Cá lóc nướng trui phải là cá lóc đồng chứ không thể là cá nuôi. Bởi cá nuôi ăn toàn thức ăn nhanh, thức ăn Trung Quốc và thịt của nó không những không thơm mà còn bở, rất khó chịu. Trong khi đó, một con cá lóc đồng lớn lên giữa đồng ruộng miên man hương đồng Tháng Ba, nắng Tháng Bảy và mưa giông Tháng Tám, mọi tinh khí đất trời vùng vẫy trong nó. Đương nhiên là nó sẽ đặc biệt.
Khi lửa rơm đốt lên, mùi khói rạ đất đồng sẽ lặm vào thịt da của con cá lóc đồng. Một chút muối sống giã với ớt xanh, vài lát khế chua, vài lát chuối chát và rau thơm. Con cá còn nóng hổi, dùng đũa xỉa một chút thịt, chấm một chút muối ớt xanh và gắp một ít rau. Không còn là thức ăn đơn thuần, mà là đang lĩnh hội bài học của tự nhiên về lòng thơm thảo của trời đất, và cả tình đất tình người trong cái khôn, cái sáng tạo của tổ tiên thời khai hoang lập ấp…
Sở dĩ phải nói món cá lóc đồng nướng trui bằng giọng điệu có chút gì đó quá nghiêm trọng và thiêng liêng như vậy bởi vì thứ này còn trên cả thiêng liêng khi nó đang dần mất đi. Và với một đất nước có nền văn minh lúa nước, mùi hương đồng nội bị đánh tráo cũng đồng nghĩa với việc mất đi cội nguồn từ vô thức. Và thứ bị đánh cắp đầu tiên là khẩu vị của thế hệ tương lai. Thử hỏi, làm sao để một người trẻ tìm thấy vị gốc của cá lóc đồng nướng trui, nói thì nghe có vẻ dễ ợt nhưng thực ra thì rất khó!
Nhớ lúc ngồi trên chiếc xe hơi cổ của nhà văn Đào Hiếu, ông chở đi lòng vòng thành phố Sài Gòn, số kilomet đã lên cả vài chục cây mà ông vẫn chưa cho bãi đáp. Cuối cùng ông chở vợ chồng tôi vào một khu du lịch bên bờ sông Sài Gòn mà lúc đó tôi quên để ý tên của nó là gì. Chỉ nhớ ông nói câu này: “Anh thì không quan tâm đến ăn nhậu cho lắm. Nhưng nếu đã đi thì cũng nên kiếm chỗ nào có uy tín một chút. Cá lóc ở đây khá là ngon bởi họ nướng trui đúng lửa rơm và đúng là cá lóc đồng.”

Vào nhà hàng, ngồi trong một cái chòi thiết kế nổi trên mặt nước, gió sông lồng lộng, nghe ông kể chuyện đời, chuyện người và chuyện các cô nàng đi qua đời ông. Chuyện nào cũng li kì và đầy chất bi tráng của một người lính cầm bút. Đương nhiên, chuyện đời mà ông trải đều là những chuyện buồn, chuyện ông chứng kiến và ông chỉ còn biết lắc đầu, thở dài trước thế sự. Tuy ông không tỏ ra khinh bỉ những kẻ đang ngồi trên ghế quyền lực nhưng cách kể chuyện và đưa ra những dẫn chứng của ông cho thấy ông đau chung nỗi đau của những người thấp cổ bé miệng trong câu chuyện và nếu có thể, ông sẽ chẳng tha thứ cho những kẻ đã phản bội lại tuổi trẻ và phản bội lại sự thật thà của đồng loại.
Nhưng có vẻ như, thứ chi phối cuộc đời Đào Hiếu nhiều nhất vẫn là những mối tình. Những mối tình trong veo tựa như nước mắt, đôi khi thoáng qua cuộc đời ông trong chốc lát để rồi ông xuýt xoa khen nó đẹp, và viết. Viết như một cách để bày tỏ sự biết ơn đối với tình yêu và lòng tốt còn sót lại đâu đó trên mặt đất này.
Các P. (ông tiết lộ là cuộc đời ông cứ lụy những cô tên P.) của ông có cuộc đời ngang trái, éo le hoặc đôi khi rất trẻ con và bồng bột. Phần lớn họ vấp phải những vố rất đau trong cuộc đời và tưởng như khó mà gượng dậy. Hình như là ông yêu nỗi đau của họ nhiều hơn bản thân họ. Chính vì vậy mà trong câu chuyện kể của ông, hình ảnh của họ lung linh, đẹp tựa như ở một cõi nào đó không phải là cõi người ta với chộn rộn cơm áo và thủ đoạn. Ông kể những mối tình của ông trong ánh sáng của lòng người phồn thịnh và mặt đất băng giá bởi thiếu vắng tình yêu cộng đồng, cặp đôi yêu đương trong câu chuyện kể của ông lẻ loi và quạnh quẽ lạ thường. Cái đẹp của tình yêu đi qua đời ông là cái đẹp của sự chịu đựng nỗi cô đơn của chính mình và của thế giới ban cho.

Có thể nói rằng ngồi với Đào Hiếu, người ta dễ bắt gặp một cõi đa tình và thấy mình mềm ra, nhẹ nhàng hơn với đời sống, dễ yêu hơn và có thể yêu bất chợt sau một cái nhìn đôi khi kiêu mãnh và tinh ranh. Ông chỉ yêu và yêu. Tình yêu của ông tràn trề và sủi bọt trong ly bia, thơm tho trong lát cá lóc nướng trui mà ông gắp mời vợ chồng tôi. Nhẹ nhàng, mọi thứ với người từng vào ra trận mạc này nghe có vẻ rất nhẹ nhàng và đáng yêu.
Đôi khi tôi ví tình yêu của ông chân thật và thơm tho như chính mùi thơm của cá lóc đồng nướng trên lửa rơm chấm muối ớt xanh. Nó không màu mè nhưng lại đậm chất gốc, mang dáng dấp bản thể, phơi bày căn tính không cần giấu diếm. Một con cá lóc đồng nướng trên ngọn lửa rơm cháy sem sém ngoài da. Một ít nước mắm gừng hoặc muối ớt xanh, rau cải xanh, xà lách, tía tô, rau quế và vài cọng hành ngò, vái lát khế chua, vài lát chuối chát, dưa leo. Nếu kỹ hơn một chút thì có một xấp bánh tráng Trảng Bàng phơi sương. Việc còn lại là cuốn bánh tráng rau, cho một ít cá lóc nướng trui vào giữa và chấm nước mắm ớt gừng…
Mời độc giả xem Điểm tin buổi sáng Thứ Tư, ngày 13 tháng 12 năm 2016
Tình yêu cũng vậy, đôi khi nó trần trụi nhưng phải thật và nhuần nhụy, cắn vào một miếng tình yêu là nhớ cả đời, khó phai. Cái hay của các lóc nướng trui cũng vậy, nếu là đúng cá lóc đồng nướng trui với lửa rơm, chỉ cần cắn một miếng chấm mắm gừng, nhấp một ngụm bia và ngồi ngắm buổi chiều. Điều đó hoàn toàn cho cảm giác thanh và nhẹ, không hề tục lụy nhậu nhẹt chút nào. Nhưng nó cũng ngon!
Chiều Đông, bà xã nhờ tôi kiếm ít rơm để nướng cá lóc. Nhìn món cá lóc đồng nướng trui chấm mắm gừng, bày trên lá sen mà nàng vừa hái… Tự dưng lại nhớ tới nhà văn Đào Hiếu và cả nhớ Sài Gòn! Nghiệt nỗi, trời lụt kiểu này tìm đâu ra lá sen và rơm khô đây!

















































































