Trần Ðĩnh và Ðèn Cù (kỳ 1)


Nguyễn Văn Trần


Ðến nay, những người Cộng Sản ở Hà Nội viết về chế độ của họ và những người lãnh đạo chế độ ấy vẫn còn quá ít ỏi. Mỗi người phơi bày những điều họ nghe thấy hoặc chứng nghiệm khi họ là nạn nhơn của chế độ. Nghe, thấy và chứng nghiệm thường bị giới hạn nên những điều được tiết lộ vẫn còn là một phần cực nhỏ của một bộ máy kìm kẹp, gian ác khổng lồ bao trùm kín mít toàn xa hội từ hơn nửa thế kỷ nay.


Chỉ có tên Hồ Chí Minh mà cho tới nay, nhiều sử gia đã mất bao nhiều thì giờ, công sức vẫn chưa biết được hết về con người này một cách rõ ràng. Riêng một chi tiết cực nhỏ là ngày sanh của ông ấy, cũng chưa dứt khoát được. Hay ông có bao nhiêu tên giả? Lấy bao nhiêu phụ nữ, có bao nhiêu con rơi, thủ tiêu bao nhiêu người? Hãy còn trong bóng tối dầy đặc!


Trần Ðĩnh trong Ðèn Cù hơn 600 trang giấy cũng chỉ ghi lại được đây đó một số sự việc của chế độ, tức về người,và việc trong phạm vi quan hệ với ông. Nhưng ông đã nói hết chưa?


Cách Trần Ðĩnh kể chuyện làm cho người đọc dễ nghe, dễ ghi nhận. Như có gì chơn chất.


Cách nay hơn mươi ngày, Ông Ðinh Quang Anh Thái gởi tôi vài chữ có thêm lời muốn tôi có ý kiến về Ðèn Cù vì biết tôi đã đọc qua. Tôi lỡ hứa.


Tôi viết như đã hứa để trả lễ ông Ðinh Quang Anh Thái. Tôi sẽ viết điều tôi ghi nhận sau khi đọc qua. Tôi viết cũng theo cách tôi học được ở ông Trần Ðĩnh là “thấy đâu viết đó.” Tôi không dám phê bình vì thật tình tôi không có khả năng đó.


Trần Ðĩnh và Hồ Chí Minh


Trần Ðĩnh là một nhà báo, nhà văn của đảng Cộng Sản Hà Nội. Ông viết từ báo Sự Thật, copie của Nga, tiền thân của Nhân Dân, nay là copie của Tàu. Trước sau Hồ Chí Minh, từ tên đảng Cộng Sản cho tới tên báo, tên nhà xuất bản, nhứt nhứt phụ thuộc Nga và Tàu, không hề dám có một tên hiệu của Việt Nam do chính mình chọn. Trần Ðĩnh là một người viết suốt đời trong hệ thống lệ thuộc đó.


Tới Ðèn Cù, ông mới hé lộ ra ông “thất tình thần tượng Hồ Chí Minh” của ông khi Lê Duẩn và phe cánh chủ trương theo Mao Trạch Ðông áp dụng tối đa bạo lực võ trang với chiến thuật biển người xâm lược miền Nam mà Hồ Chí Minh không dám lên tiếng can thiệp như ông mong đợi. Thần tượng trong tim ông sụp đổ vì Hồ Chí Minh không phải là anh hùng, một vị lãnh tụ anh minh như ông tưởng.


Cũng may chớ nếu ông nghĩ Hồ Chí Minh muốn can thiệp để Lê Duẩn không đẩy mạnh chiến tranh vào Nam ngay vì muốn hòa hoãn để có giải pháp chánh trị, ông sẽ thất vọng nhiều hơn. Hồ Chí Minh không dám cả quyết theo Lê Duẩn dốc toàn lực đánh mạnh chỉ vì sợ thất bại mà thôi. Cái do dự của người lớn tuổi, khác hơn bản tánh du côn, liều mạng của Lê Duẩn. Mà thất bại thì sự nghiệp lãnh tụ của Hồ Chí Minh từ ngày “xin học trường thuộc địa” sẽ bỗng chốc thành mây khói hết. Nên nhớ Hồ Chí Minh đã từng tuyên bố, “Ông sẵn sàng đốt cả dãy Trường Sơn để giải phóng miền Nam kia mà. Hồ Chí Minh là người sẵn sàng làm tất cả cho đảng Cộng Sản của ông! Tên tuổi, danh vọng và cả cuộc đời của ông gắn liền với đảng Cộng Sản!


Nhưng khi ông phải xuôi theo Lê Duẩn là để bảo vệ ngôi vị chủ tịch nước và tên tuổi đã lỡ có nổi cợm quá lớn của ông, khi chết được quốc táng, mồ mả hoành tráng. Suốt đời Hồ Chí Minh khéo léo lách mình như lươn chỉ để thực hiện tham vọng tột cùng là làm chủ tịch nước, “Cha già dân tộc,” phục hận thời trẻ khó khăn, gian khổ, cha bị bãi chức vì say rượu xử phạt đánh chết phạm nhơn, phải tìm đường vào Nam mưu sanh. Khó nói Hồ Chí Minh là người yêu nước vì bàn tay của ông chỉ bết đầy máu những người yêu nước lương thiện. Trong quá khứ, có bao nhiêu cơ hội đã có thể giải quyết vấn đề Việt Nam bằng chánh trị để đem lại độc lập và thống nhứt đất nước nhưng ông đều từ khước vì giải pháp đó không phải cho quyền lợi Cộng Sản Ðệ Tam. Cũng như Võ Nguyên Giáp chịu xếp hia mão trước uy quyền của Lê Duẩn và Lê Ðức Thọ chỉ để bảo vệ danh tiếng đại tướng, người hùng Ðiện Biên, chết được đám ma rùm beng, bảo vệ sự nghiệp của con cháu. Ðã “Chịu đấm [để] ăn xôi mà xôi lại [không] hẩm,” thì còn gì hơn?


Trần Ðĩnh có kể Hồ Chí Minh, nhờ Mao giới thiệu, qua Mạc Tư Khoa năm 1952 được yết kiến Staline và sau đó, Staline đưa qua cho Mao “phụ trách” để chuẩn bị mở chiến dịch Cải Cách Ruộng Ðất. Nhưng không thấy ông kể lại một giai thoại khá lý thú này. Trong lúc hội khiến Staline, Staline kéo 2 chiếc ghế chỉ cho Hồ Chí Minh và nói, “Ðây là ghế địa chủ, còn đây là ghế nông dân. Ðồng chí muốn ngồi ghế nào?” Lúc về Việt Nam, Hồ Chí Minh chỉ ra lệnh chuẩn bị làm cải cách ruộng đất, chọn cán bộ gởi qua Tàu thụ huấn, không kể lại chuyện này và cũng không nghe ông nói là ông đã chọn chiếc ghế nào (Pierre Brocheux, Ho Chi Minh, du révolutionnaire à l’icône, Paris, 2003).


Trong Ðèn Cù và trả lời đài phát thanh, Trần Ðĩnh thú nhận rất rõ trước kia ông mê Hồ Chí Minh vô cùng nhưng sau này, ông thất vọng lắm. Nhưng lại không thấy phản ứng tự nhiên phải có của ông trong Ðèn Cù về sự gian ác có một không hai của Hồ Chí Minh trong vụ đấu tố và xử tội địa chủ của bà Nguyễn Thị Năm khi ông kể lại Hồ Chí Minh bịt râu để ngụy trang và Trường Chinh mang kiếng đen che bớt mặt tới dự khán. Vâng lệnh Tàu làm cải cách ruộng đất, phá tan hoang đất nước là đã quá dã man rồi. Ra lệnh giết người lương thiện yêu nước là cái gian ác chánh trị, viết báo tố cáo tội ác của bà Năm mà những tội ác hoàn toàn do Hồ Chí Minh bịa đặt ra dưới tên CB, ngụy trang đi chứng kiến phiên xử tội của người lương thiện, ân nhân của kháng chiến, của đất nước, là thứ gian ác thuộc bản chất của con người cộng sản tinh ròng.


Cũng về Hồ Chí Minh, Trần Ðĩnh kể cuối năm 1942 ở Hoa Nam, Tưởng Giới Thạch tổ chức đại hội thành lập Việt Nam Ðộc Lập Ðồng Minh Hội để thống nhứt các tổ chức Việt Nam chống Nhựt và làm tình báo cho Tàu. Tưởng biết Hồ Chí Minh là Cộng Sản nên bắt giam để Hồ Chí Minh phải ngả theo Tưởng. Nhờ tập thơ (Ngục Trung Nhựt Ký) bày tỏ tâm sự “tôi đây yêu nước chứ không cộng sản” rồi nhờ có thêm người như Hồ Học Lãm nói với Trương Phát Khuê. Hồ Chí Minh ra tù và lãnh đạo Việt Nam Cách Mạng Ðồng Minh Hội (Ðèn Cù, tg 39).


Trần Ðĩnh ở chỗ này không nói rõ Hồ Chí Minh ra tù lúc nào. Nhưng trong thời gian đó, Hồ Chí Minh không thể ở tù và cũng không thể làm những bài thơ tù về hoàn cảnh lúc đó được. Bởi lúc đó, Hồ Chí Minh ở Cao Bằng và làm báo Việt Nam Ðộc Lập. Xin mời xem Bee.net.vn, 05/02/2010, trích dẫn lại từ báo Việt Nam Ðộc Lập:


“Ngày 5 tháng 2, 1943, ứng với ngày mùng 1 Tết Quý Mùi, bài thơ ‘Mừng Năm Mới’ vốn được đăng trên báo ‘Việt Nam Ðộc Lập’ số đầu năm dương lịch 1943 (Báo Việt Nam Ðộc Lập 1941-1945”, cơ quan tuyên truyền của Việt Minh tỉnh Cao Bằng, NXB Lao Ðộng, Hà Nội 2000), đã đến với nhân dân trong không khí đang sục sôi cách mạng.


Bài thơ là một bản phân tích tình hình thế giới và đón chờ cơ hội:


Mừng Năm Mới


Một nghìn chín trăm bốn mươi ba
Năm mới tình hình hẳn mới
Ðông Á chắc rồi Tàu thắng Nhật
Tây Âu nhất định Ðức thua Nga
Nhân dân các nước đều bùng dậy
Cách mệnh nhiều nơi sẽ nổ ra
Ðức, Nhật chết, rồi Tây cũng chết
Ấy là cơ hội tốt cho ta


Ấy là cơ hội tốt cho ta
Cơ hội này ta chớ bỏ qua
Phấn đấu hy sinh đừng quản ngại
Tuyên truyền tổ chức phải xông pha
Ðồng tâm một triệu người như một
Khởi nghĩa ba kỳ dậy cả ba
Năm mới quyết làm cho nước mới
Non sông Hồng Lạc gấm thêm hoa.


Nếu cuối năm 1942 qua đầu năm 1943, Hồ Chí Minh có ở tù thiệt, và có làm thơ tù trong thời gian này thì báo Việt Nam Ðộc Lập phải đem đốt đi. Hoặc trái lại, tập thơ tù phải đem trả lại cho tác giả thật của nó.


Ðây là một vụ án văn học rất quan trọng cần phải sớm được giải quyết sòng phẳng.


Trần Ðĩnh sau 30 Tháng Tư, 1975


Một năm rưỡi sau 30 Tháng Tư, 1975, Trần Ðĩnh mới được phép vào Sài Gòn vì ông mang tội xét lại chống đảng, tức chống chủ trương đánh mạnh, đánh gấp rút chiếm cho được miền Nam, nên ông không có quyền chia sẻ cái chiến thắng đó. Sự từ chối cấp phép cho ông có ý nghĩa rất cụ thể. Ông không dấy máu nên không được ăn phần. Những ngày đầu, của cải của miền Nam hãy còn đầy ắp. Hơn năm rưỡi sau, vào Nam chỉ còn đi chợ Trời Huỳnh Thúc Kháng, Lăng Cha Cả,…


Ngày đầu tiên vào Sài Gòn, bà Dương Thu Hương ngồi bẹp xuống lề đường ôm mặt khóc ngất. Bà giác ngộ cách mạng Cộng Sản làm giải phóng miền Nam được Hà Nội tuyên truyền làm động lòng người là nơi bà con ta bị Mỹ Ngụy kìm kẹp, bóc lột, không có cái bát ăn cơm! Bà đã vượt Trường Sơn, đem “tiếng hát át tiếng bom.” Có nhiều lúc phải ăn thức ăn của heo vì đói. Ðể vào cứu đồng bào miền Nam!


Ông Trần Ðĩnh ngủ đêm ở Ðà Nẵng và tỉnh giấc trông thấy tượng Quán Thế Âm bồ tát, tĩnh lặng, tỏa sáng ngay trên đầu. Ông chợt thấy lòng êm ả lạ. Ðược an ủi. Một điềm lành rất lớn, rất hãn hữu, đem lại cho ông một thứ hạnh phúc chơn thật tuyệt vời. Ðã tiếp nhận ánh sáng của Ðấng Cứu khổ nhưng không biết đủ để ông giác ngộ chưa?


Trần Ðĩnh rất buồn vì chưa được tin tức cha mẹ và các em ở trong Sài Gòn. Buồn hơn vì không biết nhân dân miền Nam sẽ sống ra sao trong những ngày tới khi đảng đã bố trí đầy đủ bộ máy lãnh đạo xã hội chủ nghĩa. Một hôm gặp một người bạn vào Sài Gòn trước trở về thuật lại cho ông biết về đời sống của dân ở miền Nam. Ồ, sung sướng lắm! Họ toàn tư sản cả. Ông bạn mê nhứt là đi toa lét vì phòng toa lét rộng, thoáng, sang và thơm phức. Văn phòng của phó ban ta thua xa!


Nhờ Thép Mới tìm được gia đình của ông ở đường Nguyễn Thông, gần Kỳ Ðồng, Quận 3, Sài Gòn. Khu gia cư tiểu tư sản. Ông cụ của ông nhờ Thép Mới làm giấy chứng nhận là “tủ sách gia đình hiến cho báo Nhân Dân” để còn giữ lại được. Trần Ðĩnh, mang bản án xét lại chống đảng, không thể làm giấy giới thiệu “gia đình cách mạng” được. Bùa Lỗ Bang hết linh với âm binh. Ông gởi vào mấy cái huân chương kháng chiến nhưng trẻ con đã lấy làm cầu đá chơi rồi.


Cơ quan báo chí họp nghe truyền đạt ý kiến của Thủ Tướng Phạm văn Ðồng về chánh sách đối với quân nhơn và viên chức chánh phủ VNCH mà lạnh xương sống, “Ta nhân đạo đưa họ đi cải tạo để trở lại làm người, kẻ nào không chịu mà chống lại thì ta sẽ đối xử như chó.” Bữa ấy cũng truyền đạt lời Lê Ðức Thọ, “Ta để cho họ tạm buôn bán thế mà đã có anh em chất vấn. Họ như con chim ta nắm trong lòng bàn tay: cần đến ta bóp lại ngay thôi mà.”


Trần Ðĩnh thấy rõ bà con trong Nam từ nay là đồng minh không cần cam kết, họ sẽ bị đày ải như dân ngoài Bắc trước đây.


Ông gặp lại bà con ở Sài Gòn nói chuyện, hỏi han, gặp lại cán bộ, bộ đội từng vượt Trường Sơn, đi B, nay về vườn, cũng mò vào Nam sanh sống. Có người không muốn gì khác hơn, không muốn biệt thự, không muốn xe hơi, chỉ muốn Mỹ trở lại bỏ bom cho chết hết. Cái uất hận của người dân vì thực tế đã đập vỡ mộng của họ từng ôm ấp trước kia. Mộng là sức mạnh làm cho con người ta vượt qua mọi gian lao, nguy hiểm, để chiến đấu, để sống, để mong đợi. Cộng sản động viên được lòng dân vì giỏi xây mộng cho nhân dân. Ngày mai này, khi cách mạng giải phóng được miền Nam thì bao nhiêu quyền lợi, bạc tiền, đất đai đều là của nhân dân cả.


Mộng là kết tinh của lòng tham con người. Trần Ðĩnh chứng nghiệm thực tề ở Việt Nam sau khi im tiếng súng. Kẻ có quyền đạt được mộng giàu có, nhà cao, cửa rộng, xe cộ bóng nhoáng, người ở người hầu. Kẻ “áo chưa khô máu” thì mới bị vỡ mộng, trở lại thân phận khố rách, áo ôm. Riêng nông dân chủ lực của cách mạng, là khổ hơn ai hết!


Trần Ðĩnh thấy thấm thía câu, “Chiến thắng mang gương mặt khổ đau cùng cực” của nữ thi sĩ Nga, bà Olga Bergolzt, bị đày ải suốt đời vì bà sáng suốt và can đảm nói thay cho tất cả những ai sống với Cộng Sản. Thấy mà không dám nói. Hay không nói vì vô minh.


Giờ đây, ông thấy rõ Cộng Sản chỉ còn lo bành trướng quyền lực là nhu cầu duy nhứt phải làm để bảo vệ quyền lực của phe cánh cầm quyền. Còn dân, vỡ mộng, dân có nhu cầu trừng phạt cái tội của đảng lừa dân. Và cậy bất cứ cái gì không phải cộng sản. Cả Ngụy trở về, Mỹ trở lại cũng được!


Ông cụ của Trần Ðĩnh hài lòng thấy con của mình đã “sáng mắt, sáng lòng” nên viết báo tin với người thân “Il faut célébrer la grande sortie de Ðĩnh.” Nhưng thật sự Trần Ðĩnh đã giác ngộ lẽ phải chơn thật, đã thật sự tách đạo đức khỏi chánh trị, đã tự tiêu hủy con người cộng sản của mình chưa? Dứt khoát, rốt ráo như lúc ông đưa tay trái lên thề trước búa liềm, trước hình Lê-nin, Staline và Mao? Hay ông chỉ mới “sorti” trong suy nghĩ, trong “nhựt ký” mà cũng mới định viết?


Khi nghe đảng viên kêu gọi nhau chú ý theo dõi phản ứng của quần chúng trước sụ kiện này, sự kiện nọ, ông đôi khi còn cảm thấy xấu hổ. Vì bị án xét lại chống đảng nó ám ảnh. Tư cách đảng viên là cái mộc che chắn nay bị rơi xuống và ông muốn rên thành tiếng. Ông cảm thấy ông không còn là ông nữa vì không còn trong đảng, tức trong thứ “bầy đàn.” Chính “bầy đàn” đã làm ra con người Trần Ðĩnh từ năm 19 tuổi. Nhưng ông thừa nhận còn giữ được ở trong sâu thẩm con người ông cái bản tánh lương thiện, cái chất “thú hoang,” nó giúp ông tự vệ.


Sống thật với người thân, với đất nước, dần dần ông nhận diện được kẻ đã đày ải ông và ông thấy hạnh phúc. Theo thời gian qua, ông đã nhận ra tội ác và lên án nó. Ông đã không quì gối trước nó cũng như ngay thẳng nhận mình từng có đi theo nó, tội ác.


Ở điểm này, Trần Ðĩnh không nói rõ “tội ác” là Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ, những kẻ đã đày ải ông vì tội xét lại chống đảng hay “tội ác “ là cái đảng Cộng Sản mà suốt đời ông phục vụ? Hồ Chí Minh có phải thật sự là nhà cách mạng ái quốc không? Hay chỉ là kẻ đại gian, đại ác? Nhưng nếu chỉ một mình Hồ Chí Minh thì không đủ. Phải có thêm những người cùng mang chủng tử ác mới “gian nhân hiệp đảng” được. Vì vậy mà đảng Cộng Sản mới gây nên tội ác tày trời, đày đọa cả dân tộc được.


Ở Việt Nam ngày nay, Trần Ðĩnh thấy người dân bình thường được đảng dạy trong đời sống hằng ngày “cái đẹp là đểu, chỉ có cái xấu là thật.”


Không biết sau khi viết Ðèn Cù, Trần Ðĩnh có chuyển biến thêm tư tưởng nữa không? Có thật sự giác ngộ như ngày xưa đã giác ngộ cách mạng? Hay chỉ một thái độ bất mãn vì bị khai trừ khỏi đảng? Và ông còn ray rứt không?


Vài nhận định của Trần Ðĩnh về chế độ


Ðọc qua Ðèn Cù, người đọc có thể ghi lại vài nhận định của Trần Ðĩnh về chế độ ở Hà Nội của ông. Tư tưởng của ông có chuyển biến, nhưng con người ông đã thật sự mới chưa?


Trần Ðĩnh trước đây vẫn bảo thủ ý “phi cải cách ruộng đất bất thành chiến sĩ cách mạng chân chính.” “Nhưng sau đó ông lại phản tỉnh [Hãy cảnh giác với thần tượng, và bỏ thần tượng]!


Do đó hãy tin trước hết ở lương tri, bản chất mình, gắng là chính mình, chớ nghe sai phái. Hãy dám phê phán, dám lên tiếng, và dám chịu đựng. Cái đó nhờ phong trào phái hữu (ở Bắc Kinh lúc du học), mà ông say sưa, sung sướng chứng kiến, phủ nhận chủ nghĩa xã hội, độc quyền lãnh đạo, những mỹ từ có tính bùa phép khiến một lớp người ít ỏi bỗng trở thành thần thánh. Phong trào chống sùng bái cá nhân ở Liên Xô ông tiếp nhận tại Bắc Kinh. Rồi kế theo là phong trào đòi dân chủ của phái hữu Trung Quốc (Ðèn Cù, trg 156).


Ông phê phán tư tưởng Mao hiếu chiến. Ông muốn phải có một đảng theo đúng học thuyết cộng sản khoa học yêu hòa bình (Ðèn Cù, trg 354).


Ở ta, yêu nước không được đảng đóng dấu xác nhận là công cốc, thậm chí còn là điều nguy hiểm. Bởi theo đảng thì ranh giới giữa yêu nước và phản động vô cùng mong manh.


Tự do này là nhằm cho loài người, do đó nó phải giam tự do của cá nhân vào trong cái lồng tập thể, đúc bằng kỷ luật thép mang tên chế độ tập trung dân chủ. Thế là cuộc đời liền bị giằng xé giữa 2 thứ tự do đối chọi nhau vô cùng nước lửa. Ðể không chóng thì chày tất nhiên đi tới chống đảng, cái tổ chức độc quyền tất cả: bao cấp toàn bộ độc lập, tự do, chính nghĩa, đạo đức, nhân dân, đất nước, chân lý, quy luật, rồi miếng ăn, chỗ ở, hôn nhân, ma chay, quyền sống, phận chết đã được đảng thiết kế cho mỗi hạng người, mỗi con người (Ðèn Cù, trg 44- 45).


“Trần Ðĩnh sám hối đã viết truyện Bất Khuất như bồi bút.”


Ông đề cập phái hữu ở Bắc Kinh. Phải hiểu nó gồm một lớp người khá đông học ở ngoại quốc về và họ hoạt động mạnh, gần như công khai, trong giới đại học, nghiên cứu, sau khi Mao chết, Ðặng Tiểu Bình đưa ra chánh sách đổi mới. Họ chủ trương phải cất tư tưởng Mao Trạch Ðông vào tủ, lấy học thuyết Khổng Mạnh thay thế làm kim chỉ nam (Emilie Frenkiel, Parler politique en Chine, Puf, Paris, 4.2014). Vì ảnh hưởng Tây phương, họ chủ trương phải dân chủ hóa chế độ. Nhưng hoạt động của họ vẫn trong khuôn khổ đại học, chưa phổ biến vào quần chúng. Việt Nam chưa có điều kiện nhân sự như ỏ BắÔc Kinh.


Còn ông cho rằng “học thuyết Cộng Sản khoa học yêu hòa bình” thì quả thật ông bị thấm nhuần Cộng Sản quá lâu nên vẫn còn mơ hồ. Ông không thấy thực tế Cộng Sản đã sụp đổ trọn vẹn trên ngay quê hương của nó chỉ vì nó không khoa học, nó không đủ sức mở ra tương lại. Cộng Sản chỉ dùng bạo lực cướp chánh quyền chớ chưa bao giờ được dân chúng ủy nhiệm bằng bầu cử và cầm quyền. Quyền lực đến từ họng súng, như Mao dạy. Có nơi nào Cộng Sản yêu hòa bình chơn thật không? Hay hòa bình là phải theo cộng sản?


Nhưng dầu sao, viết Ðèn Cù, Trần Ðĩnh đã đặt vấn đề theo đảng Cộng Sản là theo tội ác. Có đặt vấn đề, có suy nghĩ, có thấy vẫn hơn vạn lần những kẻ ngày nay ăn cơm Tây, cơm Mỹ, nằm nhà thương Tây, nhà thương Mỹ, lãnh phụ cấp của Tây, Mỹ, ỏm tỏi phê bình dân chủ, tự do ở xứ tự do, mà ôm đầu chạy về phủ phục với Cộng Sản Hà Nội đang khủng bố dân chúng, cướp tài sản của dân và bán nước cho Tàu.


(Còn tiếp)

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT