Trần Ðĩnh và Ðèn Cù (kỳ 2)


Nguyễn Văn Trần


Về Hồ Chí Minh


Ông sanh năm 1891. Cả Khiêm, anh của ông xác nhận, có bằng chứng hẳn hoi trong gia đình và họ hàng. Cả Bà Thanh, chị của ông, cũng xác nhận năm sanh 1891. Báo cáo với ông thì ông nói “của người ta thế nào thì cứ để thế không sửa gì hết.”


Lãnh tụ lúc nào cũng được phục vụ chu đáo tuy đang ở trên rừng. Những năm 1949, Lang Bách thường kỳ chế rượu thuốc cho Hồ Chí Minh uống. Một lần được hỏi giá bao nhiêu tiền 4 chai này, anh cho biết giá bằng sinh hoạt phí mấy tháng của những người ngồi đây. Thuốc bắc quý thì đắt mà lại phải mua trong Hà Nội. Có khi người mang ra bị Tây phục kích chết ở đường số 5 nữa ấy chứ (Ðèn Cù, trg 196). Rượu thuốc Minh Mạng hay toa thuốc bổ dương của Mao rất có tiếng?


Một hôm Tố Hữu đưa cho Trần Ðĩnh 2 tập sách của mật thám Pháp sưu tra Nguyễn Ái Quốc, kể đầy đủ những việc ông ta làm dưới con mắt 2 mật thám sưu tra cùng ký tên. Như “Nguyễn đi bệnh viện Cochin (Paris, XIV) trích áp-xe (abcès) tay lúc mấy giờ. M., người tình của Nguyễn mấy giờ đến, mấy giờ đi. Nguyễn học thôi miên buổi tối ở đâu.” (Ðèn Cù, trg 176).


Ở An Toàn Khu, Lý Ban phụ trách Hoa Kiều Vụ. Lý Ban hoạt động ở Quảng Ðông, vợ Tàu, và nói tiếng Việt thua Tàu phá sa bờ Hồ. Ông là người đầu tiên sang Bắc Kinh chuẩn bị cho việc Hồ Chí Minh lần đầu tiên với tư cách chủ tịch nước sang Bắc Kinh để trình diện Bắc Kinh mong được thừa nhận.


Tháng 10, 1949, nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa ra đời. Hơn 2 tháng sau, Hồ Chí Minh bí mật len qua vùng địch ở Phục Hòa, Cao Bằng, đi Trung Quốc qua Thủy Khẩu. Trần Ðăng Ninh, Vũ Ðình Huỳnh, Phạm Văn Khoa theo ông. Lý Ban vốn tỉnh ủy viên Quảng Ðông đi tiền trạm.


Ông sang kiểm thảo với Mao Trạch Ðông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Ân Lai. Sau đó, Staline đã phân công Trung Quốc “phụ trách” Việt Nam. Nghe qua, Trần Ðĩnh cụt hứng. Nghĩa là Staline bàn giao Cho Trung Quốc quản lý Việt Nam, tức cai trị Việt Nam thay thế Liên Xô ở xa. Chiến tranh biển người ở Ðông Dương của Mao Trạch Ðông khởi động từ sự phân công rất quan trọng năm 1950 của Staline! Ðúng như Hồ Chí Minh nói với vẻ ngụ ý khiêm tốn “Mao mới có tư tưởng chánh trị,” tức có tài tính toán xa, chớ ông chỉ có tác phong thôi, tức vâng lời.


Hồ Chí Minh đã bị Lê Duẩn không cho tham dự họp Bộ Chánh Trị, còn ra tay hạ ông sát ván. Lê Duẩn cho lệnh công bố Hồ Chí Minh là tác giả đích thực của 2 cuốn hồi ký: “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch của Trần Dân Tiên “(NXB Trẻ Sài Gòn 2008) và “Vừa đi vừa kể chuyện của T. Lan” (NXB Trẻ Sài Gòn 2007) và cho phổ biến thật rộng, đưa cả vào sách giáo khoa của Hà Minh Ðức (Hà Minh Ðức, Tác phẩm văn của chủ tịch Hồ Chí Minh, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội 1985, trang 132 và trang 142).


Một hôm, khoảng năm 1987, nhà toán-tin học số 1 Hà Nội, Ông Phan Ðình Diệu gặp bạn bè ở Paris, trả lời một câu hỏi của bạn về trường hợp tại sao tiết lộ chánh thức Hồ Chí Minh là tác giả 2 tập sách kia, ông giải thích: “Sau 30 tháng 4, 1975, Lê Duẫn quyền khuynh thiên hạ, tự nghĩ là mình tài trí cao hơn Hồ Chí Minh một bực, bèn tìm cách hạ bệ Hồ Chí Minh thêm một cú ân huệ, để tự nâng cao mình lên tột đỉnh. Công bố Hồ Chí Minh là tác giả 2 quyển hồi ký trong đó Hồ Chí Minh tự đề cao mình là nhằm lố bịch hóa Hồ Chí Minh! Cho người đời nhìn thấy chính bác viết hồi ký để tự bốc thơm bác! Phan Ðình Diệu rất thân thiết với Võ Nguyên Giáp.


Thế lực bá quyền của Trung Quốc trên đảng CSVN từ 1950


Ở hội nghị 9, Lê Duẩn đã xác định rỏ “tư tưởng Mao Trạch Ðông là tư tưởng Lê Nin của thời đại ba dòng thác cách mạng Á-Phi-La” (Á Châu, Phi Châu, Châu Mỹ la-tinh).


Lê Duẩn suy tôn Mao làm lãnh tụ thì mới hạ Hồ Chí Minh được để lên ngôi thay thế. Áp dụng ngay chiến thuật biển người của Mao ở Ðông Dương, nắm trong tay quyền lực chiến tranh, Lê Duẩn thực hiện tham vọng thay thế Hồ Chí Minh trên thực tế trước. Và tham vọng của Lê Duẩn làm thương vong hơn 10 triệu sinh mạng nhân dân Việt Nam. Con số này, Bà 7 Vân, vợ bé của Lê Duẩn, xác nhận trên BBC trả lời phỏng vấn của Ông Xuân Hồng. Bà còn nói thêm, “Lê Duẩn có thể hy sinh thêm nữa nếu Trung Quốc không viện trợ nhiều hơn.”


Phần 2 tối mật của Nghị quyết 9, cuối năm 1963, là quyết định tiến hành chiến tranh giải phóng miền Nam! Lê Duẩn và Nguyễn Chí Thanh theo chủ trương của Mao đã thắng thế trong đảng. Nghị quyết 9 đưa ra nhắm lúc ở miền Nam cánh quân nhơn, sau khi hạ được chế độ Ngô Ðình Diệm, thừa thắng xông lên, tranh quyền thay phiên đảo chánh, làm cho miền Nam suy yếu. Lê Duẩn biết lợi dụng thời cơ.


Năm 1954, những người đi kháng chiến thật sự vì lòng yêu nước, nay hết chiến tranh, họ chọn ở lại làm ăn, sống hạnh phúc với gia đình. Cuối những năm 50, chánh quyền Ngô Ðình Diệm đưa ra chánh sách rất hay, phục hồi “Tinh thần kháng chiến” cho những người đi kháng chiến chỉ thật vì lòng yêu nước, tách biệt với Việt Minh Cộng Sản. Cho phát hành tờ báo “Kháng Chiến” làm phương tiện tập hợp.


Nhưng khi những người kháng chiến không Cộng Sản thật thà tập hợp lại thì bị chánh quyền kiểm soát chặt chẽ, như trình diện, khai báo, tối tập trung họ lại ngủ ở trường học, đình chùa. Lo sợ, họ tìm cách lẩn trốn tập hợp. Họ bắt đầu bị lùng bắt, gia đình họ bị khủng bố. Còn những người đi tập kết, phần lớn tập kết sang Miên, Lào. Và một số được lệnh chôn súng, bám trụ. Khi Nghị quyết 9 chiến tranh ban hành cuối năm 1963, họ kết hợp lại và tràn ngập lãnh thổ VNCH bằng đường bộ, đường sông, đường rừng!


Và cũng từ đây, Hồ Chí Minh thôi họp Bộ Chánh Trị vì sức khỏe. Võ Nguyên Giáp, Lê Liêm ngồi chơi xơi nước, học nhạc lý và đánh piano. Ung Văn Khiêm thôi ngoại giao.


Vậy năm 1975, Mỹ thua Mao ở Cao Miên và Sài Gòn chớ không phải thua Lê Duẩn và Pol Pot. Người đánh cờ thua nhau. Riêng sự sụp đổ của VNCH có lẽ đã được báo trước từ năm 1963. Nhưng VNCH sụp đổ ngoài sự quản lý của Mao. Lúc đó Mao cũng đã già yếu, bịnh hoạn. Ðặng Tiểu Bình chưa kịp lên ngôi. Cơ hội tốt ngàn năm một thuở cho Lê Duẩn tung hoành cả Ðông Dương. Ðây là giai đoạn vàng son của đảng Cộng Sản Hà Nội. Và Việt Nam được độc lập tạm thời trong khối xã hội chủ nghĩa.


Xét sự nghiệp của Lê Duẩn. Lê Duẩn giết hơn 10 triệu người Việt Nam để làm “chiến tranh giải phóng cho Trung Quốc và Liên Xô.” Ðó là tội diệt chủng và tội xâm lược VNCH theo luật pháp quốc tế. Ðối với nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Lê Duẩn mang tội phản nghịch. Ðối với dân tộc Việt Nam, Lê Duẩn là tên nô lệ ngoại bang và đưa Việt Nam vào tròng lệ thuộc ngoại bang: tội trước Tòa án nhân dân và lịch sử Việt Nam.


Lê Duẩn phải được đặt ngoài vòng pháp luật.


Mao Trạch Ðông chỉ chọn một mình Lê Duẩn làm chiến tranh ở Việt Nam vì biết Lê Duẩn kiểm soát được đảng Cộng Sản và bản tánh du côn, tham vọng lớn nên dễ sai khiến. Chọn được một tay sai đắc lực thì phải loại bỏ những người khác.


Về Mao Trạch Ðông


Mao Trạch Ðông từ lâu không cam làm “anh hai” trong phe xã hội chủ nghĩa. Staline chết, đó là cơ hội cho Mao đặt lại tư cách đại lãnh tụ. Mao lợi dụng hậu quả đấu tố của Ðại hội 20 ở Mạc Tư Khoa để công khai đả kích Liên Xô.


Ðã ngờ câu nói “Thiên hạ đại loạn, Trung Quốc được nhờ.” Nhưng lúc ấy, Trần Ðĩnh vẫn chưa bắt được trúng nọc của nó. Ðó là có xúi và giúp Việt Nam và thiên hạ đổ máu đuổi Mỹ đi khỏi Việt Nam và Ðông Nam Á thì Trung Quốc mới quàng lấy được hết Biển Ðông và Châu Á.


Xúi Hà Nội đánh Mỹ, Mao giấu đi mục tiêu chiếm Biển Ðông, tuy Chu Ân Lai đã công khai đòi chủ quyền biển đảo từ 1949.


Mao cho làm chiến tranh biển người ở Ðông Dương từ 1949, phá bỏ cái Quốc Tế Cộng Sản để Trung Quốc mới tiến lên ngang ngửa với Nga và Mỹ được.


Từ 1957, Mao đã nhận định đúng tương quan thực lực giữa Liên Xô và Trung Quốc. Hiện nay (2014), Nga chỉ có khoảng 150 triệu dân, kinh tế lụn bại như một nước chậm tiến, trong khi đó Trung Quốc có từ 1.5 tỷ đến 2 tỷ dân, kinh tế chỉ thua Mỹ. Trong tương lai không xa, Trung Quốc sẽ khống chế vùng Tây Bá Lợi Á của Nga, Mông Cổ và Trung Á, về kinh tế và dân cư, và tranh hùng với Mỹ trong thế giới mới chỉ còn lưỡng cực! Lúc ấy, theo Trần Ðĩnh, ông không nghĩ nổi Việt Nam cần phải theo Mao, vừa đánh phe “xét lại chống đảng,” vừa phải đánh Mỹ tới người Việt Nam cuối cùng như một thế chấp nộp Trung Quốc. Nhưng chắc Mao vẫn chưa hài lòng lắm vì Hà Nội vẫn chưa nộp Võ Nguyên Giáp.


Từ vụ Nhân Văn Giai Phẩm phụ họa cho Cộng Sản Tàu đàn áp cánh hữu nổi lên đòi tự do ngôn luận ở bên Tàu tới 10 năm sau là vụ “xét lại chống đảng” hưởng ứng cuộc vận động của Tàu nhằm sắp xếp lại thế trận làm tan phe Cộng Sản Quốc Tế dưới trướng Liên Xô mãi kìm hãm Trung Quốc ở vị trí phó tướng và thay đổi cục diện thế giới có lợi cho Trung Quốc, tất cả có thể nói Việt Cộng đã hăng hái dọn đường rước Trung Cộng tới thống trị Việt Nam.


Tư tưởng của Mao


Khoảng 1964, Ðặng Thai Mai, giáo sư văn chương ở Ðại Học Hà Nội, cho đăng ở trang nhứt báo Văn Nghệ một bài ca ngợi “Thơ và Từ” bất hủ của Mao chủ tịch. Ông viết:


“Tính tư tưởng và tính nghệ thuật trong Thơ và Từ của Mao chủ tịch.


Trong tập Thơ và Từ, chúng ta có thể nhìn thấy một người anh hùng kiểu mới, người anh hùng của giai cấp vô sản, người anh hùng lý tưởng của thời đại chúng ta.


Ðọc xong tập Thơ và Từ của Mao chủ tịch, chúng ta có lý do để mà nghĩ rằng: Phải là con người vĩ đại mới có thể viết được văn chương thật sự vĩ đại, vì một tác phẩm văn chương vĩ đại bao giờ cũng biểu hiện một cá tính vĩ đại.”


Ðặng Thai Mai khám phá ở Mao có tới 3 thứ “anh hùng vĩ đại” nên phải bày tỏ lòng sùng bái. Hơn nữa, ông sùng bái để còn vớt vát cho ông con rể Ðại Tướng Võ Nguyễn Giáp nữa.


Mời đọc bài Núi Côn Lôn của Mao để thấy tư tưởng “vĩ đại” của ông (Thơ và Từ của Mao chủ tịch, Văn học, Hà Nội, 1966, trg 7-30 và 96-97).


Núi Côn Lôn


Mà nay ta bảo Côn Lôn:
Không cần quá cao, không cần bấy nhiêu tuyết.
Sao tựa được trời, rút bảo kiếm,
Ðem ngươi chặt làm ba khúc,
Một gửi Châu Âu,
Một tặng Châu Mỹ,
Một trả về Ðông quốc.


Phải chăng Mao muốn chia thiên hạ làm 3, không để cho 2 siêu cường Nga-Mỹ tranh hùng thế giới một mình? Mao chia phần Nga thống trị toàn thể Châu Âu, biếu không Trung Nam Mỹ, kể cả Cu Ba, cho Huê Kỳ. Châu Á phải của Mao.


Châu Á được Mao trong bài thơ gọi là “Ðông quốc.” Tại sao là “Ðông Quốc” mà không gọi đúng như tên gọi xưa nay “Á Ðông”? Phải chăng Mao có chủ ý trong mưu đồ của ông ta? Và “Ðông” trong “Ðông quốc” có thể được hiểu rõ hơn. Ðó là nước của Mao Trạnh Ðông theo cái nhìn đầy tham vọng của Mao. Những người chủ trương theo Mao Trạch Ðông, tưởng cũng nên biết qua Mao vốn là một con người tàn ác vĩ đại và ngông cuồng tham vọng.


Mao khi dễ Tần Thủy Hoàng không có gì siêu quần. Y chỉ chôn 460 nho sĩ; còn chúng tôi, chúng tôi chôn 46,000 người (M.H.Bernard, Mao Tsé-toung, 1893-1976, VOIX, Paris 2003).


Tất cả phe Cộng Sản phải là “một chậu nước lớn, nhưng đã ngầu đục, bị Mao lắc cho nổi sóng cuộn gió, và bên trong chậu đó, các anh hùng hảo hán, các kẻ vệ đạo nghiêng ngửa hò hét hủy diệt nhau.”


Ðến 1963, bị ba bề Tây Tạng, Ấn Ðộ, Ðài Loan áp lực mạnh, Bắc Kinh cần làm chiến tranh ở Việt nam để bắt Mỹ phải đem quân vào can thiệp, tạo nên “cuộc đại loạn toàn thiên hạ cho Trung Quốc được nhờ!”


Quả thật Bắc Kinh đã góp phần làm tan phe Cộng Sản và chấm dứt Chiến Tranh Lạnh. Nhưng mà tốn máu Việt Nam quá nhiều mà lại không cho Việt Nam! (Ðèn Cù, trang 215).


Mao không muốn gởi quân lính Tàu qua tham chiến ở Ðông Dương, vì Mao cho rằng một đại cường quốc như Trung Quốc không nên vi phạm hiệp định quốc tế như Hiệp Ðịnh Genève 1954, Hiệp Ðịnh Paris 1973? Một nước nhược tiểu Cộng Sản chậm tiến như Việt Nam thì có thể xóa bỏ bất cứ hiệp định nào!


Cái chết đột ngột của Nguyễn Chí Thanh


Tháng 6, 1967, Mao hạ Lưu Thiếu Kỳ, Ðặng Tiểu Bình, gần hết Bộ Chính Trị cùng 11 vị nguyên soái, thì ở Hà Nội, bất ngờ xảy ra cái chết của Tướng Nguyễn Chí Thanh sau bữa cơm tối hôm 6 tháng 7, 1967 do Võ Nguyên Giáp mời, trước hôm Thanh đáp máy bay qua Cao Miên để về Cục R.


Cái chết đột ngột của Tướng Nguyễn Chí Thanh thuộc phe thân Tàu không tránh khỏi gieo nghi ngờ ở nhiều người ở Hà Nội. Người ta bàn tán nhiều hơn khi đọc được lời phân ưu của Mao “Xin các đồng chí chớ đau buồn nhiều.” Tại sao có lời chia buồn kỳ lạ như vậy? Hay đó là một thông điệp gởi cho phe “xét lại chống đảng” ngụ ý hăm dọa phục thù?


Mao Trạch Ðông còn đích thân đến Tòa Ðại Sứ Hà Nội ở Bắc Kinh phúng điếu, điều mà Mao không làm khi Hồ Chí Minh chết. Mao muốn biểu lộ sự nghi ngờ và nhấn mạnh ý thầm kín của Mao về cái chết của Thanh?


Nguyễn Chí Thanh chết mồng 6 tháng 7, 1967, thì 28 tháng 7, 1967, Lê Duẩn cho bắt bốn đảng viên xét lại đầu tiên, trong đó có Hoàng Minh Chính, Hoàng Thế Dũng, Phạm Viết, Trần Châu. Tháng 9, 1967, Giáp thình lình đi Bratislava “dưỡng bệnh.” Lê Ðức Thọ vào Quân Ủy Trung Ương, thế lực Thọ hùng mạnh lên nhiều.


Trong vòng 6 tháng người ta dọn sạch các trợ lý đắc lực của Giáp. Nhưng rồi Tết Mậu Thân thua thiệt, cần đến Giáp, người ta lại đành để cho Giáp về nước (Ðèn Cù, trg 319).


Hồ Chí Minh cũng điêu đứng vì cũng bị liên can. Theo Lê Xuân Ðức, “Ði tìm xuất xứ thơ Hồ Chí Minh” (NXB Văn Học, Hà Nội 2012, trang 224), Bác chấp hành nghiêm chỉnh quyết định của Bộ Chính Trị, hàng năm đi nghỉ và chữa bệnh ở Bắc Kinh. Lần này, bác đi từ ngày 5 tháng 9, 1967 đến ngày 22 tháng 4, 1968!


Gần 7 tháng! Lê Duẩn không cho Hồ Chí Minh tham dự cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968 vĩ đại của Lê Duẩn!


Trần Ðĩnh nhận xét một hôm ấy máy bay Mỹ ầm ầm bay qua, rất thấp. Có lẽ dòm xem các băng-rôn lính Trung Quốc căng trắng sườn đồi: “Kháng Mỹ viện Việt. Ðả đảo đế quốc Mỹ.”


Lê Duẩn bắt đầu thử đẩy mạnh chiến tranh giải phóng miền Nam. Thừa cơ hội hưu chiến Tết Mậu Thân, miền Nam lo đón Tết, Lê Duẩn ra lệnh tổng công kích các yếu điểm trên toàn miền Nam, tin tưởng dân chúng sẽ hưởng ứng nổi dậy. Nhưng cuộc tổng công kích bị quân lực miền Nam đẩy lui, gây tổn thất nặng nề cho phía Hà Nội. Theo nhà kinh tế học Võ Nhân Trí ở Pháp về Hà Nội làm việc từ năm 1960, thì Võ Nguyên Giáp phê phán lén cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968 của Lê Duẩn là “thắng lợi tơi bời”!


Lúc mở tổng công kích miền Nam, Hà Nội gần như bỏ ngỏ vì đã đưa gần hết chủ lực vào miền Nam. Sợ Mỹ có thể trả đũa, Hà Nội nhờ quân chí nguyện Trung Quốc vốn luôn luôn đóng chực ở biên giới sẵn sàng can thiệp cho Hà Nội theo thỏa ước từ đầu của cả hai bên. Nhưng muốn được như vậy, Hà Nội phải có thế chấp lớn nộp gấp Bắc Kinh. Vụ án xét lại ra đời! Tháng 2, 1968 đánh, tháng 7, 1967, Lê Duẩn cho hốt đợt đầu tiên những người có tư tưởng chống lại chủ trương đánh chiếm gấp miền Nam (Ðèn Cù, trang 318).


Từ nay, Lê Duẩn một mình làm vua một cõi, chỉ cần chấp hành mệnh lệnh thiên triều.


Tóm lược


Trần Ðĩnh viết Ðèn Cù với một sự thành thật của một đảng viên kỳ cựu phản tĩnh sau thời gian dài sống với đất nước, sau 30 tháng 4, 1975, gặp lại gia đình ở Sài Gòn. Ông cũng chứng kiến những trường hợp vỡ mộng của những người trước kia từng hăng say xẻ dọc Trường Sơn xâm nhập vào Nam đánh cho Mỹ cút, Ngụy nhào để đem lại ấm no cho bà con trong Nam. Nay họ lại mong Mỹ thả bom cho tan hoang hết. Cái uất hận của người dân từng theo Cộng Sản nay tỉnh ngộ đã trào dâng tột cùng của sức chịu đựng. Còn người dân trong Nam, khi cái đảng của Trần Ðĩnh tới thì họ chấp nhận thân phận “một con nuôi má, hai con nuôi cá, ba má nuôi con!” Số phận bi thảm này có tới hằng triệu người, đủ mọi thành phần xã hội.


Trần Ðĩnh nhận diện được cái ác của chế độ. Nhưng ông nhận diện bằng cặp mắt tranh chấp phe cánh của một đảng viên “cộng sản khoa học yêu chuộng hòa bình,” chớ chưa bằng cái tâm trong sáng thuần túy của con người Việt Nam! Thỉnh thoảng ông vẫn còn ray rứt vì chuyện ông bị đuổi ra khỏi đảng. Ray rứt chính với lương tâm của ông bởi khi vào đảng, ông đã long trọng đưa cao tay trái lên thề “suốt đời trung thành với đảng.” Người đảng viên phải biết bỏ tất cả để chỉ còn giữ đảng trong trái tim của mình mà thôi. Nay bị khai trừ thì làm sao ông trung thành như đã thề được nữa? Trong Ðèn Cù, nhiều lần ông viết “ông cảm thấy khá xấu hổ vì bị đảng khai trừ.” Nhưng ông cũng bảo vết thương đó lành lặn khá nhanh nhờ ông “không bịa đặt..”


Trong việc thanh toán nhau về tội xét lại chống đảng, ông đã không bị bản án tù như những người khác mà chỉ bị hạ từng công tác, từ nhà báo xuống làm lao động nhà in. Nhờ ông du học ở Tàu, có vợ Tàu và từng được những “voi già” ưu ái? Ðây cũng là một ưu điểm hơn nhiều người khác.


Trong Ðèn Cù, điểm nổi cộm là Lê Duẩn và Nguyễn Chí Thanh theo Mao Trạch Ðông đánh chiếm miền Nam cho Tàu “Thiên hạ loạn, Trung Quốc nhờ” nên ngày nay Việt Nam lệ thuộc Tàu bắt nguồn từ đó. Và Tàu tiến lần làm chủ biển Ðông. Riêng Lê Duẩn theo Mao, đánh giặc cho Mao, để được Mao cho thay thế Hồ Chí Minh. Hai con bài của Mao là Lê Duẩn về chánh trị, Nguyễn Chí Thanh về quân sự. Nhưng chẳng may, Nguyễn Chí Thanh chết sớm đã làm cho Mao tức giận.


Ðảng Cộng Sản tranh chấp nhau, giết nhau, chỉ vì phe phái đi theo hoặc Tàu, hoặc Liên Xô. Chưa có một ngày, đảng Cộng Sản này theo Việt Nam.


Việt Nam bất hạnh có Hồ Chí Minh, một thứ sách động (agit-prop), vì tham vọng phục hận thời trẻ của mình mà đem cái Cộng Sản về Việt Nam. Bất hạnh hơn là có một số người vô minh đi theo, một số khác không thể làm gì khác hơn là làm cách mạng Cộng Sản nên có hơn mười triệu người dân đã ngã gục cho sự nghiệp tàn phá đất nước của Hồ Chí Minh và cái đảng của ông để ngày nay nước mất cho Tàu.


Giết hại văn nghệ sĩ, trí thức trong vụ nhân Văn Giai Phẩm, giết hại nông dân, cả gia đình, tại hiện trường và kéo dài về sau, có cả nửa triệu, làm mất sự sản xuất xã hội trong mấy năm liền. Tất cả đều do Mao chỉ huy từ Bắc Kinh.


Phải chi trước kia, thực dân Pháp đã sáng suốt thấy được chơn tướng tay sai trung kiên của Hồ Chí Minh mà nhận ông vào học trường thuộc địa thì chắc chắn Việt Nam đã có giải pháp chánh trị đem lại độc lập trước 1975, không bị nạn Cộng Sản như ngày nay.


Năm 2012, người ngoài cuộc, Tiến Sĩ Nguyễn Thị Liên Hằng trong quyển “Cuộc chiến tranh của Hà Nội,” viết: “Lê Duẩn và Lê Ðức Thọ đã chọn con đường phát động chiến tranh (cho Tàu). Trong nội bộ đảng đàn áp, loại khỏi quyền lực những ai phản đối đường lối theo Tàu…” (Ðèn Cù, trg 557).


Quyển Ðèn Cù, với những thông tin chi tiết, rất có ích cho độc giả, nhứt là độc giả trong nước. Có nhiều người cho rằng tác giả cũng chỉ nói lại những điều được biết qua rồi. Thật ra, có nhiều chuyện phần lớn độc giả chưa biết hoặc biết chưa rõ. Nhưng dù có biết qua đi nữa, đọc Ðèn Cù để những điều đã biết được xác nhận thêm bởi người trong cuộc thân cận thâm cung như quan thái giám và nhờ ở sự thành thật của ông.


Nếu hỏi Trần Ðĩnh viết Ðèn Cù phơi bày những chuyện “thâm cung bí sử” của đảng, nhứt là tố cáo rõ ràng đảng Cộng Sản Hà Nội theo Tàu, lệ thuốc Tàu từ đầu thập niên 50 của thế kỷ trước cho tới ngày nay mà sao ông vẫn an nhiên sống ở Việt Nam? Mà mai kia, có thể ông sẽ ra chơi ngoại quốc, ký tên sách cho độc giả? Tôi nghĩ những điều Trần Ðĩnh nói đều phù hợp với đường lối của đảng Cộng Sản Hà Nội hiện nay. Tức ý muốn nói ông không làm gì khác hơn là công khai và xác nhận thực tế chánh trị của Việt Nam. Ðồng thời ông cũng xúc phạm đến thần tượng Hồ Chí Minh? Nên nhớ người Hy Lạp thờ thần và giữ nhiều huyền thoại nhưng họ không tin thần và huyền thoại. Ðảng Cộng Sản Hà Nội thờ thần tượng Hồ Chí Minh và giữ đảng Cộng Sản nhưng chỉ tin Thần Tài và sức mạnh tham nhũng.


Mong cuốn tiếp theo Ðèn Cù II sẽ đem lại cho đông đảo độc giả sự hài lòng nhiều hơn.


Và cũng mong Việt Nam hiện nay sẽ có thêm nhiều Trần Ðĩnh khác và nhiều Ðèn Cù khác.

play-rounded-fill

MỚI CẬP NHẬT