tôi thường xuyên nhắc đến trong những năm đi tù trên đất Bắc.

Thời gian chúng tôi còn ở các trại vùng Hoàng Liên Sơn (từ 1976 đến 1978, còn do bộ đội Cộng Sản quản lý, thời gian này chẳng có quà cáp gì cả và ngay cả thăm nuôi, dĩ nhiên, cũng chưa hề nghe đề cập đến, nên “phe ta” cứ đói rã ruột, đói triền miên). Lúc đi lao động anh em thường hỏi đùa nhau: “Bây giờ, nếu cho ông, hoặc cô Thẩm Thúy Hằng hoặc một cái đùi gà, ông chọn kí dzì?” Trăm người như một, câu trả lời vẫn chỉ là: “Dạ, cho ‘em’ xin cái đùi gà!”

Dĩ nhiên đây là loại câu hỏi “đố vui để chọc” vì cả 2 cái “phần thưởng” nêu trên đều thuộc loại không tưởng, nằm ngoài vòng tay với và ngay cả nằm ngoài tầm của ước mơ! Vì lẽ, Thẩm cô nương thì đang chung sống với chồng là Tony Oánh ở Sài Gòn; còn cái đùi gà? Ôi, cả một ước mơ cao vời vợi! (Hằng năm chỉ mong đến 3 ngày Tết Nguyên Đán hoặc các ngày “nể nớn” tù “phe ta” mới được đặc ân cho thưởng thức “ăn tươi” với 2 miếng thịt trâu và vài miếng da trâu ninh nhừ với muối. Và chỉ có thế! Làm gì dám mơ tới cái đùi gà!)

***

Khi viết bài này và nhắc về cái “nghiệp” sinh viên vũ khí của tôi (nếu có ai cắc cớ, thêm chữ “tội” vào trước chữ “nghiệp” chắc nghe càng thêm thấm thía!). Tôi như được sống hoàn toàn vào khung trời kỷ niệm của gần 45 năm về trước. Biết bao nhiêu chuyện, dù vui dù buồn, cũng đã trở thành những dấu ấn khó mờ phai, làm thêm ắp đầy vùng trời kỷ niệm của một thời tuổi trẻ!

Trong hơn 15 năm từ khi ra trường, chúng ta đã hoàn thành nhiệm vụ của một quân nhân qua các vai trò chuyên môn, chỉ huy hoặc tham mưu của các đơn vị thuộc các quân, binh chủng liên hệ. Chúng ta, dù sao cũng đã – trong chừng mực nào đó – hoàn thành được nhiệm vụ của “người trai thời loạn” mà tổ quốc và quân đội đã trao phó cho chúng ta. Biết bao nhiêu bạn bè chúng ta đã nằm xuống trong khi thi hành nhiệm vụ (trước 1975) và sau khi miền Nam bị rơi vào tay Cộng Sản, biết bao nhiêu bạn bè đã cùng chung số phận cay đắng và tủi nhục trong các trại tù lao động khổ sai từ Nam ra Bắc và biết bao nhiêu bạn bè đã ngã gục trong đớn đau và uất hận trong lao tù Cộng Sản! Và cho đến bây giờ, ngay cả khi đang sống trong nước hoặc được định cư tại các quốc gia khác rải rác trên thế giới, bạn bè cùng khóa chúng ta đã lần lượt ra đi (vì già yếu hay bệnh tật)…

Khóa 9 Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức, được mang tên “Đoàn Kết” với tổng số 223 SVSQ (kể cả 43 SVSQ thuộc Trung Đội của Lực Lượng Bảo An). Cho tới bây giờ, chúng ta đang duy trì liên lạc với khoảng 105 bạn bè và gia đình còn lại (ở Mỹ và Canada) chưa kể một số bạn cùng khóa đang ở Việt Nam. Chúng ta vẫn duy trì liên lạc và sinh hoạt, đặc biệt qua quan, hôn, tang, tế trong tinh thần đùm bọc, thương yêu và đoàn kết.

Rất cám ơn tất cả các bạn đã và đang tham gia vào các Ban Đại Diện Khóa 9/ LTVKTĐ và các bạn đại diện cho các vùng ở Mỹ và Canada (và ngay cả ở Việt Nam). Nhờ công lao của các bạn mà anh em cùng khóa mới có môi trường và cơ hội gặp gỡ, liên lạc, tìm hiểu, gợi nhớ tới nhau qua các hình thức sinh hoạt và đặc biệt là qua các Đặc San Đoàn Kết. Tất cả các hình thức sinh hoạt này đáng được duy trì, đáng được ủng hộ và đáng được hoan nghênh nhiệt liệt!

***

Trở lại vụ sinh viên vũ khí của tôi, có dính líu tới “ông phụ tá sinh viên vũ khí” Đặng Bá Nhẫn! Nhẫn và tôi, do “số Trời đã định” nên bị kết dính vào nhau. Dù bị đau rề rề vì bệnh kiết và được tôi xin phụ giúp tôi những lần phải lau chùi vũ khí và các loại quân dụng và trang bị khác để trả cho nhà kho. Như đã nói ở phần trên, Nhẫn rất hăng và rất tích cực được vài lần đầu và sau đó vì bệnh nên cứ ì ra và tôi đành ứ hự “lãnh đủ.” Tôi đành an ủi, thôi thì “có còn hơn không” và cứ như thế cho đến hết khóa.

Trong các bạn tình nguyện về Thủy Quân Lục Chiến gồm có Lê Văn Khánh, Nguyễn Văn Phán, Nguyễn Thế Phương và riêng cho Tiểu Đoàn 3/TQLC thì có Lâm Quốc An, Phạm Văn Tư, Đặng Bá Nhẫn và Phan Công Tôn. Nhẫn mà đi TQLC, đối với tôi, là một chuyện lạ lùng!

Tôi còn nhớ hôm vị sĩ quan TQLC đến trường để tuyển chọn các SVSQ tình nguyện về binh chủng, Nhẫn đứng gần tôi. Tôi buột miệng nói: “Mày bệnh rề rề như vậy sao còn đòi đi TQLC?” Nhẫn, với con mắt him híp, nhìn chằm chặp vào tôi và cương quyết nói, “Tao mạnh lắm mà Tôn, rồi mày sẽ thấy, đừng có lo cho tao!” Tôi coi đó là lời bào chữa, còn hơn thế nữa đó là lời ngụy biện. Tôi nghĩ và nói thầm trong bụng: “Với cái mửng bịnh của mày, dù có được chọn về TQLC, chỉ ba bảy hăm mốt, mày sẽ bị loại là cái cẳng!” Ấy thế mà, khi ra đơn vị, Nhẫn khỏe như văn, đi hành quân liên miên, chẳng thuốc men gì và chẳng bệnh ngày nào. Thật lạ lùng! Hai đứa cùng về Tiểu Đoàn 3/TQLC, đây là một đơn vị tân lập nhưng đã xảy có một “vấn đề” rất ư là “lịch sử”!

Số là trong vụ đảo chánh hụt ngày 11 Tháng Mười Một năm 1960, Tiểu Đoàn 3/TQLC tham gia vào lực lượng đảo chánh. Hôm đó vì thiếu quân xa, nên vị Tiểu Đoàn Trưởng (Đại Úy Nguyễn Kiên Hùng) đưa nửa tiểu đoàn đi trước gia nhập lực lượng đảo chánh để tấn công dinh Độc Lập. Nửa tiểu đoàn còn lại, đang chờ trong Trại Cửu Long, Thị Nghè; oan nghiệt thay, được Đại Tá Hồ Tấn Quyền (tư lệnh Hải Quân lúc bấy giờ), leo qua cầu Avalanche, bốc nửa tiểu đoàn này vào Dinh để bảo vệ tổng thống và chống lại lực lượng đảo chánh! Thành ra, khi chúng tôi về đơn vị (giữa Tháng Mười Hai, 1960), Tiểu Đoàn 3/TQLC đang trong tình trạng “chấn chỉnh tâm lý,” vì đối với “Cụ” (Tổng Thống Ngô Đình Diệm), đơn vị này nửa có công, nửa có tội!

Nhẫn và tôi trở thành đôi bạn thân, sau ba tháng, được lãnh tiền hồi tố lương chuẩn úy, Nhẫn nói tôi hùn tiền để mua một chiếc mô tô hiệu “Puch” để đi chơi chung. Nhẫn khoái đi “bar” uống rượu chứ không thích cua đào (tôi chưa hề thấy Nhẫn có cô đào nào cả). Nhẫn rất khoái đi chung với tôi, vì tôi không bao giờ say (cho tới lúc đó tôi vẫn chưa biết uống bia thì lấy gì mà say!) và những đêm Nhẫn say mèm ở các “bar” thì tôi có nhiệm vụ chở Nhẫn về. (Tiểu Đoàn 3 sau này dời trại từ Thị Nghè về Thủ Đức, nên “đường về trại” càng xa thêm).

Có một lần, tại một “bar” trên đường Hoàng Diệu, gần kho 5, Nhẫn say mèm, không thể nào ôm eo tôi để tôi chở về. Các cô trong “bar” phụ đẩy cái mô tô vào bên trong và tôi định đón taxi để hai đứa về Thủ Đức. Nhưng đêm đó Nhẫn nổi chứng, hễ chiếc taxi nào rề lại thì Nhẫn đá lung tung, làm cho mấy ông tài bỏ chạy hết ráo. Tôi phải dìu Nhẫn từ Kho 5 Khánh Hội lội bộ về tới chợ Bà Chiểu. Mệt ngất ngư là một chuyện, chưa kể, cứ mỗi lần ói, Nhẫn cứ ôm tôi và “cho chó ăn chè” vào ngực và bụng tôi. Nó làm như ngực và bụng tôi là cái “lavabo” dành riêng cho nó vậy! Mãi tới gần sáng, khi có chuyến xe đò Sài Gòn-Thủ Đức đầu tiên ghé bến Bà Chiểu, lúc đó Nhẫn đã tỉnh rượu nên mới chịu lên xe đò về Thủ Đức!

Đặc tính của Nhẫn là khi đi hành quân, đánh đấm rất gan lì và rất ngon lành nhưng có dịp về thành phố dưỡng quân hay về hậu cứ, thì Nhẫn nhậu dữ lắm. Nhẫn rất thương bạn và bênh bạn hết mình, nhất là đối với tôi. “Ai muốn đụng tới mày, phải bước qua xác tao trước đã!” Nhẫn thường nói với tôi như vậy! Nhẫn được thuyên chuyển về Tiểu Đoàn 2/TQLC (hậu cứ tại Cam Ranh) vào năm 1962, lúc đó tôi đang theo học Anh văn tại trường sinh ngữ quân đội tại Sài Gòn, để chuẩn bị đi Mỹ. Mấy tháng sau (khoảng Tháng Mười Một, 1962) thì tôi nghe được hung tin: sau này tôi được kể lại thì mới biết, Nhẫn bị chết vì lật xe khi lái chiếc xe dodge trên đường về hậu cứ, cũng đang trong cơn say chếnh choáng!

***

Hôm nay, thật tình cờ, thật sung sướng và tràn đầy cảm động: tôi được gặp lại “thằng bạn hiền” Đặng Bá Nhẫn trong một cái “bar.” Khung cảnh cái “bar” này cũng na ná như tất cả những “bar” khác trên đường Hai Bà Trưng, Nguyễn Huệ, Catinat hoặc bên Khánh Hội của ngày xưa…

Trong không khí mờ ảo của đèn màu và khói thuốc với tiếng nhạc dập dình muôn thuở của nó, Nhẫn và tôi đang ngồi trên cái “bar stool” nơi quầy rượu. Các cô gái xinh đẹp đang lượn vờn qua lại, ghé qua các bàn hoặc nơi quầy rượu, ôm vai bá cổ, thì thầm vào tai và thậm chí còn hôn lên má các ông khách hào hoa…

Tôi nhìn nghiêng về phía Nhẫn, vẫn với con mắt him híp, cái trán vồ cố hữu làm gương mặt như tăng thêm bướng bỉnh, và vẫn nụ cười nhếch mép như bất cần đời… Nhưng sao Nhẫn im lặng quá vậy? Chẳng nói năng gì. Nét mặt Nhẫn như tai tái. Như trắng bệch. Như nhạt nhòa. Lúc ẩn lúc hiện qua làn khói thuốc?!

Tôi đang miên man nhớ đến những kỷ niệm của gần 45 năm về trước: Nhẫn chính là người dạy tôi uống ly bia 33 lần đầu tiên trong đời và về sau tăng “dose,” tập cho tôi uống “consommation” và ngay cả “whiskey on the rock!”

Một cô gái “đẹp như mơ,” dáng rất liêu trai đẩy nhẹ 2 “consommation” về phía tôi và Nhẫn với lời nói êm và nhẹ như gió thoảng: “Em xin mời hai anh.” Nhẫn và tôi cùng nâng ly và cụng ly vào nhau. Nhưng sao lạ quá! Tôi không nghe tiếng leng keng của thủy tinh chạm vào nhau như thường lệ.

Tôi mơ hồ nghe nghèn nghẹn nơi cuống họng và tự dưng nước mắt tôi như òa vỡ: tôi khóc cho lần tái ngộ với “thằng bạn hiền” của 45 năm về trước.

Vẫn chìm đắm trong không khí âm u nơi “bar” chúng tôi đang ngồi, tôi nghe được chính lời tôi như đang thảng thốt và uất nghẹn:

“Tao đang nhớ mày

Và thương mày lắm

Nhẫn ơi!”

video
play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT