Nguyễn Ngọc Bích
(Chủ tịch Ủy Ban Lâm Thời VNCH)
Ngày 25 tháng 9 vừa qua, nhân dịp sang gặp Tổng Thống Mỹ Barack Obama, Chủ Tịch Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc Tập Cận bình đã nhắc lại một lời khẳng định sai quấy không xứng đáng với một cường quốc và một chính quyền có trách nhiệm. Ðó là, một lần nữa ông nói Trung Quốc có “những quyền lịch sử không thể chối cãi được” về một phần lớn của Biển Ðông – mà trong tiếng Trung Hoa gọi là Nam Hải và người Phi Luật Tân kêu là Biển Tây Philippines.
Ðiều sai quấy trong lập trường của Trung Cộng
Ðiều sai quấy trong lời khẳng định của Trung Cộng có thể thấy qua nhiều cách: Cũng như vịnh Mễ Tây Cơ không thuộc về Mê Hi Cô, hay Ấn Ðộ Dương không thuộc về Ấn Ðộ, biển Nam Hải không hề thuộc về Trung Quốc dù như tên biển này trong tiếng ngoại quốc có thể có thêm tên Trung Quốc ở trong đó (như South China Sea hay Mer de Chine). Thứ nữa, nếu ta nghiên cứu các bản đồ Trung Quốc cho đến đầu thế kỷ 20 ta sẽ thấy là đất cực Nam của Trung Quốc đều ngừng ở đảo Hải Nam và không bao giờ đi xa hơn thế. Nói khác đi là nói dối.
Ngược lại, có rất nhiều tài liệu cũng như bản đồ (do các nhà địa lý Âu Châu hay trong các nguồn lịch sử của Việt Nam, không trừ một số nguồn lịch sử Trung Quốc) cho thấy là ít ra cũng từ thế kỷ 16, quần đảo Hoàng Sa và một phần của quần đảo Trường Sa thuộc về Việt Nam. Tỷ dụ, từ thời các chúa Nguyễn ở Ðàng Trong vẫn có những “đợi Bắc hải, “Bắc” đối với Ðàng Trong) được gởi hàng năm ra ngoài đảo thu những hải sản từ Hoàng Sa về. Dựa vào truyền thống đó, các ngư dân Việt Nam ở chung quanh Ðà Nẵng và nhất là ở Cù lao Ré (tên chữ là Lý Sơn) vẫn coi Hoàng Sa là vùng đánh cá truyền thống của họ, một sự kiện mà cho tới những năm gần đây không ai tranh cãi.
Những “bằng chứng” mà người Trung Hoa đưa ra như các miểng gốm từ đời này đời nọ lượm nhặt được trên đảo thì hiển nhiên là không có giá trị nêu không muốn nói là khôi hài. Không những không thể coi chúng là bằng chứng, nói chi đến bảo đó là bằng chứng khám phá ra các đảo, nhất là khi ta biết phần lớn các tên Trung Hoa cho các đảo ở Hoàng Sa và Trường Sa là những tên dịch hay phiên âm từ tiếng ngoại quốc (tiếng Anh và tiếng Pháp) mới có trong thế kỷ 20.
Trái lại, các chấp ngôn của Việt Nam là rất có cơ sở: Gia Long Hoàng Ðế (1802 1820), chẳng hạn, đã đích thân ra ngoài quần đảo Hoàng Sa vào năm 1819 để chứng tỏ chủ quyền VN, vua Minh Mạng (1820 1840) còn cho người ra đo đạc và cắm mốc chủ quyền ngoài quần đảo Hoàng Sa vào năm 1835; và cũng từ thập niên 1930 người Pháp, lúc bấy giờ là chính quyền ở Việt Nam, đã xây một đài khí tượng ngoài đảo Pattle, đảo lớn nhất ở Hoàng Sa, để đưa ra những thông tin hải hành cho các tàu quốc tế đi qua vùng này ở Biển Ðông mãi cho đến tận tháng 1, 1974 khi Trung Cộng cưỡng chiếm Hoàng Sa từ tay Hải Quân VNCH.
Trung Quốc chỉ mới bắt đầu đòi hỏi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa một cách muộn màng bắt đầu từ năm 1947 khi chính quyền Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới thạch đưa ra một hình vẽ 11 vạch chạy vòng quanh Biển Ðông để có thể tìm cách đòi một số quyền về cho Trung Quốc. Riêng sự kiện con đường 11 vạch này không liền lạc với nhau cũng đủ tỏ là chính quyền Trung Quốc không chắc chắn gì về những đòi hỏi của mình. Con đường đứt nối này chỉ là mộng mơ của một nhà địa lý Trung Quốc vào thời bấy giờ. (Bằng chứng về sự mơ hồ này của Trung Quốc có thể thấy rõ qua sự kiện là về Sau, vì những lý do này khác, con đường 11 vạch đã có lúc được vẽ lại thành 10 vạch, rồi 9 vạch như ngày hôm nay.)
Sự quốc tế công nhận chủ quyền của Việt Nam
Ngược lại, chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được quốc tế công nhận ít nhất qua bốn hội nghị quốc tế trong đó có sự tham gia của nhiều nước:
Hội nghị Hòa Bình San Francisco năm 1951 bác bỏ đề nghị của Liên Xô là hãy trả lại Hoàng Trường Sa về cho Trung Quốc Sau khi Nhật tuyên bố từ bỏ chủ quyền trên hai quần đảo này (bằng 46 phiếu chống, chỉ có 3 phiếu thuận) trong khi đó Thủ TƯớng Trần Văn Hữu của Quốc Gia VN đã lên tiếng đòi chủ quyền trên hai quần đảo mà ông nói đã thuộc về Việt Nam từ lâu. Lời khẳng định của ông Hữu đã không gặp sự chống đối nào và còn được ghi vào kỷ yếu của hội nghị.
Hội Nghị Genève năm 1954, mà ngồi chủ tọa là Ngoại Trưởng Anthony Eden của Anh và ông Chu Ân Lai của Trung Cộng, đã quyết định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về chính quyền miền Nam khi đất nước bị chia đôi ở vĩ tuyến 17 thành hai miền Nam Bắc. Với tư cách đó, ông Chu Ân Lai không thể nói là ông không biết về chuyện này. Khi Trung Cộng vào ngày 4 tháng 9 năm 1958, ở một thời điểm mà ông Chu còn làm thủ tướng, quyết định gộp Tây Sa (tức Hoàng Sa của VN) và Nam Sa (tức Trường Sa của VN) vào lãnh hải của Trung Quốc thì tức là ông đã đi ngược lại lời cam kết của ông.
Hiệp Ðịnh Hòa Bình Paris ngày 27 tháng 1 năm 1973 định nghĩa sự “toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam [tức trong đó có sự toàn vẹn lãnh thổ của miền Nam] như được công nhận bởi Hiệp Ðịnh Genève 1954” (Ðiều 1). Như vậy, theo Hiệp Ðịnh Paris đã không có một sự đổi thay nào trong vấn đề chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Cuối cùng, định ước quốc tế về Việt Nam, ký vào ngày 2 tháng 3 năm 1973 ở Paris, nhằm “bảo đảm việc kết thúc chiến tranh và duy trì hòa bình ở Việt Nam, tôn trọng những quyền quốc gia căn bản của dân tộc Việt Nam, cũng như quyền dân tộc tự quyết của nhân dân miền Nam” và “đóng góp vào và bảo đảm hòa bình ở Ðông Dương,” do 12 quốc gia trên thế giới ký trong đó có năm cường quốc (Hoa kỳ, Pháp, Anh, Liên Xô và Trung Cộng) dưới sự chứng kiến của tổng thư ký Liên Hiệp Quốc vào lúc đó, ông Kurt Waldheim, cũng long trọng cam kết là tất cả các quốc gia đó sẽ tôn trọng “những quyền căn bản của nhân dân Việt Nam, định nghĩa như nền độc lập, chủ quyền, thống nhất, và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam” (Ðiều 2 của Ðịnh ước). Người đại diện nhân danh Trung Quốc ký vào định ước này là Ngoại Trưởng Cơ Bằng phi, rõ ràng là Bắc kinh đã cam kết thêm một lần nữa, một điều họ không thể phủ nhận được. Tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Quốc Vụ Viện Trung Quốc, do đó, là thêm một lần nữa vi phạm ngay lời cam kết của họ.
Những bước xâm lược ngày càng leo thang của Trung Cộng
Bất kể sự vững mạnh không thể chối cãi được của Việt Nam về vấn đề chủ quyền trên Hoàng Trường Sa, Bắc kinh đã tiến hành với một loạt hành động nhằm “đớp từng phần” vào lãnh thổ, lãnh hải VN – một chiến thuật được Tây phương mô tả là “cắt lát” hay còn gọi là “tằm ăn lá” (theo hình ảnh quen thuộc của phương Ðông), chiến thuật “vết dầu loang.”
Năm 1956, Bắc kinh chiếm các đảo phía Ðông của quần đảo Hoàng Sa từ tay của Hải Quân Trung Hoa Quốc Gia của ông Tưởng Giới thạch.
Ðến tháng 9 năm 1958, Bắc kinh đòi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà họ gọi là “Tây Sa” và “Nam Sa”). Trong khi Sài Gòn phản đối kịch liệt và đưa vấn đề ra trước Liên Hiệp Quốc thì Hà Nội, qua một bức công hàm ô nhục của Thủ Tướng Phạm Văn Ðồng (đề ngày 14 tháng 9, 1958) lại đồng thuận với việc tuyên bố của Bắc Kinh dù như Hà Nội không có quyền hạn gì trên hai quần đảo đó.
Tháng 1 năm 1974, Hải Quân Trung Cộng đánh bại một đoàn tàu của quân lực VNCH được gởi ra để bảo vệ chủ quyền của miền Nam. Trong trận hải chiến này, Hải Quân VNCH đã tranh đấu rất anh dũng nhưng cũng đã mất 74 chiến sĩ bị chết trong cuộc đụng độ này.
Tháng 3 năm 1988, Hải Quân Trung Quốc lại đánh chiếm Gạc Ma trong quần đảo Trường Sa và sáu bãi đá ngầm của Việt Nam, đẩy xa sự hiện diện của Trung Quốc tới 800 dặm về phía Nam Hải Nam, điểm cực Nam của lãnh thổ Trung Quốc đến đầu thế kỷ 20.
Tháng 9 năm 1991, Sau sự kiện Liên Xô sụp đổ Hà Nội đã đầu hàng Trung Quốc ở Thành Ðô và phải hứa hẹn bồi thường cho Trung Quốc, dưới hình thức những sự nhượng bộ trên đất liền (mất ít nhất 720 cây số vuông chiến lược trong vùng biên giới giữa hai nước) qua hiệp định ký vào năm 1999 và 11 nghìn cây số vuông biển trong Vịnh Bắc Việt (qua hiệp định ký năm 2000).
Dựa vào những hiệp ước đó, Trung Cộng đã đuổi các ngư dân Việt Nam ra khỏi những ngư trường truyền thống của mình ở chung quanh quần đảo Hoàng Sa, tấn công các tàu đánh cá của VN, như đâm vào, tịch thu các mẻ cá hay hải Sản đã thu được, chưa kể thỉnh thoảng còn bắn chết người, bắt bớ ngư dân VN rồi đòi tiền chuộc. Trong suốt thời gian đó, Trung Quốc củng cố các đảo rồi biến chúng thành một huyện của Trung Quốc dưới tên huyện Tam Sa bất kể những phản đối lấy lệ của Hà nội.
Tháng 5 năm 2012, Bắc Kinh đưa một giàn khoan khổng lồ, Hải Dương 981, vào vùng lãnh hải của Việt Nam và xua đuổi những tàu bè VN ra tìm cách đẩy giàn khoan ra khỏi lãnh hải của VN. Bắc Kinh chỉ rút giàn khoan HY 981 ra Sau hai tháng, vào tháng 7, 2012.
Trung Cộng không chỉ tạo ra những khó khăn cực kỳ cho “đồng minh” trên danh nghĩa của họ là Hà Nội, ngay trong những vùng mà Việt Nam coi là vùng tài nguyên truyền thống của mình trên biển trong đó có việc đánh cá và khai thác dầu khí. Trung Cộng còn xâm chiếm cả những đảo và bãi thuộc về Phi Luật Tân như bãi cạn Scarborough hay dẫy đảo Mischief. Những năm gần đây, Trung Cộng còn đe dọa cả những vùng lãnh hải của Mã Lai Á và Nam Dương, nghĩa là những điểm cực Nam của con đường 9 vạch, một vùng biển mà Bắc Kinh mới chỉ chính thức đòi từ tháng 5 năm 2009.
Gần đây nhất là những hành động xây cất và vượt đất của Trung Cộng tại một số bãi đảo ở Trường Sa cho phép Bắc Kinh biến những bãi đảo đó thành những thành trì quân sự, gây nên những hồi chuông báo động ở tận xa xôi như Ðông Kinh (Nhật bản) và Hoa Thịnh Ðốn.
Thân gởi các bạn Trung Quốc,
Từ sự trình bày trên đây, dựa hoàn toàn vào những dữ kiện chắc chắn, không thể phủ nhận được, các bạn có thể thấy là những hành động của Bắc Kinh đã nói lên dõng dạc tham vọng của giới lãnh đạo, chúng thuyết phục hơn là những câu nói hoa mỹ mà Bắc Kinh thường đưa ra, phủ nhận hoàn toàn những lời tuyên bố hòa bình đến từ Bắc Kinh.
Trung Quốc hiện đang đứng trước nhiều hiểm họa về kinh tế và tài chánh nên họ rất dễ quay sang một giải pháp củng cố quốc phòng nhằm xoa dịu những thành phần hiếu động trong quân lực vì tin rằng nếu kêu gọi đến lòng ái quốc quá khích trong quần chúng, Trung Quốc sẽ có thể trở lại giai đoạn phát triển nhanh chóng của nền kinh tế như trong quá khứ. Chính ngộ nhận này giải thích sự hung hăng của Bắc Kinh trong Hoàng Hải (như trong vụ tranh chấp với Nhật Bản về quần đảo Senkaku/Ðiếu Ngư Ðài) hay việc đòi vô lý chiếm tới 80 phần trăm Biển Ðông Nam Á (Biển Ðông của Việt Nam).
Ngày nay đã quá rõ là dưới sự cầm quyền của Tập Cận bình, Trung Quốc đã từ bỏ thế cách ở trong bóng tối của Ðặng Tiểu bình trước đây mà quay sang một cách tiếp cận bá quyền vừa xứng với thế lực kinh tế ngày càng mạnh của nước này. Song cách tiếp cận mới này đã chỉ gây nên những hồi chuông báo động ở trong hầu hết các quốc gia láng giềng của Trung Quốc, từ Nhật Bản xuống đến các quốc gia trong ASEAN, nhất là những nước nào bao quanh Biển Ðông mà hầu hết không chấp nhận đường 9 vạch của Trung Quốc – một thái độ ăn khớp với phần còn lại của toàn thế giới bởi thế giới chỉ muốn duy trì tự do hàng hải ở trong một vùng biển then chốt đối với thương mại toàn cầu và không chấp nhận những đòi hỏi bất hợp pháp của Bắc Kinh.
Bởi chúng tôi biết rằng giờ đây ở Trung Quốc vẫn còn nhiều bạn Trung Hoa lương thiện và hiểu biết nên cùng với các bạn Phi Luật Tân và Ðông Nam Á khác, chúng tôi kêu gọi đến lương tâm và thiện chí của các bạn để ngăn chặn bàn tay của Chủ Tịch Tập Cận bình và những đàn em trong quân lực của ông ngõ hầu duy trì hòa bình trong một vùng bao gồm không ít hơn 600 triệu dân, buộc Trung Quốc phải tôn trọng Quy ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS) cũng như Tuyên bố về cách Ứng xử (DOC) mà Trung Quốc đã ký kết, đòi Bắc Kinh phải ngưng ngay nếu không phải là tháo gỡ các vụ đùn đắp “hòa bình” nơi các bãi đỗo trong quần đảo Trường Sa mà đang đe dọa hòa bình và ổn định trong vùng và có thể dẫn đến Thế Chiến Thứ Ba.
(Springfield, Virginia, ngày 6 tháng 10, 2015)





































































































































